Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản và đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản 1. Các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản * Mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan: trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn lén lút, lợi dụng sơ hở của người bị hai. Hành vi lén lút của tội phạm là lén lút đối với việc chiếm đoạt tài sản, có thể tội phạm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trước mặt nhiều người nhưng người đó không biết được đó là hành vi trộm cắp tài sản (Ví dụ như: lợi dụng lúc cả nhà anh B đi về quê, không có người ở nhà, A cạy cửa nhà anh B, ngang nhiên vào nhà lấy tài sản trước sự chứng kiến của nhiều người nhưng họ không hay biết A đang chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp của nhà người khác mà đều nghĩ A là người thân của gia đình anh B).
Cũng có thể người phạm tội thực hiện hành vi lén lút với người bị hại nhưng công khai với người khác (như: hành vi móc túi nơi công cộng) Hậu quả: hậu quả của tội phạm này là gây thiệt hại về tài sản cho người bị hại. Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội trộm cắp tài sản. Nếu một người có ý định trộm cắp tài sản của người khác nhưng chưa thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản mà bị phát hiện thì chưa cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, người phạm tội đã có hành vi chuyển tài sản ra khỏi vị trí ban đầu của nó thì sẽ bị truy tố về tội trộm cắp tài sản dù mục đích chiếm đoạt tài sản có đạt được hay không (Ví dụ: Y lén vào nhà A trộm cắp tài sản, nhưng chưa kịp đem số tài sản ra khỏi nhà A thì bị phát hiện.
Trường hợp này Y đã phạm tội 6 trộm cắp tài sản, nếu Y bị phát hiện trước khi lấy tài sản thì mới không phạm tội). * Mặt chủ quan của tội phạm Tội trộm cắp tài sản được người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý. Mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp, người đồng phạm với người trộm cắp tài sản nhưng không có mục đích chiếm đoạt tài sản mà không cấu thành tội khác thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản (Ví dụ: A ghét B nên xúi giục C trộm tài sản của B.
Trường hợp này mặc dù A không có mục đích chiếm đoạt tài sản của B nhưng A vẫn bị truy cứu về tội trộm cắp tài sản với vai trò đồng phạm. * Khách thể của tội phạm Khách thể trực tiếp của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu, cụ thể là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ tài sản đối với tài sản bị trộm cắp. Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản. Tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền về tài sản.
Vật là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải thoả mãn 3 điều kiện: Thứ nhất, phải là sản phẩm lao động của con người; thứ hai, không có tính chất và công dụng đặc biệt; thứ ba, chưa bị chủ tài sản huỷ bỏ. Tiền luôn là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản. Giấy tờ có giá chỉ là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu khi nó vô danh. Quyền về tài sản không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản.
* Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS. Theo quy định tại Điều 12, Điều 173 Bộ luật Hình sự hiện hành thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình 7 sự về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3, 4 Điều 173 Bộ luật hình sự; đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên thì phải chịu trách nhiệm hình sự đối với cả những hành vi thuộc khoản 1,2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản có các đặc điểm sau: Thứ nhất, là một dạng đặc biệt của áp dụng pháp luật, khi nhà nước áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất đối với người phạm tội. Áp dụng pháp luật là hình thức đặc thù luôn có sự tham gia của Nhà nước, thông qua các cơ quan hoặc người có thẩm quyền.
ADPL là hình thức thực hiện pháp luật diễn ra trong hoạt động hành pháp và tư pháp của Nhà nước. Áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị ADPL. Sự áp dụng này có tính bắt buộc đối với chủ thể bị ADPL, được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước. Ví dụ công dân B đủ dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) thì thẩm phán phải áp dụng hình phạt tương xứng được quy định tại Điều luật này, không được phép xử cao hơn hay thấp hơn.
Thứ hai, là sự điều chỉnh cá biệt các quan hệ xã hội khi có hành vi trộm cắp tài sản xảy ra. Đối tượng của hoạt động ADPL là những quan hệ cần đến sự điều chỉnh cá biệt trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật. Bằng hoạt động ADPL những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt hoá vào những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội. Ví dụ: A trộm cắp tài sản 8 của B, thì thông qua quá trình điều tra, truy tố xét xử các cơ quan ADPL căn cứ vào Bộ luật hình sự để áp dụng định tội danh tội trộm cắp tài sản và mức hình phạt tương xứng đối với A.
Thứ ba, là khi có phát sinh quan hệ pháp luật hình sự. Quan hệ pháp luật hình sự phát sinh khi đảm bảo hai chủ thể với những địa vị pháp lý khác nhau là Nhà nước và người phạm tội. Căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự là hành vi phạm tội đã diễn ra trong thực tế và thời điểm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự là khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt hoặc bất kỳ biện pháp nào của mà Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội; hoặc người phạm tội chết. Cụ thể, đối với tội trộm cắp tài sản thì quan hệ pháp luật hình sự phát sinh khi hành vi trộm tài cắp tài sản diễn ra trong thực tế và thời điểm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự là người phạm tội trộm cắp tài sản chấp hành xong hình phạt hoặc các biệp pháp khác của Nhà nước áp dụng với người phạm tội trộm cắp tài sản.
Thứ tư, thủ tục tiến hành chặt chẽ theo quy định của bộ luật TTHS Điều này có nghĩa là việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sàn không thể tiến hành một cách tùy tiện mà phải diễn ra trên cơ sở, trong những điều kiện và theo những thủ tục nhất định do pháp luật quy định, đó là thủ tục TTHS. Cuối cùng, chủ thể áp dụng là các cơ quan tiến hành TTHS Pháp luật quy định mỗi loại cơ quan nhà nước nhất định được tiến hành hoạt động ADPL nhất định. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản và những cơ quan này còn được biết đến là các cơ quan tiến hành TTHS đối với loại tội này nếu như xem xét hoạt động áp dụng pháp luật hình 9 sự là một quá trình từ khi bắt đầu đến khi ra được văn bản áp dụng pháp luật hình sự. Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản 1.
Định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm, đặc điểm định tội danh tội trộm cắp tài sản Theo GS.TS Võ Khánh Vinh “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [66, tr. Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội phạm có tên tội danh là “Tội trộm cắp tài sản”, do đó dựa trên khái niệm định tội danh mà GS.TS Võ Khánh Vinh đã xây dựng, chúng ta có thể đưa ra khái niệm định tội danh tội trộm cắp tài sản như sau: Định tội danh tội trộm cắp tài sản là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 173 BLHS. - Đặc điểm định tội danh tội trộm cắp tài sản Định tội danh tội trộm cắp tài sản là một trường hợp định tội danh cụ thể, vì vậy nó có đặc điểm của định tội danh: [66, tr.10] Thứ nhất, định tội danh tội trộm cắp tài sản là một quá trình lôgic nhất định, là hoạt động xác nhận và ghi nhận sự phù hợp của trường hợp phạm tội cụ thể với các dấu hiệu của cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS.
Thứ hai, định tội danh tội trộm cắp tài sản là việc đánh giá nhất định về mặt pháp lý đối với hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản nguy hiểm cho xã hội.