Tổng quan luận án
Công trình khoa học của học viên Hoàng Văn Hải với đề tài "Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của phong tục tập quán người Thái Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái đến chăm sóc sức khỏe ban đầu, đề xuất một số giải pháp" được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đàm Khải Hoàn tại Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên (năm 2012). Công trình thuộc chuyên ngành Y tế công cộng (mã số: 62 72 76 01).
Văn bản luận án nêu rõ tính cấp thiết xuất phát từ thực trạng khu vực miền núi phía Bắc và Tây Bắc là địa bàn cư trú lâu đời của đồng bào dân tộc Thái gắn liền với nền văn hóa lúa nước. Trong đời sống truyền thống, người Thái đã tích lũy nhiều kinh nghiệm dân gian về chăm sóc sức khỏe, sử dụng cây thuốc nam trong rừng để đun nước uống, cầm máu, điều trị các bệnh mãn tính về đường tiêu hóa, hô hấp, da liễu và đã từng bước tiếp cận cơ sở y tế khi ốm đau. Những năm gần đây, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu đã được triển khai rộng khắp thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch hóa gia đình, truyền thông giáo dục sức khỏe. Tuy nhiên, tại thị xã Nghĩa Lộ (tỉnh Yên Bái) - nơi người Thái chiếm 48,3% dân số - chất lượng các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu vẫn gặp nhiều trở ngại do kinh tế chậm phát triển, mạng lưới dịch vụ y tế còn mỏng, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế xã và thôn bản còn hạn chế, dân trí chưa đồng đều. Đặc biệt, các phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại như hủ tục cúng ma khi ốm đau hoặc khi phụ nữ sinh con, thói quen tự ý lấy cây thuốc hoặc tự mua thuốc tân dược điều trị đến khi bệnh nguy kịch mới chuyển tuyến, tập quán nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn nhà, tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh thấp, việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ chưa hợp lý.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu hụt các nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về thực trạng triển khai các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu gắn liền với việc phân tích định lượng và định tính những phong tục tập quán đặc thù của người Thái tại địa bàn thị xã Nghĩa Lộ, từ đó cung cấp căn cứ thực tiễn để phân định rõ những tập quán có lợi cần phát huy và những tập quán có hại cần loại bỏ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng một số nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với người Thái ở thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái năm 2011.
- Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng và phong tục, tập quán của người Thái thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái. Đề xuất các giải pháp gìn giữ, phát huy những phong tục tập quán có lợi và từng bước loại bỏ tập quán có hại để chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người Thái ngày càng tốt hơn.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Người Thái và các hộ gia đình người Thái (tiêu chuẩn lựa chọn: toàn bộ thành viên trong hộ là người dân tộc Thái sinh sống từ 3 đời trở lên, trong hộ có trẻ em dưới 5 tuổi và người già trên 60 tuổi).
- Già làng, trưởng họ người Thái.
- Lãnh đạo cộng đồng cấp xã và thôn bản.
- Cán bộ y tế đang công tác tại trạm y tế xã.
- Các loại sổ sách, tài liệu lưu trữ liên quan đến chăm sóc sức khỏe ban đầu và phong tục tập quán của địa phương.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các hộ gia đình không phải là người Thái gốc trong xã và các hộ gia đình không có con nhỏ dưới 5 tuổi.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu được triển khai tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, tập trung khảo sát tại 2 xã chọn chủ đích đại diện là xã Nghĩa An (khu vực có trên 90% người Thái gốc sinh sống, dân số 4.213 người, 628 hộ) và xã Hạnh Sơn (xã vùng sâu của thị xã, dân số 5.379 người, 705 hộ, thu nhập bình quân 4,5 triệu đồng/người/năm, người Thái gốc chiếm trên 90%).
