Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoa chuông (Sinningia speciosa, thuộc họ Gesneriaceae) là loài cây cảnh nội thất có nguồn gốc từ Nam Mỹ, được ưa chuộng nhờ hoa dạng hình chuông lớn, màu sắc đa dạng (đỏ, tím, hồng, viền trắng), cánh hoa mềm mượt và thời gian trổ hoa kéo dài. Tại thành phố Sa Đéc (tỉnh Đồng Tháp) – một trong những trung tâm sản xuất hoa kiểng trọng điểm của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long – nghề trồng hoa chậu đang không ngừng mở rộng về quy mô diện tích và chủng loại giống cây. Tuy nhiên, tập quán sản xuất của phần lớn nông dân địa phương vẫn dựa trên kinh nghiệm truyền thống, sử dụng nền giá thể tự phối trộn chủ yếu từ rơm rạ thô và vỏ trấu chưa qua xử lý triệt để. Tình trạng này làm phát sinh nhiều mầm bệnh nấm hại rễ, cấu trúc giá thể kém ổn định, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống và sức sinh trưởng của cây con sau khi ra ngôi.

Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài khóa luận "Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn giá thể đến sinh trưởng, phát triển của hoa chuông (Sinningia speciosa) trồng chậu tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp" được thực hiện bởi sinh viên Phan Minh Phước (ngành Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh), dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Văn Thịnh và ThS. Nguyễn Phạm Hồng Lan.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định được công thức phối trộn giá thể thích hợp nhất từ các nguồn phụ phẩm hữu cơ nhằm giúp cây hoa chuông sinh trưởng khỏe mạnh, đạt chất lượng thương phẩm cao trong điều kiện khí hậu địa phương.

Văn bản xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo phương pháp khoa học nông học.
  2. Phân tích ảnh hưởng của các tỷ lệ phối trộn giá thể đến chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ sâu bệnh hại, chỉ tiêu phát triển, lượng nước hữu dụng và chất lượng hoa chuông.
  3. Phân tích và đánh giá thành phần dinh dưỡng của hai loại giá thể hữu cơ compost trước khi phối trộn trong thí nghiệm.
  4. Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thống kê sinh học đảm bảo độ tin cậy.

Về phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây hoa chuông (Sinningia speciosa) dòng hoa kép màu đỏ viền trắng, xuất xứ cấy mô in vitro thuần dưỡng 15 ngày tại vườn ươm.
  • Phạm vi không gian: Khu thực nghiệm thuộc Trung tâm Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ Cao tỉnh Đồng Tháp (thành phố Sa Đéc).
  • Phạm vi thời gian: Thí nghiệm triển khai trong thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 06/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các nguyên lý nông học về vai trò của giá thể đối với cây trồng chậu (John & Harold, 1999; Trần Diễm Mi, 2015; Trương Thị Cẩm Nhung, 2016). Giá thể đóng vai trò cố định bộ rễ, cung cấp nước, chất dinh dưỡng, duy trì độ thoáng khí và điều hòa nhiệt độ vùng rễ. Đối với cây hoa chuông có hệ rễ chùm ăn nông ở tầng 10 - 20 cm và thân củ mọng nước, giá thể yêu cầu độ tơi xốp cao, thoát nước tốt, pH thích hợp từ 5,8 - 7,5 để tránh úng ngập gây thối nhũn củ và cổ rễ. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng và độ an toàn của giá thể hữu cơ được căn cứ theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-189:2019/BNNPTNT về chất lượng phân bón.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế như sau:

  • Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đơn yếu tố được thiết kế theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (Completely Randomized Design - CRD) với 6 nghiệm thức (NT), mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần (tổng cộng 18 ô cơ sở).
  • Quy mô thí nghiệm: Mỗi ô cơ sở gồm 20 chậu, trồng 1 cây/chậu (kích thước chậu: đường kính đáy nhỏ 12 cm, đáy lớn 15 cm, chiều cao 14 cm; thể tích giá thể vào chậu đạt 1580,2 cm³). Tổng quy mô thí nghiệm là 360 chậu/cây trên diện tích 33,6 m² (chưa bao gồm hàng bảo vệ). Khoảng cách giữa các chậu trong ô là 20 cm, giữa các hàng là 30 cm, khoảng cách giữa các ô cơ sở là 60 cm và giữa các lần lặp lại là 80 cm.
  • Công thức các nghiệm thức phối trộn giá thể:
    • NT1 (đối chứng): 85% phân rơm + 15% vỏ trấu (hỗn hợp được ủ chế phẩm Trichoderma liều lượng 1 kg/m³ trong 45 ngày).
    • NT2: 45% giá thể 1 (GT1) + 50% giá thể 2 (GT2) + 5% than sinh học vỏ trấu (TSH).
    • NT3: 40% GT1 + 55% GT2 + 5% TSH.
    • NT4: 35% GT1 + 60% GT2 + 5% TSH.
    • NT5: 30% GT1 + 65% GT2 + 5% TSH.
    • NT6: 25% GT1 + 70% GT2 + 5% TSH.

Nguồn dữ liệu và vật liệu thí nghiệm:

  • Giá thể GT1: Chế biến từ bùn đáy ao cá tra, rơm rạ và phân bò bằng phương pháp ủ compost hiếu khí 28 - 35 ngày tại Cơ sở Mầm Xanh (Thanh Bình, Đồng Tháp).
  • Giá thể GT2: Chế biến từ bã nấm rơm, mụn dừa và phân bò bằng phương pháp ủ compost hiếu khí 28 - 35 ngày.
  • Than sinh học (TSH): Sản xuất từ vỏ trấu qua lò đốt yếm khí ở 350°C (cung cấp bởi HKD Nguyễn Văn Lợi, Vĩnh Long).
  • Dữ liệu lý hóa tính: Được phân tích tại Viện Nghiên cứu Công nghệ sinh học và Môi trường.
  • Thu thập số liệu sinh học: Chọn ngẫu nhiên 5 cây mẫu/ô cơ sở (không lấy hàng bảo vệ), theo dõi định kỳ 7 ngày/lần từ 7 đến 35 ngày sau trồng (NST) đối với các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao, đường kính thân, số lá, kích thước lá, đường kính tán), tỷ lệ sâu bệnh và các chỉ tiêu hoa (thời gian ra nụ, nở hoa, độ bền, kích thước cuống và chuông hoa).
  • Xử lý số liệu: Số liệu thô được nhập và tính toán sơ bộ bằng Microsoft Excel; phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng Duncan ở mức ý nghĩa p < 0,05 và p < 0,01 bằng chương trình thống kê SAS.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu (Giới thiệu)

Nội dung phần mở đầu tập trung làm rõ tính cấp thiết của đề tài trong việc giải quyết nút thắt về giá thể trồng hoa kiểng tại Sa Đéc. Tác giả chỉ ra rằng việc làng nghề phát triển tự phát khiến người dân chủ yếu sử dụng phân rơm và trấu chưa hoai mục, làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh nấm rễ trên cây con cấy mô. Mục tiêu đề tài là tìm kiếm công thức phối trộn giá thể tối ưu dựa trên việc tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp địa phương (bùn ao nuôi thủy sản, bã nấm rơm, mụn dừa, vỏ trấu). Phần này cũng xác định rõ các yêu cầu kỹ thuật và giới hạn của đề tài (chỉ thử nghiệm trên một giống hoa chuông đỏ viền trắng; chưa phân tích biến động lý hóa tính của hỗn hợp sau trộn; chưa hạch toán kinh tế do giá thể đang ở giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm).

