Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoa Cát Tường có tên khoa học là Eustoma grandiflorum (RAF) Shinn., thuộc họ Long đởm (Gentianaceae), có nguồn gốc từ các khu vực Nam Mỹ, Mexico và vùng Caribbean. Đây là loài hoa mang màu sắc đa dạng như tím, hồng, trắng, vàng, kem, xanh, trắng viền tím... Tại Việt Nam, hoa Cát Tường được thị trường ưa chuộng do mang ý nghĩa may mắn, thịnh vượng, có giá trị kinh tế và tiềm năng xuất khẩu lớn. Tuy nhiên, hoạt động canh tác hoa Cát Tường trong nước phần lớn tập trung tại Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) thông qua các doanh nghiệp như Hasfarm, Lang Biang Farm, Floralseed Vietnam để xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và phục vụ các đô thị phía Nam.
Tại khu vực các tỉnh phía Bắc nói chung và thành phố Thái Nguyên nói riêng, việc trồng hoa Cát Tường còn ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún và tự phát. Người trồng chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân, thiếu quy trình kỹ thuật chuẩn hóa, chưa chủ động lựa chọn được giá thể và biện pháp thâm canh phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương. Tình trạng này dẫn đến bộ rễ phát triển kém, cây dễ nhiễm bệnh, làm giảm sút năng suất và chất lượng cành hoa thương phẩm. Nhằm giải quyết yêu cầu kỹ thuật trên, tác giả Phạm Việt Chinh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa học cây trồng tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên với đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng đến sinh trưởng và phát triển của hoa Cát Tường vụ Đông Xuân 2015 – 2016 tại thành phố Thái Nguyên".
Mục đích và yêu cầu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể như sau:
- Mục đích nghiên cứu: Xác định được công thức giá thể phù hợp nhất để trồng hoa Cát Tường dạng chậu, đảm bảo năng suất cao, chất lượng cành hoa tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất trong điều kiện vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên.
- Yêu cầu nghiên cứu: Đánh giá chi tiết ảnh hưởng của các tỷ lệ phối trộn giá thể khác nhau đến các giai đoạn sinh trưởng, động thái tăng trưởng chiều cao cây, khả năng ra lá, đặc điểm cành cấp 1, các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng hoa và tình hình phát sinh sâu bệnh hại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Giống hoa Cát Tường Blue picotee pelleted (hoa màu trắng viền tím), do Công ty hạt giống hoa Việt Nam nhập nội từ Nhật Bản và gieo ươm tại Đà Lạt. Cây con giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn: chiều cao 3–4 cm, có từ 2–3 cặp lá thật, được gieo trong khay xốp tiêu chuẩn 209 lỗ (kích thước 40 × 60 cm). Vật liệu phối trộn giá thể gồm: đất phù sa, trấu hun, xơ dừa và phân chuồng hoai mục.
- Phạm vi không gian: Thí nghiệm thực hiện tại Khu công nghệ cao, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, thành phố Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Vụ Đông Xuân, tiến hành từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 02 năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nghiên cứu dựa trên nguyên lý sinh lý học thực vật về môi trường rễ: giá thể đóng vai trò giữ nước, duy trì độ thoáng khí, cung cấp oxy và dưỡng chất cho rễ cây hấp thụ. Độ thoáng khí và khả năng trữ ẩm phụ thuộc vào kích thước khe kẽ của vật liệu; giá thể tối ưu cần đạt độ chua trung tính (pH ổn định), nhẹ, sạch mầm bệnh và có khả năng thoát nước tốt. Việc phối trộn trấu hun, xơ dừa và phân chuồng hoai mục nhằm kết hợp ưu điểm về độ xốp, độ giữ ẩm và hàm lượng chất hữu cơ dễ tiêu cho cây trồng chậu.
Khóa luận áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật và khung tài liệu tham khảo chính thức gồm:
- Quy trình kỹ thuật trồng hoa Cát Tường ban hành bởi Viện Nghiên cứu Rau Quả (2009).