- Thời gian: Thu thập số liệu thực địa và đánh giá thực trạng được tiến hành trong năm 2011; luận án hoàn thành vào tháng 02 năm 2012.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả hệ thống hóa các định hướng lý luận, chính sách và công trình nghiên cứu trước đây về chăm sóc sức khỏe ban đầu trên thế giới và tại Việt Nam:
Về bối cảnh quốc tế, tác giả trích dẫn Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 của Tổ chức Y tế Thế giới xác định chiến lược toàn cầu "Sức khỏe cho mọi người đến năm 2000" với 7 nguyên tắc và 8 nội dung cốt yếu, sau đó được điều chỉnh thành chính sách "Sức khỏe của mọi người trong thế kỷ 21" vào năm 1998. Tác giả dẫn số liệu từ Hội nghị Nairobi năm 2000 về an toàn sinh đẻ ghi nhận khoảng 485.000 bà mẹ tử vong hàng năm liên quan đến thai nghén tại các nước đang phát triển; tỷ suất tử vong mẹ ở Đông Nam Á là 700/100.000, Băng-la-đét là 600/100.000, Trung Quốc là 200/100.000 và Việt Nam khoảng 110-130/100.000. Nghiên cứu của Kazuo Unemura chỉ ra tử vong mẹ ở Việt Nam giảm từ 110/100.000 năm 1997 với ước tính 2.200 - 2.800 ca tử vong mỗi năm. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, các nguyên nhân tử vong mẹ gồm: 22% do băng huyết, 20% do nguyên nhân gián tiếp, 15% do nhiễm khuẩn, 13% do nạo phá thai không an toàn, 9% do sản giật, 8% do đẻ khó và 8% do nguyên nhân khác.
Về bối cảnh trong nước, luận án viện dẫn các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước: Quyết định năm 1993 tại kỳ họp thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị định 37/CP ngày 20/6/1996 của Chính phủ định hướng chiến lược đến năm 2000 và 2020, Nghị quyết 46/NQ-TW của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, và Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tập trung cho miền núi phía Bắc. Luận án trích dẫn số liệu ước tính của Ngân hàng Thế giới cho biết Việt Nam có 28 triệu người nghèo (trên tổng số hơn 86 triệu dân), trong đó 90% sống ở nông thôn và miền núi.
Luận án tổng hợp số liệu từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 về tình hình tử vong trẻ em và suy dinh dưỡng trên các vùng sinh thái:
| Chỉ số theo dõi |
Toàn quốc (2009) |
Tây Bắc (2005) |
Tây Bắc (2009) |
Đông Bắc (2009) |
Tây Nguyên (2009) |
| Tỷ suất tử vong trẻ < 1 tuổi (‰) |
16,0 |
33,9 |
24,5 |
24,5 |
27,3 |
| Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ < 5 tuổi (%) |
18,9 |
30,4 |
24,6 |
22,3 |
28,5 |
Báo cáo chương trình "Giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh" năm 2009 tại 14 tỉnh miền núi ghi nhận nguy cơ tử vong mẹ chung là 1/521 phụ nữ trong độ tuổi 15-49, trong đó Điện Biên có nguy cơ cao nhất (1/148), Lai Châu (1/218), Gia Lai (1/271), trong khi Lạng Sơn thấp nhất (1/3.567). Đáng chú ý, tài liệu trích dẫn phản ánh 100% phụ nữ tại Sìn Hồ (Lai Châu) sinh con tại nhà và không khám thai.
Về thực trạng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, nghiên cứu của Đơn vị Chính sách - Bộ Y tế trên 7 vùng sinh thái ghi nhận tỷ lệ hộ gia đình sử dụng dịch vụ y tế xã đạt 23,5%/tháng; tự mua thuốc điều trị chiếm 45,2% - 46,6%, khám tư nhân chiếm 17,6% - 18,9% và khám tại trạm y tế chỉ chiếm 12,9% - 14,2%. Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hiền (2000) tại huyện Bắc Hà (Lào Cai) chỉ ra khoảng cách trung bình từ nhà đến trạm y tế là 3,45 km và trung bình một cán bộ y tế phải đảm nhận địa bàn rộng 10,45 km². Nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn và cộng sự về cộng đồng người Thái tại Sơn La cung cấp các thông số tham chiếu về tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em (35%) và chỉ số thể lực của thanh thiếu niên. Về mặt nhân học, tác giả điểm lại các công trình của Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Phan Hữu Dật về phân bố cư trú, lịch sử thiên di của các nhóm Thái Trắng, Thái Đen, Thái Đỏ.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là đánh giá chuyên biệt tại thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái) - một thung lũng lòng chảo có điều kiện kinh tế - xã hội đan xen giữa thuần nông và đô thị hóa - nhằm phân tích trực tiếp tác động của các phong tục tập quán người Thái (nhà ở, vệ sinh, cúng bái, nuôi con) đến việc thực hiện 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng định nghĩa và khung khái niệm của Tuyên ngôn Alma-Ata (1978) về chăm sóc sức khỏe ban đầu gồm những chăm sóc thiết yếu dựa trên cơ sở thực tiễn, khoa học, được xã hội chấp nhận, phổ biến rộng rãi với chi phí cộng đồng có thể chi trả. Tại Việt Nam, hệ thống gồm 10 nội dung (bổ sung 2 nội dung đặc thù là củng cố mạng lưới y tế cơ sở và quản lý sức khỏe).
