Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về hoa cát tường 1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại thực vật Tên tiếng việt: hoa Cát tường, hoa Kiết tường, Lan tường. Tên khoa học: Eustoma grandiflorum (Raf.) Shinn Hoa cát tường có nguồn gốc từ một loại hoa cát tường dai được tim thay ở Mexico, Texas, Colarado và Bắc Dakota. Nó thường sinh sống đọc bờ sông, những khu vực thấp gần nguồn nước hay ở các vùng thảo nguyên. Hiện nay hoa cát tường được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thé giới như Mỹ, Nhật Bản.
Năm 1995, hoa cát tường được xếp hạng 11 trên thị trường hoa cắt cành của Dan Mach (Ledger và ctv, 1997). Tại Việt Nam, cây hoa cát tường được trồng chủ yếu 0 Đồng Tháp, Đà lạt và các tỉnh phía Bắc. Phân loại thực vật cây hoa cát tường: Ngành thực vật hạt kín: Magnoliophyta; Lớp hai lá mầm: Magnoliopsida; Bộ: Gentianales; Họ Long Đởm: Gentianaceae; Chi Eustoma; Loài: Eustoma grandiflorum (Juss, 1789). Cây hoa cát tường có tên thương mại là Lisianthus ressellianus khi được liệt kê lần đầu trong danh mục hạt giống Hoa Ky vào năm 1980 (Bailey và Baily, 1976).2 Đặc điểm thực vật học Theo Neil.
Anderson (2007) (dẫn theo Lương Văn Chương, 2016), cây hoa cát tường có những đặc điểm thực vật học sau: Rễ hoa cát tường thuộc loại rễ cọc, có nguồn gốc từ mầm rễ của hạt. Rễ phát triển theo chiều sâu, ít phát triển theo chiều ngang, do vậy cây có khả năng chịu hạn cao. Khối lượng rễ lớn do sinh ra nhiều rễ phụ và lông hút nên kha năng hút nước và đinh dưỡng mạnh, rễ cây hoa cát tường rất nhạy cảm với tác động bên ngoài. Ở giai đoạn cây có 4 - 6 lá thật thì rễ có kha năng tái sinh mạnh, nhưng ké từ lá thứ 8 trở đi thì khả năng tai sinh của rễ giảm dan.
Do vậy từ giai đoạn cây có lá thứ 8 cho đến khi cây ra hoa không nên tác động đến bộ rễ làm ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng của cây. Thân hoa cát tường thuộc dạng thân thảo, thân đứng, thân chính có khả năng phân cành nhánh mạnh sau khi cây hình thành nụ hay ưu thế ngọn bị phá vỡ do bị gay ngọn hay bị sâu cắn ngọn. Thân chia thành nhiều đốt, có khả năng phân nhánh mạnh, giòn, dé gãy. Cây càng lớn, thân càng cứng, bên ngoài thân được phủ một lớp sáp trắng mỏng.
Các đốt sát gốc thường to và ngắn hơn các đốt trên ngọn, độ dài các đốt thay đổi theo từng giống. Cây có thé cao từ 15 đến 120 em, tùy giống, tùy điều kiện thời tiết. Lá hơi mọng nước là lá đơn mọc đối, hầu như không có cuống và có màu xanh xám, mép lá không có răng cưa. Hình dạng lá cơ bản thường là hình ovan hay hình bầu dục, nhưng có giống lại có hình mũi giáo hoặc dạng đỉnh tròn thuôn về phía góc lá.
Từ mỗi nách lá thường phát sinh một mam nách. Lá thường dai khoảng từ 11 - 12,7 em và rộng từ 6,7 - 7,6 cm. Càng ở phía trên cao của thân lá cảng nhỏ hơn, thường dài dưới 5 cm va rộng 1,2 - 1,3 em. Đặc điểm của lá thay đổi rất lớn giữa các giống khác nhau.
Hoa gồm có 2 dang hoa đơn và hoa kép. Hoa cát tường đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích thước. Cát tường là hoa lưỡng tính, có tính đối xứng, tự thụ và cụm hoa hình xim hoặc nhiều hình dạng khác nhau như hình chuông, hình ống, hay cánh bên ngoài phẳng, cánh bên trong hình ống. Đài hoa được tạo thành bởi 5 lá đài màu xanh lá cây, có râu nhỏ ở đầu.
