Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây hoa chuông 1.1 Nguồn gốc và phân bố Cây hoa chuông được phát hiện đầu tiên ở vùng rừng nhiệt đới Brazil vào năm 1785. Năm 1815, hoa chuông được trồng ở Anh. Hau hết các loài của Sinningia sống chủ yếu ở khu vực rừng nhiệt đới Brazil Nam Mỹ. Một số giống hoa chuông hiện nay là kết qua của sự lai tạo từ hai loại hoa của Brazil là Sinningia speciosa và Siningia maxima do những người làm vườn Scotland thực hiện vào thé kỷ XIX.
Các giống hoa chuông hoang dại đầu tiên được phát hiện ở Brazil có sự đa dạng về màu sắc, kích thước và hình dáng hoa. Thông qua quá trình lai tạo và chọn lọc, các giống hoa chuông hiện nay có nhiều ưu điểm để phù hợp với thị hiếu của người chơi hoa (Lã Thị Thu Hằng, 2015).2 Phân loại thực vật Cây hoa chuông (Sinningia speciosa hay Gloxinia specoisa), thuộc bộ hoa môi (Lamiales), ho tai voi (Gesneriaceae), chi hoa chuông (Sinningia), loài Sinningia speciosa hay Gloxinia speciosa. Hoa chuông là hoa mới được nhập nội vào nước ta trong những năm gần đây. Ở Việt Nam, hoa chuông có nhiều tên gọi khác nhau như hoa tình yêu (Valentine), tử la lan, mdm chó biển, hồng xiêm (Trần Diễm Mi, 2015).3 Đặc điểm thực vật học Theo Lê Thị Ngọc (2013), cây hoa chuông có đặc điểm thực vật học như sau: Rễ cây hoa chuông thuộc loại rễ chùm, phần lớn phát triển theo chiều ngang, ở tang đất mặt từ 10 — 20 cm.
Kích thước các rễ trong bộ rễ chênh lệch nhau không nhiều, số rễ tương đối nhiều nên khả năng hút nước và đinh dưỡng của cây rất mạnh. Rễ phát sinh từ mầm rễ của hạt, từ củ, thân, cuống lá và những cơ quan sinh dưỡng 3 tiếp xúc trực tiếp với đất. Vì vậy, hoa chuông rất thích hợp trồng trên các loại giá thể tới xốp, điều chỉnh thành phân dinh dưỡng phù hợp đề kích thích bộ rễ phát triển. Thân cây hoa chuông thuộc dạng thân thảo có nhiều đốt giòn dễ gãy, lá mọc ra ở những vị trí đốt thân ngầm, có lóng bị rút ngắn nên nhiều lá kết cụm lại rậm rạp, chiều cao cây khoảng 12 — 15 cm.
Tan lá tản ra có đường kính khoảng 22 — 33 cm. Cây hoa chuông có dạng thân củ. Lá hình oval, mọc đối xứng từng cặp xen kẽ nhau, xếp theo kiểu xoắn ốc có lông nhung mềm mượt bao phủ, mặt dưới lá thường hơi đỏ, mặt trên lá thường xanh đậm, mép lá có dạng khía răng cưa. Cây có ít lá, mặt trên lá bao phủ một lớp lông tơ mượt như nhung, mặt dưới nhẫn, gân lá hình mạng, trung bình một chu kỳ sinh trưởng của cây có từ 5 — 18 lá trên thân chính.
Lá góp phần làm tăng giá trị thẩm mỹ của hoa và là cơ quan sinh dưỡng có thê sử dụng làm vật liệu để nhân giống vô tính. Hoa có hình chuông, cánh mượt như nhung và viền cánh hoa có viền gợn sóng. Màu sắc hoa rất phong phú: đỏ, trắng, hồng, đỏ viền trắng, xanh, tím viền trắng, tím cho đến tim sam. Cánh hoa đơn hoặc kép, các cánh xếp xen kẽ nha.
Hoa mọc đơn lẻ hoặc mọc thành chùm. Hoa chuông là hoa lưỡng tính, cấu tạo hoa gồm các bộ phận: đài hoa, cánh hoa, nhị hoa và noãn, có hai cặp nhi so le nhau, trong đó có một nhị lép đính trên tràng hoa, các bao phấn dính nhau thành từng cặp, có một nhụy hoa, vòi nhụy mảnh mai, núm nhụy chia thành hai thùy. Ngoài ra, còn có một túi mật thu hút côn trùng (ong, kiến) và động vật nhỏ (chim, rudi) làm tăng khả năng thụ phan hoa. Vì vậy, hoa chuông có thể đáp ứng được sự đa dạng về thị hiếu, sở thích của người chơi hoa.