Luận án chuẩn hóa các khái niệm và biến số nghiên cứu:
- Giếng nước đủ tiêu chuẩn vệ sinh: Giếng xây, cách nguồn ô nhiễm $\ge$ 10 mét, sâu $\ge$ 5 mét, bờ giếng cao $\ge$ 70 cm, sân giếng rộng $\ge$ 1 mét, có hệ thống thoát nước, có cần vọt và cọc treo gầu theo quy định của Bộ Y tế.
- Hố xí hợp vệ sinh: Các loại hố xí tự hoại, bán tự hoại và hố xí hai ngăn xây đúng quy cách kỹ thuật, không làm phát tán mầm bệnh ra môi trường.
- Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ: Trẻ được bú sớm (trong vòng 6 giờ đầu sau sinh); trẻ ăn sam đúng (bắt đầu ăn bổ sung từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6); trẻ cai sữa đúng (thôi bú mẹ sau tháng thứ 12).
- Dịch vụ thai sản và sinh đẻ: Khám thai đầy đủ (từ 3 lần trở lên trong thai kỳ); tiêm phòng uốn ván đầy đủ (từ 2 mũi trở lên); sinh đẻ tại cơ sở y tế hoặc đẻ tại nhà có cán bộ y tế đỡ.
- Nhóm biến số kinh tế - văn hóa: Phân loại học vấn (mù chữ, biết đọc biết viết, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông); thu nhập bình quân đầu người/tháng (< 400.000 đồng và $\ge$ 400.000 đồng); khoảng cách đến trạm y tế xã (< 5 km và $\ge$ 5 km); phương tiện truyền thông (có đài, vô tuyến hoặc báo sức khỏe).
Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế điều tra cắt ngang có phân tích, kết hợp đồng thời phương pháp định lượng và phương pháp định tính.
Phương pháp chọn mẫu định lượng:
- Mẫu điều tra hộ gia đình: Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể:
$$n = Z^2_{1-\alpha/2} \cdot \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Với mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$ ($Z = 1,96$), sai số tuyệt đối $d = 0,05$, chọn $p = 0,5$ để cỡ mẫu đạt cực đại, tính ra $n = 384$, làm tròn thành 400 hộ gia đình (mỗi xã 200 hộ). Thực tế tác giả đã thu thập thông tin trên 433 hộ gia đình người Thái. Kỹ thuật chọn mẫu: Lập danh sách các hộ gia đình đủ tiêu chuẩn (có con dưới 5 tuổi và người già trên 60 tuổi) tại 2 xã Nghĩa An và Hạnh Sơn, sau đó chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo khoảng cách mẫu.
- Mẫu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi: Áp dụng công thức trên với $p = 0,35$ (theo tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em người Thái trong nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn tại Sơn La) và sai số $d = 0,035$, tính được cỡ mẫu lý thuyết là $n = 742$ trẻ. Thực tế nghiên cứu đã tiến hành cân đo toàn bộ 754 trẻ em dưới 5 tuổi đang được quản lý trong chương trình phòng chống suy dinh dưỡng tại 2 xã.
- Mẫu đánh giá thể lực học sinh: Áp dụng công thức chọn mẫu với $p = 0,5$, cỡ mẫu tính toán cho 2 trường tiểu học và 2 trường trung học cơ sở là 900 học sinh. Thực tế điều tra cân đo được 940 học sinh người Thái (độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi).