- Quy định về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng theo Quyết định số 82/2003/QĐ-BNN&PTNT (ban hành Tiêu chuẩn ngành 10TCN 224) và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010).
- Phương pháp chẩn đoán bệnh cây bằng mắt thường theo tài liệu của Hà Minh Trung và Vũ Khắc Nhượng (1983).
- Giáo trình phương pháp thí nghiệm đồng ruộng của Đỗ Ngọc Oanh, Hoàng Văn Phụ, Nguyễn Thế Hùng, Hoàng Thị Bích Thảo (2004).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 4 công thức, 3 lần nhắc lại. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 2 m², mật độ trồng 25 cây/m² (tương ứng 50 cây/ô).
- Các công thức thí nghiệm:
- Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): 100% đất.
- Công thức 2 (CT2): 25% giá thể + 75% đất.
- Công thức 3 (CT3): 50% giá thể + 50% đất.
- Công thức 4 (CT4): 75% giá thể + 25% đất.
(Hỗn hợp giá thể dùng để phối trộn gồm 1/3 trấu hun + 1/3 xơ dừa + 1/3 phân chuồng hoai mục tính theo thể tích, được đảo đều trước khi trộn với đất).
Phương pháp theo dõi và thu thập dữ liệu:
- Chỉ tiêu theo dõi: Mỗi công thức gắn thẻ cố định 5 cây/lần nhắc lại (tổng cộng 15 cây/công thức), định kỳ 10 ngày đo đếm một lần. Các chỉ tiêu gồm thời gian đạt các mốc sinh trưởng (phân cành, ra nụ, hé nở, nở hoàn toàn 80%), động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm), số lá (lá/cây), số cành cấp 1, chiều cao phân cành (cm), chiều dài cành cấp 1 (cm).
- Chỉ tiêu năng suất và chất lượng: Số nụ/cây, số hoa nở/cây, số cây nở hoa thực thu trên 2 m², đường kính gốc và ngọn (đo bằng thước panme), chiều dài và chu vi nụ hoa, đường kính bông hoa nở hoàn toàn, độ bền cành hoa cắt cắm lọ (phòng kín gió, thay nước 2 ngày/lần) và độ bền hoa trên cây ngoài đồng ruộng.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được tính toán giá trị trung bình, phân tích phương sai (ANOVA), kiểm định sai khác LSD ở mức ý nghĩa 0,05 và hệ số biến động CV% bằng phần mềm chuyên dụng Microsoft Excel 2010 và IRRISTAT 5.0.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển hoa Cát Tường tại miền Bắc trong bối cảnh diện tích trồng còn hạn chế và phụ thuộc vào nguồn cung Đà Lạt. Tác giả chỉ rõ thực trạng kỹ thuật canh tác tại địa phương còn mang tính tự phát, thiếu thâm canh đồng bộ. Phần mở đầu xác lập mục tiêu xác định công thức phối trộn giá thể tối ưu, nêu rõ ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu thực nghiệm về kỹ thuật trồng hoa chậu, cùng ý nghĩa thực tiễn phục vụ hoàn thiện quy trình canh tác hoa Cát Tường tại Thái Nguyên.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu trong nước và quốc tế về hoa Cát Tường:
- Tình hình sản xuất: Thống kê số liệu tiêu thụ tại Nhật Bản (đạt trên 129 triệu cành năm 2001), Châu Âu (trên 122 triệu cành năm 2001), Mỹ (trên 14 triệu cành năm 2002; riêng California đạt doanh thu 9,4 triệu USD năm 2001). Trình bày Bảng 2.1 về số lượng cành và giá trị bán buôn các loại hoa cắt tại Mỹ giai đoạn 2006–2007. Tại Việt Nam, diện tích hoa Cát Tường tại Đà Lạt tăng từ 10 ha (năm 1998) lên hơn 20 ha (năm 2005) và khoảng 100 ha (năm 2010), chiếm 2,86% diện tích hoa thành phố.