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài:

  • Nguồn gốc, phân loại thực vật và đặc điểm hình thái học của cây hoa chuông (Sinningia speciosa): Bộ rễ chùm ăn nông, thân thảo dạng củ ngắn (12 - 15 cm), lá hình oval mọc đối xoắn ốc có lông nhung mềm, hoa lưỡng tính hình chuông. Cây yêu cầu nhiệt độ mát 18 - 24°C, ánh sáng tán xạ (cường độ 0,5 - 1,1 Klux, quang kỳ 12 - 16 giờ/ngày), độ ẩm đất 65 - 80% và độ ẩm không khí 60 - 75%.
  • Tổng quan về giá thể: Phân tích đặc tính cơ bản của các nguồn vật liệu như phân rơm phân hủy, xơ dừa, phân bò, bùn đáy ao cá tra và vỏ trấu.
  • Các công trình nghiên cứu đi trước: Tổng kết các nghiên cứu về tuyển chọn giống hoa chuông tại Việt Nam (Võ Thị Ngọc Cẩm, 2021; Lê Thị Cẩm Quanh, 2020; Nguyễn Văn Sơn và ctv, 2016; Ngô Thị Thanh Vân, 2013) và các thử nghiệm giá thể trên cây hoa kiểng (Trần Diễm Mi, 2015 trên hoa chuông với giá thể lục bình; Phạm Ngọc Linh, 2019 với mụn dừa, phân bò, vỏ đậu phộng; Lã Thị Thu Hằng và ctv, 2012; Salvado và Minami, 2008). Các tài liệu khẳng định tỷ lệ phối trộn giá thể ảnh hưởng mang tính quyết định đến cấu trúc bộ rễ và chất lượng hoa nở.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết về địa điểm, điều kiện khí hậu thời tiết và quy trình thực nghiệm:

  • Diễn biến thời tiết: Trong thời gian thực hiện (tháng 2 - 5/2023), nhiệt độ bình quân tại Sa Đéc dao động 23 - 35°C (cao hơn ngưỡng tối thích 18 - 24°C của hoa chuông), độ ẩm không khí 66 - 84%. Để khắc phục, tác giả áp dụng lưới đen che nắng 50% và bố trí tưới phun sương làm mát 2 lần/ngày.
  • Chỉ tiêu lý - hóa học của các giá thể đơn chất trước khi phối trộn:
Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Giá thể 1 (GT1) Giá thể 2 (GT2) Than sinh học (TSH)
Tỉ trọng g/cm³ 1,82 1,28 -
Dung trọng g/cm³ 0,564 0,256 -
Độ rỗng % (v/v) 69,03 79,95 -
Độ thoáng khí % (v/v) 19,23 28,81 -
Độ ẩm % (w/w) 29,07 28,90 6,47
Khả năng giữ nước % (v/v) 49,80 51,13 -
pH ($H_2O$) - 6,37 6,45 -
ECe dS/m 0,56 1,55 -
Carbon hữu cơ % 13,07 28,63 37,10
Đạm tổng số ($N_{ts}$) % 0,984 1,626 -
Lân hữu hiệu ($P_2O_{5,hh}$) % 0,367 0,468 0,16
Kali hữu hiệu ($K_2O_{hh}$) % 1,860 1,779 0,24
Độc chất / Vi sinh - Đạt chuẩn QCVN Đạt chuẩn QCVN -
  • Quy trình chăm sóc và dinh dưỡng:
    • Giai đoạn cây con (5 - 40 NST): Định kỳ 5 ngày/lần phun phân bón lá (Plant Food 20-30-20, Siamb Soyamin, H-giàu humic, Toponsu, chất điều hòa Atonik 1.8SL) kết hợp tưới gốc NPK 30-10-10+TE (1 g/chậu).
    • Giai đoạn phân hóa nụ và nuôi hoa (45 - 72 NST): Phun định kỳ phân bón lá (Bifolat, Xanh cực xanh, GA3 mix, Micro-Green 16-31-16) kết hợp tưới gốc NPK 20-20-15+TE (1,5 g/chậu).
  • Phòng trừ dịch hại: Phòng ngừa sâu khoang (Spodoptera litura) và bọ trĩ (Stenchaetothrips biformis) bằng Chloferan 240SC; phòng trừ bệnh thối thân, lá, củ (Phytophthora cryptogea, Pythium sp., Colletotrichum sp.) bằng Rampart 35SD, Encoleton 25WP và Ridomil Gold 68WG định kỳ 7 ngày/lần.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 tổng hợp và thảo luận toàn bộ số liệu đo đạc thực tế:

  • Tăng trưởng chiều cao cây: Ở giai đoạn 7 - 21 NST, các công thức chưa cho thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê do bộ rễ đang trong thời kỳ hồi xanh và bén rễ. Đến 28 và 35 NST, sự khác biệt thể hiện rõ nét ở mức p < 0,05. Tại 35 NST, nghiệm thức NT4 đạt chiều cao cao nhất (8,5 cm), vượt trội so với đối chứng NT1 (7,4 cm).
  • Đường kính thân: Tại thời điểm 35 NST, NT4 đạt đường kính thân lớn nhất (4,4 mm), tiếp đến là NT5 (4,3 mm), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng NT1 (3,9 mm).
  • Số lá và kích thước lá: Số lá trên cây ở thời điểm 35 NST dao động từ 14,5 lá/cây (đối chứng NT1) đến 17,8 lá/cây (NT4). Chiều dài lá của NT4 đạt 7,9 cm (đối chứng 6,4 cm); chiều rộng lá đạt 5,1 cm (đối chứng 4,4 cm).
  • Đường kính tán: Đạt giá trị cao nhất tại nghiệm thức NT4 với 20,2 cm ở 35 NST, trong khi đối chứng NT1 chỉ đạt 17,43 cm.
  • Các chỉ tiêu hoa: Tỷ lệ phối trộn giá thể ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian xuất hiện nụ và chất lượng hoa thương phẩm. Cây trồng trên nền giá thể NT4 ra nụ sớm nhất (33,3 NST), nở hoa đầu tiên tại 51,5 NST, thời gian hoa đầu tiên tàn là 58,4 NST và hoa cuối cùng tàn là 83,3 NST, mang lại số nụ trung bình 16,5 nụ/cây, số hoa nở 15,5 hoa/cây và độ bền tự nhiên của hoa đạt 6,9 ngày.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã xác định tỷ lệ phối trộn tối ưu cho cây hoa chuông đỏ viền trắng trồng chậu tại thành phố Sa Đéc là nghiệm thức NT4 gồm: 35% giá thể 1 + 60% giá thể 2 + 5% than sinh học vỏ trấu.

Bảng số liệu tổng hợp so sánh giữa nghiệm thức tối ưu (NT4) và nghiệm thức đối chứng truyền thống (NT1) được thể hiện như sau:

Nhóm chỉ tiêu Chỉ tiêu cụ thể Nghiệm thức đối chứng (NT1) Nghiệm thức tối ưu (NT4)
Sinh trưởng (tại 35 NST) Chiều cao cây (cm) 7,4 8,5
Đường kính thân (mm) 3,9 4,4
Số lá thật (lá/cây) 14,5 17,8
Chiều dài lá (cm) 6,4 7,9
Chiều rộng lá (cm) 4,4 5,1
Đường kính tán (cm) 17,43 20,2
Phát triển và chất lượng hoa Thời gian xuất hiện nụ đầu (NST) - 33,3
Thời gian hoa đầu nở (NST) - 51,5
Thời gian hoa đầu tàn (NST) - 58,4
Thời gian hoa cuối tàn (NST) - 83,3
Số nụ trung bình (nụ/cây) - 16,5
Số hoa trung bình (hoa/cây) - 15,5
Đường kính hoa (cm) - 5,5
Chiều dài cuống hoa (cm) - 9,0
Chiều dài chuông hoa (cm) - 4,9
Độ bền hoa tự nhiên (ngày) - 6,9