Ngoài ra, cau tao hoa rất phù hợp dé lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống mới, có mảu sắc và dáng hoa khác nhau. Giống hoa chuông trồng trong thí nghiệm có màu đỏ viền trắng được thị trường ưa chuộng, thời gian sinh trưởng , phát triển ngăn; chiều cao cây trung bình từ (6 — 8 cm); đường kính hoa trung bình (4 — 5 cm); màu sắc hoa hài hòa, ưa nhìn.4 Yêu cầu ngoại cảnh Theo Lê Thi Ngọc (2013), điều kiện ngoại cảnh bao gồm các yêu tố 1.1 Nhiệt độ Hoa chuông là loài cây thích mát mẻ, nhiệt độ từ 18 — 24°C là thích hợp cho sự tăng trưởng của cây. Trong giai đoạn ra hoa, nhiệt độ lạnh hơn 16 — 18°C sẽ kéo dài thời gian ra hoa. Nhiệt độ 7 — 15°C cây sẽ chuyển sang giai đoạn ngủ đông.
Khi nhiệt độ tăng cao hon 25°C cần giữ 4m cho cây bằng cách phun sương, không phun trực tiếp vào cây dễ gây nắm bệnh, phun sương phần không gian phía trên tán lá. Vì nhu cầu ẩm độ cao và liên tục, nên rải một lớp đá trân châu dé giữ âm, ngăn cản sự bay hơi.2 Anh sáng Cây hoa chuông không cần nhiều ánh sáng và không thích hợp ánh sáng trực tiếp. Ánh sáng trực tiếp sẽ làm cháy lá, trong thời kỳ nghỉ thì cây không cần ánh sáng. Quang kỳ thích hợp dé cây hoa chuông sinh trưởng và phát triển là 12 — 16 giờ chiếu sáng mỗi ngày.
Cường độ ánh sáng thấp (270 lux), mức ánh sáng từ 0,5 — 1,1 Klux hoặc cao hơn khuyến cáo đề cây phát triển số lượng nụ, hoa tốt hơn (Lã Thị Thu Hằng, 2015). Cây hoa chuông phát triển tốt trong điều kiện thoáng mát (khoảng 50% ánh sáng). Hoa chuông không quá khó để chăm sóc, cây cần lượng ánh sáng đầy đủ, ánh sáng mặt trời trực tiếp nhưng dịu nhẹ. Khi trồng trong nha, chọn một vi trí gần cửa số hướng đông dé cây có thê nhận ánh sáng mặt trời vào buổi sáng thì rất lý tưởng.
Có thé thay thế ánh sáng mặt trời bằng ánh sáng đèn huỳnh quang, cây thích được chiếu sáng khoảng 14 — 16 giờ mỗi ngày với lượng ánh sáng này. Trong sản xuất có thể điều chỉnh thời gian và cường độ chiếu sáng cho cây hoa chuông bằng cách dùng lưới đen che nang, thắp đèn dé điều chỉnh sinh trưởng, phát triển của cây, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.3 Đất Hoa chuông là cây trồng cạn, bộ rễ ăn nông. Vì vậy, yêu cầu đất trồng phải cao ráo, thoát nước tốt, tới xốp và nhiều mun, thích hợp với đất có pH từ 5,8 — 7,5. Dat trồng tốt cho cây hoa chuông phải đảm bảo cung cấp chất hữu cơ, hàm lượng các chất dinh dưỡng cây cần trong quá trình sinh trưởng phát triển.4 Âm độ và nước tưới Hoa chuông là cây trồng cạn nên không chịu được ngập úng.
Tuy nhiên, do cây có sinh khối, bộ lá to nên cần nhiều nước, chịu hạn kém. Cây hoa chuông sinh trưởng, phát triển thuận lợi trong điều kiện ẩm độ dat từ 65 — 80%, độ âm không khí từ 60 — 75%. Trong thời kỳ nở hoa nêu âm độ quá cao gây thối hoa và sâu bệnh phát triển mạnh làm giảm chất lượng hoa và độ bền của hoa. Cây bị úng trong giai đoạn ra hoa thì các núm hoa bị rụng và có thê gây chết.