- Tình hình chọn tạo giống và sinh lý: Nghiên cứu của Brent K. Harbaugh và John Scott (1998) tại Đại học Florida lai tạo các giống chịu nhiệt 'Maurine Blue' và 'Florida Blue' sinh trưởng tốt ở 28–31°C, giải quyết hiện tượng mọc khóm (rosetting) do nhiệt độ cao kết hợp ngày ngắn; nghiên cứu của Harbaugh (1995) về tác động qua lại giữa quang chu kỳ và nhiệt độ; nghiên cứu của Harbaugh (1997) về dinh dưỡng đạm và canxi.
- Công nghệ nhân giống và bảo vệ thực vật: Các công trình nuôi cấy mô in vitro của DA Kee Dong và cs. (2008), Peak Kee Yoeup và cs. (2000), Dương Tấn Nhựt và cs. (2006), Nguyễn Thị Kim Lý và cs. (2009), Chu Tuấn Thành (2010). Nghiên cứu bệnh hại vi khuẩn Burkholderia gladioli (Tesera E. Sejio và cs., 2002) và nấm Fusarium avenaceum gây thối thân thối ngọn làm chết tới 70% cây tại Mỹ (Brent Harbaugh và R. McGovern, 2000). Nghiên cứu bảo quản sau thu hoạch bằng dung dịch đường sucarose, glucose và các chất làm chậm già hóa như axit succinic, axit salicylic, glutamine (Michael S. Rield, 2000; Cho và cs., 1999; Kazemi và cs., 2011).
- Nghiên cứu kỹ thuật tại Việt Nam: Tác giả dẫn chứng kết quả của Phan Ngọc Diệp (2011) xác định giống Blue picotee pelleted có tỷ lệ nảy mầm và xuất vườn cao nhất (91,5% và 90,2%), thời vụ gieo hạt tháng 9 cho chất lượng cây con tốt nhất; nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hoa (2009) về giá thể ra ngôi in vitro và kích phát tố Thiên Nông; cùng các tài liệu kỹ thuật từ Công ty Giống hoa Phương Đông (2008) và Floralseed Việt Nam (2009).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả trình bày phương pháp thực nghiệm đồng ruộng:
- Mô tả tiêu chuẩn vật liệu giống nhập nội và các nguồn vật liệu giá thể gồm trấu hun, xơ dừa, phân chuồng hoai mục.
- Chi tiết hóa sơ đồ bố trí 4 công thức thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) qua 3 lần nhắc lại (NL1: 4-1-2-3; NL2: 2-3-4-1; NL3: 3-4-1-2).
- Quy chuẩn hóa toàn bộ công thức tính toán các chỉ tiêu hình thái, năng suất, tỷ lệ hoa hữu hiệu, tỷ lệ cây nở hoa hữu hiệu, phương pháp kiểm tra sâu bệnh theo khung điều tra 5 điểm đường chéo góc và phương pháp hạch toán kinh tế (tính toán chi phí, tổng thu, lãi thuần trên diện tích 100 m²).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này công bố chi tiết các bảng số liệu theo dõi thực nghiệm:
- Các giai đoạn sinh trưởng (Bảng 4.1): Thời gian từ trồng đến khi 80% số cây phân cành đạt từ 14 đến 19 ngày; thời gian ra nụ đầu tiên từ 47 đến 49 ngày; thời gian hé nở bông đầu tiên từ 66 đến 68 ngày; thời gian nở hoàn toàn bông đầu tiên từ 74 đến 75 ngày. Tác giả nhận định giá thể không làm thay đổi có ý nghĩa thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống hoa.
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây (Bảng 4.2): Cây tăng trưởng mạnh nhất ở giai đoạn 20–50 ngày sau trồng. Tại thời điểm 70 ngày sau trồng, chiều cao đạt từ 30,6 cm (CT4) đến 37,0 cm (CT1). Chiều cao cây cuối cùng dao động từ 33,8 cm đến 40,3 cm. Xử lý thống kê cho thấy sai khác giữa các công thức không có ý nghĩa (p > 0,05; LSD0,05 = 8,02 cm), khẳng định chiều cao cây do đặc tính di truyền của giống quy định là chủ yếu.