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đề tài chứng minh tính khả thi của việc thay thế giá thể truyền thống (phân rơm phối trộn vỏ trấu chưa hoai mục) bằng giá thể compost từ phụ phẩm nông nghiệp (bùn đáy ao cá tra, bã nấm rơm, mụn dừa, phân bò) kết hợp 5% than sinh học vỏ trấu. Công thức này giúp cân đối ẩm độ và độ thoáng khí (độ rỗng đạt gần 80%, khả năng giữ nước trên 51%), hạn chế sự yếm khí và nguồn nấm bệnh rễ, tạo tiền đề cải thiện số nụ và số lượng hoa nở đồng loạt cho cây hoa chuông tại Sa Đéc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận đã nêu rõ các giới hạn trong quá trình thực nghiệm:

  • Đề tài chỉ mới tiến hành thử nghiệm trên một giống hoa chuông đỏ kép viền trắng được cung cấp bởi Trung tâm Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ Cao tỉnh Đồng Tháp; chưa khảo nghiệm so sánh trên các giống hoa chuông khác (như các dòng hoa đơn, hoa kép màu tím, hồng hoặc xanh).
  • Do giới hạn về thời gian, các đặc tính lý - hóa học trực tiếp của từng công thức phối trộn hỗn hợp sau khi trộn và trong các giai đoạn sinh trưởng chưa được phân tích theo chuỗi thời gian, mà chỉ phân tích các mẫu đơn chất thành phần ban đầu (GT1, GT2, TSH).
  • Chưa hạch toán và đánh giá hiệu quả kinh tế (chi phí sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận) cho từng công thức phối trộn do các thành phần giá thể compost (GT1, GT2) thuộc sản phẩm dự án sản xuất thử nghiệm, chưa được thương mại hóa trên thị trường.

Hướng mở rộng nghiên cứu: Cần tiếp tục theo dõi diễn biến tính chất lý hóa của hỗn hợp giá thể trong suốt vòng đời sinh trưởng của cây, mở rộng khảo nghiệm trên các giống hoa kiểng khác và thực hiện hạch toán chi phí kinh tế khi giá thể được đưa vào sản xuất thương mại quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Minh Phước cung cấp nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Bảo vệ Thực vật và Công nghệ Nông nghiệp Công nghệ cao. Đề tài đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cho kỹ thuật viên tại các trung tâm khuyến nông, cơ sở ươm cây mô và các nhà vườn trồng hoa chậu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:

  • Phương pháp luận bố trí thí nghiệm CRD chuẩn mực trên cây trồng chậu với hệ thống chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển được theo dõi định kỳ có trắc nghiệm thống kê Duncan bằng phần mềm SAS.
  • Dữ liệu lý - hóa học chi tiết của hai loại giá thể compost hữu cơ phối trộn từ bùn ao cá tra và bã nấm rơm đạt chuẩn chất lượng theo QCVN 01-189:2019/BNNPTNT.
  • Quy trình kỹ thuật canh tác hoa chuông hoàn chỉnh từ cây con cấy mô: Bao gồm kỹ thuật thuần dưỡng ánh sáng, chế độ tưới nước chống đọng ống hoa, phác đồ bón phân qua gốc kết hợp phân bón lá chuyên dùng theo 2 giai đoạn sinh trưởng, cùng các biện pháp quản lý dịch hại phổ biến (sâu khoang, bọ trĩ, nấm Phytophthora cryptogea, Colletotrichum sp.).

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phần nguyên liệu và quy trình chế biến của hai loại giá thể GT1 và GT2 trong nghiên cứu là gì?
Giá thể GT1 được chế biến từ bùn đáy ao nuôi cá tra, rơm rạ và phân bò. Giá thể GT2 được chế biến từ bã nấm rơm, mụn dừa và phân bò. Cả hai loại đều được xử lý bằng phương pháp ủ compost hiếu khí trong thời gian từ 28 đến 35 ngày tại Cơ sở Mầm Xanh (Thanh Bình, Đồng Tháp), đạt các chỉ tiêu không nhiễm mặn, tỷ lệ C/N ổn định (13,28 - 17,61) và âm tính với khuẩn E. coli, Salmonella.