Hoa có 1 nhụy và 5 vòi nhị. Nhuy có 1 ngăn với 2 vòi nhụy màu xanh gắn với nhau. Vòi nhụy mở khi hoa nở được 1 ngày. Các nhị hoa đính so le với các tràng hoa ở gốc.
Hoa đơn có 5 cánh dạng hoa hình chuông, thường giống với hoa hồng ở giai đoạn nụ nhưng khi nở ra lại giống như hoa tulip. Trong khi hoa kép có từ 2 - 5 hàng cánh xếp xen kẽ cả lúc nụ lẫn lúc nở. Mau sắc hoa rất đa dang, đơn màu hoặc pha nhiều màu như: trắng, xanh bơ, hồng, tím, trắng viền hồng, trắng viền tím. Vì vậy, việc lựa chọn màu sắc hoa trong sản xuất phải hướng đến thị hiếu của người tiêu dùng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Quả của cây hoa cát tường có khả năng đậu quả cao, dạng quả nang tự nở. Khi quả còn non có màu xanh đậm, khi chín vỏ quả chuyên sang màu xanh xám và quả quả nứt ra. Thuộc dạng quả nẻ, hình tròn, mỗi quả có vài trăm hạt. Hạt có kích thước rất nhỏ, khoảng 19.000 hạt/gam với nội nhũ dầu nhiều, phôi mam lớn.
Khi còn non hat có màu kem, khi chín hạt có màu đen nhánh. Đôi khi phôi mam quá lớn và nội nhũ nhiều dau, nên trong điều kiện bao quản kém, hạt có thé mat sức nảy mầm.3 Yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng của cây hoa cát tường 1.1 Nhiệt độ Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phát triển và các sắc tố trên cánh hoa cát tường. Nhiệt độ tối ưu cho cây hoa cát tường sinh trưởng và phát triển là từ 18 - 20°C vào ban ngày và 15 - 18°C vào ban đêm (Harbaugh, 1992). Nhiệt độ vào ban đêm thấp hon 15°C sé làm trì trệ quá trình sinh trưởng của cây (Roh, 1988).
Vào ban ngày khi nhiệt độ cao hon 28°C sẽ làm cho hoa nở sớm, rút ngắn quá trình sinh trưởng của hoa va cho hoa kém chất lượng (Vũ Thu Diễm, 2012). Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phân hóa mầm hoa và ra hoa của cây cát tường. Khi hạt giống nảy mầm vào mùa hè, cây con chịu tác động của nhiệt độ cao sẽ ngừng sinh trưởng và qua đông, năm sau cây mới ra hoa, khi đó cây hoa cát tường được coi là cây 2 năm. Ngược lại, hạt giống cây hoa cát tường nảy mầm vào mùa xuân và cây con phát triển trong điều kiện mùa xuân mát mẻ, cây ra hoa trong năm đó - lúc này cát tường được coi là cây hàng năm (Vũ Thu Diễm, 2012).2 Ánh sáng Ánh sáng là yếu tô quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây thông qua quá trình quang hợp và hô hấp.
Cường độ ánh sáng và độ dài ngày sẽ ảnh hưởng đến sự nảy mầm, sự sinh trưởng, thời gian sinh trưởng cũng như chất lượng hoa. Cây hoa cát tường cho chất lượng tốt nhất khi được cung cấp đủ ánh sáng, vì vậy ở điều kiện ánh sáng yếu, việc bô sung thêm ánh sáng nhân tạo giúp kéo dai thân, thân to và khỏe. Ngược lại khi cường độ ánh sáng quá cao phải che lưới cho hoa để giảm bớt ánh sáng trực xạ ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cát tường (Nguyễn Thị Kim Huệ, 2009). Hoa cát tường phát triển trong điều kiện ánh sáng vừa phải 70.000 lux, nên vào mùa hé cần phải che lưới dé giảm bớt ánh nắng, thời gian chiếu sáng 16 giờ trên ngày từ khi bắt đầu trồng đến khi ra hoa sẽ giúp cây tăng trưởng chiều cao tốt và cho ra số hoa nhiều hơn (Nguyễn Thị Kim Huệ, 2009).3 Độ 4m Độ âm là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Độ am cao hoặc cây bị quá 4m vai giờ vào đêm sẽ làm bong dau lá, là một dang rồi loạn sinh lý lá làm giảm chất lượng hoa cát tường (Vũ Thu Diễm, 2012). Từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 14 cây hoa cát tường yêu cầu độ ẩm dat 100% dé hạt nảy mam tốt. Khi chuyền cây sang vườn sản xuất, trong giai đoạn 14 ngày đầu yêu cầu độ âm cao vào ban ngày, độ âm thấp vào ban đêm. Đặc biệt giai đoạn phân hóa mầm hoa (sau trồng khoảng 2 - 2,5 tháng) là thời kỳ cây có nhu cầu về nước lớn, thiếu nước làm ảnh hưởng đến quá trình phân hóa mầm hoa, do vậy cần đảm bảo độ ẩm đất 70 - 75%.