- Động thái ra lá (Bảng 4.3): Tốc độ ra lá tăng nhanh nhất ở giai đoạn 30–40 ngày sau trồng và ổn định sau 60 ngày. Tổng số lá cuối cùng trên cây dao động từ 12,53 lá (CT4) đến 13,47 lá (CT1), sai khác không có ý nghĩa thống kê giữa các công thức (p > 0,05).
- Đặc điểm cành cấp 1 (Bảng 4.4): Số cành cấp 1 dao động từ 1,33 đến 2,13 cành; CT2 đạt cao nhất (2,13 cành). Chiều cao phân cành dao động từ 11,25 cm (CT4) đến 17,33 cm (CT3); chiều dài cành cấp 1 đạt từ 13,20 cm (CT4) đến 19,10 cm (CT3). CT4 có chiều cao phân cành và chiều dài cành cấp 1 thấp hơn rõ rệt so với đối chứng ở độ tin cậy 95%.
- Năng suất hoa (Bảng 4.5): CT2 vượt trội ở các chỉ tiêu cấu thành năng suất: số nụ đạt 9,20 nụ/cây (đối chứng đạt 8,00 nụ/cây); số hoa nở đạt 5,06 hoa/cây (đối chứng đạt 3,80 hoa/cây; LSD0,05 = 1,14); số cây nở hoa thực thu đạt 48,0 cây/2 m² (tương ứng tỷ lệ cây nở hoa hữu hiệu đạt 96%, trong khi đối chứng chỉ đạt 76%). Tỷ lệ hoa hữu hiệu cao nhất thuộc về CT3 (58,51%), tiếp theo là CT2 (55,00%).
- Chất lượng cành hoa (Bảng 4.6): Các chỉ tiêu đường kính gốc (0,37–0,40 cm), đường kính ngọn (0,30–0,34 cm), chiều dài nụ (3,90–4,15 cm), chu vi nụ (4,70–4,80 cm) và đường kính hoa nở (7,06–7,63 cm) đều sai khác không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tuy nhiên, độ bền cành hoa có sự khác biệt rõ rệt: CT2 đạt độ bền hoa cắm lọ cao nhất với 13,67 ngày (đối chứng là 11,17 ngày) và độ bền hoa trên cây ngoài ruộng đạt 16,67 ngày (đối chứng là 15,20 ngày).
- Tình hình sâu bệnh hại: Không ghi nhận sự xuất hiện của các loài sâu hại và bệnh hại phổ biến trên tất cả các công thức thí nghiệm.
- Hiệu quả kinh tế (Bảng 4.7): Tính toán sơ bộ trên diện tích 100 m² cho thấy CT2 mang lại lãi thuần cao nhất, đạt 40.000 nghìn đồng (40 triệu đồng), cao hơn đối chứng (29.000 nghìn đồng), CT3 (33.000 nghìn đồng) và CT4 (28.000 nghìn đồng).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận đúc kết các kết luận cụ thể: giống Blue picotee pelleted có thời gian từ trồng đến nở hoa hoàn toàn từ 74–75 ngày; giá thể không làm ảnh hưởng đến chiều cao cây và số lá nhưng tác động trực tiếp đến số cành, số nụ, số hoa và hiệu quả kinh tế. Tác giả kiến nghị áp dụng công thức 25% giá thể + 75% đất vào sản xuất và đề xuất tiếp tục theo dõi thí nghiệm trong các vụ tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về phản ứng của giống hoa Cát Tường Blue picotee pelleted đối với các tỷ lệ phối trộn giá thể trong điều kiện nhà màng tại Thái Nguyên:
| Công thức thí nghiệm |
Chiều cao cây cuối cùng (cm) |
Tổng số lá (lá/cây) |
Số nụ/cây (nụ) |
Số hoa/cây (hoa) |
Tỷ lệ cây nở hoa (%) |
Độ bền hoa cắm lọ (ngày) |
Lãi thuần (đồng/100m²) |
| CT1 (100% đất - Đ/c) |
40,3 |
13,47 |
8,00 |
3,80 |
76,0 |
11,17 |
29.000 |
| CT2 (25% giá thể + 75% đất) |
35,2 |
13,20 |
9,20 |
5,06 |
96,0 |
13,67 |
40.000 |
| CT3 (50% giá thể + 50% đất) |
37,0 |
12,80 |
7,40 |
4,33 |
90,0 |
11,33 |
33.000 |
| CT4 (75% giá thể + 25% đất) |