Phương pháp chọn mẫu định tính:
- Phỏng vấn sâu: Chọn chủ đích 36 cá nhân gồm 12 già làng, 12 trưởng họ và 12 trưởng thôn bản tại 2 xã.
- Thảo luận nhóm: Tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm (mỗi xã 3 cuộc, quy mô 10 - 15 người/cuộc) bao gồm: 1 nhóm đại diện lãnh đạo cộng đồng và cán bộ y tế xã; 1 nhóm đại diện người cao tuổi; 1 nhóm đại diện các bà mẹ nuôi con nhỏ.
Kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu
- Thu thập dữ liệu: Sử dụng phiếu điều tra hộ gia đình phỏng vấn trực tiếp chủ hộ kết hợp quan sát; phiếu cân đo nhân trắc học sinh và trẻ dưới 5 tuổi kết hợp phỏng vấn người chăm sóc; hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
- Xử lý số liệu: Số liệu định lượng được làm sạch tại thực địa và xử lý bằng phương pháp thống kê y học trên phần mềm EPI-INFO 6. Sử dụng các thuật toán tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và kiểm định mối liên quan bằng giá trị $p$.
- Kiểm soát sai số: Huấn luyện điều tra viên, chuẩn hóa bộ công cụ thu thập, làm sạch phiếu tại chỗ.
- Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được giải thích rõ mục đích, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tôn trọng đối tượng, và tiến hành tư vấn truyền thông sức khỏe trực tiếp sau khi hoàn thành khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề
Phần Đặt vấn đề thiết lập cơ sở thực tiễn của đề tài, nêu bật địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc Thái tại miền núi phía Bắc gắn với văn hóa lúa nước. Tác giả chỉ rõ mâu thuẫn giữa một bên là kinh nghiệm chữa bệnh bằng cây cỏ dân gian và sự quan tâm của mạng lưới y tế, với một bên là các hủ tục cúng ma, tự điều trị thuốc chậm trễ, nuôi gia súc dưới gầm sàn và sinh nở tại nhà gây ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng người bệnh. Đề tài xác lập 2 mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng chăm sóc sức khỏe ban đầu và ảnh hưởng của phong tục tập quán tại thị xã Nghĩa Lộ năm 2011.
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 khái quát lịch sử phát triển của phong trào chăm sóc sức khỏe ban đầu từ Hội nghị Alma-Ata (1978) đến chương trình hành động thế kỷ 21, phân tích 7 nguyên tắc và 8 nội dung cốt yếu cùng 2 nội dung bổ sung đặc thù tại Việt Nam. Tác giả phân tích chi tiết tình hình thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Việt Nam và khu vực miền núi phía Bắc, điểm lại các chỉ số sức khỏe quốc gia (tuổi thọ trung bình năm 2009 đạt 72,8 tuổi nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ đạt 66 tuổi, xếp thứ 116/182 quốc gia). Chương này phân tích các yếu tố tác động như kinh tế, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận dịch vụ, các rào cản địa lý và phân loại các nhánh dân tộc Thái (Thái Đen, Thái Trắng, Thái Đỏ) cùng các phong tục tập quán gắn với nhà sàn, nguồn nước, cúng bái và sinh đẻ.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn thị xã Nghĩa Lộ (vùng lòng chảo Mường Lò, cao trung bình 250m, khí hậu nhiệt độ trung bình 22,5°C, có trên 1.700 giờ nắng/năm, dân số 28.048 người với 48,3% là người Thái) cùng đặc điểm kinh tế - xã hội của 2 xã nghiên cứu là Nghĩa An và Hạnh Sơn. Chương này trình bày đầy đủ thiết kế nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, công thức tính toán cỡ mẫu cho 433 hộ gia đình, 754 trẻ em dưới 5 tuổi và 940 học sinh phổ thông; đồng thời mô tả cấu trúc 36 cuộc phỏng vấn sâu và 6 cuộc thảo luận nhóm, các tiêu chuẩn định nghĩa biến số và quy trình xử lý dữ liệu qua phần mềm EPI-INFO 6.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các kết quả điều tra thực chứng tại thị xã Nghĩa Lộ:
Về thể lực của học sinh tiểu học người Thái (Bảng 3.1):
Khảo sát trên học sinh tiểu học từ 6 đến 10 tuổi cho thấy các chỉ số nhân trắc tăng đều theo từng nhóm tuổi:
| Lứa tuổi |
Chiều cao trung bình (cm) |
Cân nặng trung bình (kg) |
| 6 tuổi |
$109 \pm 53$ |
$16,5 \pm 0,2$ |
| 7 tuổi |
$115 \pm 43$ |
$18,4 \pm 0,2$ |
| 8 tuổi |
$119 \pm 39$ |
$20,1 \pm 0,2$ |
| 9 tuổi |
$123 \pm 54$ |
$21,8 \pm 0,3$ |
| 10 tuổi |
$128 \pm 55$ |
$24,0 \pm 0,3$ |
Chiều cao của học sinh tiểu học tăng trung bình từ 4 đến 6 cm sau mỗi năm tuổi, trong khi cân nặng tăng trung bình từ 2 đến 3 kg mỗi năm.