2. Điều kiện thời tiết tại Sa Đéc trong thời gian thí nghiệm gây khó khăn gì cho cây hoa chuông và tác giả xử lý ra sao?
Nhiệt độ trung bình trong các tháng thí nghiệm (tháng 2 - 5/2023) dao động từ 23 - 35°C và độ ẩm không khí đạt 66 - 84%, đều cao hơn ngưỡng sinh thái thích hợp của cây hoa chuông (18 - 24°C và ẩm độ 60 - 75%). Tác giả đã xử lý bằng cách che lưới đen giảm 50% ánh nắng trực tiếp, tưới phun sương làm mát 2 lần/ngày (sáng 7 - 9 giờ, chiều 14 - 16 giờ) và định kỳ 7 ngày/lần phun phòng nấm thối nhũn bằng Ridomil Gold 68WG.

3. Tỷ lệ phối trộn giá thể nào cho kết quả sinh trưởng và chất lượng hoa chuông tốt nhất?
Tỷ lệ phối trộn tối ưu là Nghiệm thức 4 (NT4) với công thức: 35% giá thể 1 + 60% giá thể 2 + 5% than sinh học vỏ trấu. Ở công thức này, cây đạt chiều cao 8,5 cm, đường kính thân 4,4 mm, số lá 17,8 lá/cây, đường kính tán 20,2 cm, cho trung bình 16,5 nụ/cây, 15,5 hoa/cây và độ bền hoa đạt 6,9 ngày, vượt trội rõ rệt so với đối chứng dùng phân rơm và vỏ trấu.

4. Chế độ phân bón cho cây hoa chuông được phân chia như thế nào trong quy trình kỹ thuật?
Chế độ phân bón chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn cây con (5 - 40 NST) sử dụng phân tưới gốc NPK 30-10-10+TE (1 g/chậu) kết hợp các phân bón lá (Plant Food, Siamb Soyamin, H-giàu humic, Toponsu, Atonik) định kỳ 5 ngày/lần. Giai đoạn hình thành nụ đến ra hoa (45 - 72 NST) sử dụng phân bón gốc NPK 20-20-15+TE (1,5 g/chậu) kết hợp các phân bón lá bổ sung trung vi lượng (Bifolat, Xanh cực xanh, GA3 mix, Micro-Green 16-31-16) định kỳ 5 ngày/lần.

5. Cây hoa chuông trong thí nghiệm bị các loại sâu bệnh nào tấn công và biện pháp phòng trừ cụ thể là gì?
Sâu hại gồm có sâu khoang (Spodoptera litura) xuất hiện ở 15 NST và bọ trĩ (Stenchaetothrips biformis) xuất hiện ở 25 NST, được kiểm soát bằng thuốc trừ sâu sinh học Chloferan 240SC. Bệnh hại gồm bệnh thán thư do Colletotrichum gloeosporioides (xuất hiện ở 20 NST), bệnh do virus, và bệnh thối thân, lá, củ do nấm Phytophthora cryptogea, Pythium sp. (ở 25 NST); được phòng trị bằng Rampart 35SD, Encoleton 25WP và Ridomil Gold 68WG kết hợp cắt tỉa tiêu hủy bộ phận nhiễm bệnh và điều chỉnh ngưng tưới nước khi phun thuốc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Minh Phước đã giải quyết thành công bài toán thực nghiệm về tối ưu hóa nền giá thể trồng cây hoa chuông tại Sa Đéc bằng việc tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp địa phương. Kết quả khẳng định công thức phối trộn 35% GT1 (ủ từ bùn ao cá tra, rơm rạ, phân bò) + 60% GT2 (ủ từ bã nấm rơm, mụn dừa, phân bò) + 5% than sinh học vỏ trấu mang lại hiệu quả vượt trội về sinh trưởng sinh dưỡng và chất lượng hoa thương phẩm so với giá thể truyền thống. Đây là cơ sở khoa học và tài liệu kỹ thuật có giá trị thực tiễn cao phục vụ chuyển giao quy trình sản xuất hoa chậu bền vững cho nông dân và các cơ sở nông nghiệp công nghệ cao.