33,8 |
12,53 |
7,20 |
3,67 |
86,0 |
11,25 |
28.000 |
| Sai khác thống kê (p) |
p > 0,05 |
p > 0,05 |
p < 0,05 |
p < 0,05 |
- |
p < 0,05 |
- |
Các giải pháp và kiến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất:
- Khuyến nghị ứng dụng công thức phối trộn CT2 (25% hỗn hợp giá thể gồm 1/3 trấu hun + 1/3 xơ dừa + 1/3 phân chuồng hoai mục kết hợp với 75% đất phù sa) trong quy trình trồng hoa Cát Tường dạng chậu vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên để tối ưu hóa năng suất và hiệu quả tài chính.
- Duy trì chế độ chăm sóc theo quy trình của Viện Nghiên cứu Rau Quả, kết hợp che phủ bảo vệ trong nhà màng plastic nhằm hạn chế tối đa nguy cơ bùng phát sâu bệnh hại trong mùa lạnh.
Đóng góp của đề tài:
- Đề tài đóng góp dẫn liệu khoa học thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ lệ giá thể hữu cơ (trấu hun, xơ dừa, phân hoai mục) phối trộn với đất đối với sinh trưởng của hoa Cát Tường tại khu vực trung du miền núi phía Bắc.
- Cung cấp cơ sở khoa học để thay thế tập quán canh tác tự phát bằng quy trình sử dụng giá thể chuẩn hóa, giúp nâng tỷ lệ cây nở hoa đạt tiêu chuẩn thương phẩm từ 76% lên 96%, đồng thời kéo dài tuổi thọ hoa cắm lọ thêm 2,5 ngày so với tập quán chỉ sử dụng đất truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được triển khai chặt chẽ nhưng có các hạn chế thực tế được xác định từ phạm vi nghiên cứu:
- Thí nghiệm mới được tiến hành trong phạm vi một vụ sản xuất duy nhất (vụ Đông Xuân 2015 – 2016), chưa đánh giá sự biến động qua nhiều chu kỳ thời tiết khác nhau.
- Đối tượng khảo nghiệm giới hạn trên một giống duy nhất (Blue picotee pelleted) trong điều kiện nhà màng plastic tại Khu công nghệ cao Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, chưa mở rộng đánh giá trên các giống Cát Tường khác hoặc trên điều kiện đồng ruộng không che phủ.
Hướng nghiên cứu tiếp theo do tác giả đề xuất:
- Cần tiếp tục duy trì và lặp lại thí nghiệm trong các năm tiếp theo nhằm kiểm chứng độ ổn định của công thức giá thể 25% giá thể + 75% đất.
- Mở rộng nghiên cứu ảnh hưởng của công thức giá thể kết hợp với các chế độ dinh dưỡng, phân bón qua lá và các giống hoa Cát Tường có màu sắc khác nhau để hoàn thiện quy trình canh tác toàn diện cho địa phương.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Hoa viên cây cảnh tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) trên đối tượng cây hoa trồng chậu.
- Các hộ nông dân, trang trại và hợp tác xã nông nghiệp tại các tỉnh phía Bắc có nhu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang hoa Cát Tường thương phẩm vụ Đông Xuân.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là chương tổng quan tài liệu (cung cấp nguồn trích dẫn phong phú về sinh lý ra hoa, bệnh học Fusarium, kỹ thuật bảo quản hoa cắt) và các bảng số liệu chi tiết ở Phần 4 về cấu thành năng suất, độ bền hoa cắt cắm lọ cùng phương pháp hạch toán kinh tế chi tiết trên đơn vị diện tích 100 m².