Về thể lực của học sinh trung học cơ sở người Thái (Bảng 3.2):
Khảo sát trên nhóm học sinh từ 11 đến trên 14 tuổi ghi nhận các thông số tăng trưởng thể chất:
| Lứa tuổi |
Chiều cao trung bình (cm) |
Cân nặng trung bình (kg) |
| 11 tuổi |
$132 \pm 62$ |
$25,7 \pm 0,3$ |
| 12 tuổi |
$139 \pm 58$ |
$29,1 \pm 0,4$ |
| 13 tuổi |
$145 \pm 23$ |
$32,4 \pm 0,5$ |
| $\ge$ 14 tuổi |
$150 \pm 97$ |
$37,7 \pm 0,6$ |
Chiều cao tăng từ 1,3 m lên 1,5 m (trung bình tăng 5 - 6 cm mỗi tuổi) và cân nặng tăng từ 25,7 kg lên 37,7 kg (tăng trung bình khoảng 2 - 3 kg mỗi tuổi).
Về tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi:
Kết quả cân đo đánh giá dinh dưỡng trên toàn bộ 754 trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã điều tra cho thấy sự khác biệt về phân bố dinh dưỡng:
| Tình trạng dinh dưỡng |
Xã Hạnh Sơn ($n = 487$) |
|
Xã Nghĩa An ($n = 267$) |
|
Giá trị $p$ |
|
Số lượng (SL) |
Tỷ lệ (%) |
Số lượng (SL) |
Tỷ lệ (%) |
|
| SDD thể nhẹ cân (Cân nặng/tuổi) |
193 |
39,6 |
90 |
33,7 |
$p < 0,05$ |
| SDD thể thấp còi |
185 |
38,0 |
94 |
35,2 |
$p > 0,05$ |
| Thừa cân |
5 |
1,0 |
4 |
1,5 |
$p > 0,05$ |
| Bình thường |
283 |
58,1 |
164 |
61,4 |
- |
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân tại xã vùng sâu Hạnh Sơn (39,6%) cao hơn xã Nghĩa An (33,7%) có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$). Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở cả 2 xã đều ở mức cao (38,0% tại Hạnh Sơn và 35,2% tại Nghĩa An), sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$). Tỷ lệ trẻ thừa cân tại cộng đồng người Thái rất thấp (1,0% và 1,5%).
Bên cạnh số liệu nhân trắc, Chương 3 thống kê các mối liên quan giữa điều kiện kinh tế - văn hóa, công trình vệ sinh với mô hình bệnh tật trong 2 tuần (sốt ho, tiêu chảy, đau bụng, đau lưng khớp, bệnh ngoài da, bệnh mắt); phân tích tỷ lệ các hộ tự mua thuốc, dùng thuốc nam, cúng bái chữa bệnh, và các yếu tố ảnh hưởng đến việc khám thai đủ 3 lần, đẻ tại nhà, cho trẻ bú sớm sau đẻ, ăn sam chưa đúng thời điểm và cai sữa sớm.