Khi cây ở giai đoạn ngủ nghỉ, giảm lượng nước tưới cho cây. Bảo quản củ trong giai đoạn ngủ nghỉ ở điều kiện mát mẻ nhưng phải khô ráo. Khi trồng nên sử dụng chậu thoáng và thoát nước tốt. Tưới nước mỗi ngày phụ thuộc vào cường độ ánh sáng và nhiệt độ.
Nên tưới vào lúc sáng sớm, tưới nước xung quanh gốc cây, không tưới quá đẫm vì cây dễ bị thối và nhiễm bệnh. Thiếu nước cây sinh trưởng kém, rút ngắn chu kỳ sinh trưởng. Nhiệt độ và độ ẩm tại Trung tâm Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ Cao tỉnh Đồng tháp từ tháng 2/2023 đến tháng 5/2023 tương đối gây bat lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của cây hoa chuông. Tuy nhiên, trong quá trình chăm sóc đã tiến hành áp dụng các biện pháp đề cập ở mục 2.2 Giới thiệu sơ lược về giá thể 1.1 Vai trò của giá thé đối với sinh trưởng và phát triển của cây trồng Giá thê là cách gọi chung cho các hỗn hợp của các vật liệu có thể giữ nước, tạo độ thoáng cho sự phát triển của cây, hỗn hợp này được dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm của từng loại.
Một số loại giá thể đơn giản bao gồm các các loại sỏi đá, rơm ra, đá bọt núi lửa, thường thấy trong làm giá đỗ thủ công, trồng nam hay trồng trong bể thủy canh. Tuy nhiên, chúng không được phổ biến cho tất cả các loại cây trồng, cũng như các phương pháp ươm cây, gieo hạt thông thường mà chỉ chuyên dùng cho các trường hợp cu thé. Ngày nay việc sử dụng giá thể có sự khác biệt khá nhiều, giá thé được đưa vào sử dụng phô biến hơn cho tat cả các phương pháp trồng cây. Giá thé được sử dụng hiện nay rat đa dạng về chung loại cũng như về công thức phối trộn.
Các giá thể trồng hoa trong chậu phổ biến hiện nay như xơ đừa, tro trau, trau song, phân hữu cơ, bã mía, đất sạch (Tran Diễm Mi, 2015). Theo Trương Thị Cam Nhung (2016), giá thé được xem là môi trường giúp cây đứng vững nhờ sự bám chặt của rễ, cung cap nước, dinh dưỡng cho cây trông và điều 6 hòa nhiệt độ dựa vào khả nang gitr nước va chat dinh dưỡng của gia thể. Việc tận dụng các nguyên liệu có sẵn tại địa phương và phụ phẩm nông nghiệp như mụn dừa, tro trâu, rễ lục bình, làm giá thé trồng thay đất sé dé dàng kiểm soát sâu bệnh hại từ đó giúp duy trì năng suất và nâng cao phẩm chất nông sản. Giá thể trồng cây tốt có các ưu điểm: kiểm soát được pH, thành phần dinh dưỡng, các yếu tố gây bệnh và lây truyền bệnh cho cây, có khả năng giữ âm và thoáng khí tốt, có khả năng tái sử dụng hoặc an toàn cho môi trường khi phân hủy.
Theo John và Harold (1999) cho thấy khi trồng cây trong chậu, giá thể cần có khả năng giữ nước và thông thoáng hơn nhiều so với trồng cây ngoài đồng ruộng. Nén chặt giá thé sẽ làm giảm các khoảng trống và lượng nước hữu dung cho cây trồng. Hiện nay, trồng hoa kiểng trên giá thể là kỹ thuật được áp dụng chủ yếu ở những vùng có diện tích đất nông nghiệp nhỏ, nhưng cũng có thể sản xuất hoa kiểng ở quy mô công nghiệp hoặc hộ gia đình. Tuy nhiên, dé cây hoa kiếng sinh trưởng tốt và dat chất lượng cao, an toàn cho người sử dụng đồng thời tiết kiệm chi phí sản xuất thì cần lựa chọn giá thê trồng thích hợp.