Câu hỏi thường gặp
1. Giống hoa Cát Tường được sử dụng trong thí nghiệm có đặc điểm gì và xuất xứ từ đâu?
Nghiên cứu sử dụng giống hoa Cát Tường Blue picotee pelleted (hoa màu trắng viền tím), do Công ty hạt giống hoa Việt Nam nhập nội từ Nhật Bản và gieo ươm tại Đà Lạt. Cây con đem trồng đạt tiêu chuẩn chiều cao từ 3–4 cm, có từ 2–3 cặp lá thật, được ươm trong khay xốp 209 lỗ.
2. Thành phần và tỷ lệ cụ thể của hỗn hợp giá thể đem phối trộn với đất gồm những gì?
Hỗn hợp giá thể được tạo thành từ 3 thành phần phối trộn theo tỷ lệ thể tích đồng đều: 1/3 trấu hun + 1/3 xơ dừa + 1/3 phân chuồng hoai mục. Hỗn hợp này sau đó được trộn với đất theo 3 tỷ lệ khảo nghiệm: 25% giá thể + 75% đất (CT2); 50% giá thể + 50% đất (CT3); và 75% giá thể + 25% đất (CT4), so sánh với đối chứng 100% đất (CT1).
3. Giá thể có ảnh hưởng như thế nào đến chiều cao cây và động thái ra lá của hoa Cát Tường?
Kết quả xử lý thống kê cho thấy giá thể không có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến chiều cao cây cuối cùng (dao động từ 33,8 cm đến 40,3 cm; p > 0,05) và tổng số lá trên thân (dao động từ 12,53 lá đến 13,47 lá/cây; p > 0,05). Chiều cao và số lá của cây Cát Tường chủ yếu do đặc tính di truyền của giống quy định.
4. Công thức giá thể nào cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế tối ưu nhất?
Công thức 2 (25% giá thể + 75% đất) cho kết quả tốt nhất ở hầu hết các chỉ tiêu: số nụ đạt 9,20 nụ/cây; số hoa nở đạt 5,06 hoa/cây; số cây nở hoa đạt 48 cây/2 m² (tỷ lệ đạt 96%); độ bền hoa cắm lọ dài nhất (13,67 ngày); độ bền hoa trên cây đạt 16,67 ngày; và mang lại lãi thuần cao nhất đạt 40.000 nghìn đồng/100 m².
5. Vì sao không ghi nhận sâu bệnh hại xuất hiện trong suốt quá trình thí nghiệm?
Trong suốt vụ Đông Xuân 2015 – 2016, không phát hiện sâu bệnh hại phổ biến trên tất cả các công thức thí nghiệm. Tác giả giải thích nguyên nhân là do giống Blue picotee pelleted có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt (phù hợp với công bố của Phan Ngọc Diệp, 2011), kết hợp với điều kiện canh tác trong nhà màng plastic cách ly nguồn dịch và thời tiết vụ Đông Xuân ít phát sinh sâu bệnh.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Phạm Việt Chinh đã đánh giá ảnh hưởng của các tỷ lệ phối trộn giá thể (trấu hun, xơ dừa, phân chuồng hoai mục và đất) đến giống hoa Cát Tường Blue picotee pelleted trồng chậu vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên. Kết quả khẳng định công thức phối trộn 25% giá thể + 75% đất đem lại ưu thế vượt trội về số nụ, số hoa, tỷ lệ nở hoa (96%), kéo dài độ bền hoa cắm lọ lên 13,67 ngày và tối ưu hóa lợi nhuận thực thu. Công trình cung cấp cơ sở thực nghiệm tin cậy cho sinh viên, cán bộ kỹ thuật và người sản xuất trong việc chuẩn hóa giá thể trồng hoa Cát Tường tại khu vực trung du miền núi phía Bắc.