Một số giải pháp gìn giữ và phát huy những phong tục tập quán
Chương này tổng hợp các nhóm giải pháp xuất phát từ kết quả điều tra:
- Phát huy các bài thuốc dân gian và tri thức sử dụng cây thuốc nam của người Thái trong điều trị bệnh thông thường (tiêu hóa, chấn thương, hô hấp).
- Đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp tập quán văn hóa dân tộc, nâng cao hiểu biết về vệ sinh nguồn nước, xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, di dời chuồng trại gia súc ra xa gầm sàn nhà ở.
- Từng bước xóa bỏ các hủ tục cúng ma khi ốm đau, vận động chuyển viện kịp thời và nâng cao tỷ lệ sinh đẻ tại trạm y tế, thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ đúng khoa học.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt khoa học thực tiễn đối với hệ thống y tế cơ sở vùng dân tộc thiểu số:
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng hoàn chỉnh về các chỉ số nhân trắc học sinh người Thái (từ 6 đến 14 tuổi) và tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại thị xã Nghĩa Lộ năm 2011, xác nhận sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giữa xã vùng sâu Hạnh Sơn (39,6%) và xã đồng bằng ven thị Nghĩa An (33,7%, $p < 0,05$).
- Phân tích và lượng hóa các mối liên quan giữa phong tục tập quán đặc thù của người Thái (nhà sàn, chăn nuôi gia súc sát nơi ở, tập quán sinh đẻ tại nhà, hủ tục cúng ma, kiêng khem sau sinh) với các rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ y tế dự phòng và khám chữa bệnh ban đầu.
- Ghi nhận và hệ thống hóa giá trị tích cực của các kinh nghiệm y học cổ truyền người Thái (sử dụng thảo dược tự nhiên trị các bệnh tiêu hóa, hô hấp, cầm máu, trị rắn cắn, bó gãy xương), định vị vai trò của việc kết hợp y học dân tộc với y học hiện đại ngay tại trạm y tế xã.
Các kiến nghị, giải pháp được đề xuất:
- Kiến nghị ngành y tế tổ chức nghiên cứu khoa học, hội thảo chuyên môn nhằm đánh giá, nghiệm thu và phổ biến các bài thuốc nam hiệu nghiệm của người Thái vào danh mục điều trị ban đầu tại tuyến xã.
- Đẩy mạnh truyền thông trực tiếp thông qua người có uy tín trong dòng họ, già làng, trưởng bản; biên soạn tài liệu truyền thông song ngữ hoặc bằng tiếng Thái nhằm thay đổi nhận thức về hủ tục cúng ma và đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế sớm.
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ y tế xã, nhân viên y tế thôn bản nhằm tạo niềm tin, nâng cao tỷ lệ phụ nữ đến khám thai, sinh con tại trạm và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án cho thấy một số giới hạn gắn liền với phạm vi và thiết kế:
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả tại thời điểm năm 2011 chỉ phản ánh mối liên quan giữa các yếu tố văn hóa - xã hội với hành vi sức khỏe chứ chưa khẳng định được mối quan hệ nhân quả tuyệt đối theo thời gian.
- Địa bàn khảo sát tập trung tại 2 xã thuộc thị xã Nghĩa Lộ trên nhóm đối tượng đặc thù là các hộ gia đình người Thái gốc (có con nhỏ dưới 5 tuổi và người già trên 60 tuổi), do đó các phát hiện phản ánh đặc thù địa phương và chưa khái quát hóa cho toàn bộ các nhóm dân tộc thiểu số khác tại vùng Tây Bắc.