Duy trì điều kiện độ âm 60% sau khi chuyên cây đề hạn chế sâu, bệnh hại. Độ am > 80% và tưới qua nhiều nước sé thúc day su phat trién dich bénh va tao diéu kién cho một số loại nam phát triển, đặc biệt là nam Botrytis cinerea (Vũ Thu Diễm, 2012). Độ ẩm quá cao và thường xuyên sẽ làm cây bị nhiễm một số bệnh nguy hiểm như lỡ cổ tễ (Rhizoctonia solani), bệnh dém lá, bệnh héo vàng (Fusarium solani), bệnh thối rễ đen (Pythium spp. Độ âm khoảng 70% được xem là lý tưởng nhưng khi nụ hoa đầu tiên được hình thành thì việc giảm độ ẩm xuống 70% sẽ làm gia tăng chất lượng hoa.4 Nhu cầu sinh dưỡng của cây hoa cát tường Đề cây hoa cát tường sinh trưởng, phát triển tốt cần cung cấp đầy đủ dinh đưỡng cho cây.
Tùy vào từng giai đoạn mà nhu cầu dinh dưỡng của cây hoa cát tường khác nhau. Giai đoạn đầu do yêu cầu dinh dưỡng chưa nhiều nên nồng độ EC tối đa không vượt quá 1,2 EC (lượng phân bón hiệu quả). Sau đó có thé tăng nồng độ, bố sung canxi va đạm trước khi bố sung kali. Khi tỉ lệ 1 đạm : 1,5 kali cây cho cành hoa chất lượng cao và kéo dài độ bên hoa (Harbaugh, 1992).
Nên bổ sung bón canxi khi trồng trên đất nghèo canxi. Frett và ctv (1988) báo cáo rằng nồng độ canxi 150 ppm tạo thân cây khỏe và số lượng chéi cao. Nhiều người trồng hoa phun canxi - bo vào giai đoạn cây hình thành nụ dé hạn chế gãy thân, tăng màu sắc, chất lượng hoa. Áp dụng chất điều hòa sinh trưởng axit gibberrellic (15 - 25 ppm) kích thích cho việc ra rễ nhanh sau khi cây bắt đầu phát triển mạnh, nhưng không hiệu qua trong việc thúc day cho sự ra hoa (Hisamatsu va ctv, 1999).2 Giá thể và các đặc tính của giá thể 1.1 Khái niệm về giá thé Giá thé trồng cây thường gồm: phan ran, phan rỗng, nước hữu hiệu và nước du, trong đó quan trọng nhất là phần rỗng, tạo cho giá thê thông thoáng, giúp bộ rễ cây hô hap đồng thời giúp các vi sinh vật có ích phát triển, nước hữu hiệu giúp cây hut dé dàng.
Khi sử dụng giá thé thay cho đất thì việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng và điều chỉnh pH thích hợp cần thiết dé cây trồng phát triển tốt (Huỳnh Thanh Hùng va ctv, 2008). Giá thé là cách nói chung cho tat cả các hỗn hợp của các vật liệu có thé giữ nước, tạo độ thoáng cho cây, hỗ hợp này được dùng riêng lẻ hoặc trộn lại dé tận dụng ưu điểm từng loại .