- Dữ liệu nghiên cứu định tính dựa trên phỏng vấn sâu 36 người có uy tín và 6 cuộc thảo luận nhóm mang tính chất phản ánh nhận thức xã hội tại cộng đồng nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp được xác định gồm: Triển khai các nghiên cứu can thiệp thử nghiệm cộng đồng có đối chứng để đánh giá hiệu quả của các mô hình truyền thông thay đổi hành vi y tế; tiến hành nghiên cứu dược lý thực nghiệm để chuẩn hóa các bài thuốc dân gian người Thái phục vụ việc ứng dụng lâm sàng tại y tế cơ sở.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và chuyên khoa ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp chặt chẽ giữa dịch tễ học mô tả định lượng (chọn mẫu hệ thống, tính toán cỡ mẫu cho hộ gia đình, nhân trắc học sinh và trẻ em) với phương pháp nghiên cứu định tính xã hội học y tế (phỏng vấn sâu già làng, trưởng bản, thảo luận nhóm) trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Đối với cán bộ quản lý ngành y tế và chính quyền địa phương: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về khoảng cách y tế giữa các xã vùng sâu và xã trung tâm, giúp hoạch định các chính sách đầu tư mạng lưới y tế cơ sở, chương trình nước sạch - vệ sinh môi trường nông thôn miền núi.
- Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản là hệ thống bảng biểu điều tra nhân trắc học sinh người Thái, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em và các định nghĩa chuẩn hóa biến số điều tra hộ gia đình vùng cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục tiêu và cỡ mẫu điều tra hộ gia đình của luận án được xác định như thế nào?
Luận án xác định 2 mục tiêu: (1) Đánh giá thực trạng một số nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với người Thái ở thị xã Nghĩa Lộ năm 2011; (2) Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, phong tục tập quán và đề xuất giải pháp can thiệp. Cỡ mẫu điều tra hộ gia đình được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ với $p = 0,5$, $d = 0,05$, cho ra cỡ mẫu lý thuyết 384 hộ, làm tròn 400 hộ (mỗi xã 200 hộ). Thực tế đã điều tra 433 hộ gia đình người Thái gốc có trẻ dưới 5 tuổi và người già trên 60 tuổi tại 2 xã Nghĩa An và Hạnh Sơn.
2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi người Thái tại hai xã nghiên cứu có kết quả cụ thể ra sao?
Khảo sát trên 754 trẻ em dưới 5 tuổi ghi nhận: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân tại xã Hạnh Sơn là 39,6% (193 trẻ), cao hơn rõ rệt so với xã Nghĩa An là 33,7% (90 trẻ) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$). Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở xã Hạnh Sơn là 38,0% (185 trẻ) và xã Nghĩa An là 35,2% (94 trẻ), khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$). Tỷ lệ trẻ thừa cân tại 2 xã rất thấp, lần lượt là 1,0% (5 trẻ) và 1,5% (4 trẻ).
3. Các chỉ số thể lực (chiều cao, cân nặng) của học sinh người Thái phát triển như thế nào qua các độ tuổi?
Kết quả cân đo 940 học sinh người Thái cho thấy: Học sinh tiểu học từ 6 đến 10 tuổi có chiều cao tăng từ $109 \pm 53$ cm lên $128 \pm 55$ cm (trung bình tăng 4 - 6 cm/tuổi) và cân nặng tăng từ $16,5 \pm 0,2$ kg lên $24,0 \pm 0,3$ kg (tăng 2 - 3 kg/tuổi). Học sinh trung học cơ sở từ 11 đến trên 14 tuổi có chiều cao tăng từ $132 \pm 62$ cm lên $150 \pm 97$ cm (tăng 5 - 6 cm/tuổi) và cân nặng tăng từ $25,7 \pm 0,3$ kg lên $37,7 \pm 0,6$ kg (tăng khoảng 2 - 3 kg/tuổi).
4. Luận án chỉ ra những phong tục tập quán nào có lợi và những tập quán nào có hại cho sức khỏe?
- Tập quán có lợi: Người Thái có truyền thống lưu giữ các bài thuốc nam, kinh nghiệm hái lượn thảo dược rừng để chữa trị các bệnh tiêu hóa, hô hấp, da liễu, cầm máu, rắn cắn và bó xương gãy; kiến trúc nhà sàn mái cao, thoáng mát, nhiều cửa sổ giúp không gian sống sáng sủa.
- Tập quán có hại: Hủ tục cúng ma khi gia đình có người ốm đau hoặc phụ nữ sinh đẻ; tự ý mua thuốc tân dược hoặc tự dùng cây thuốc điều trị tại nhà đến khi nguy kịch mới đi viện; nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn; đun bếp củi trong nhà gây ô nhiễm hô hấp; phóng uế bừa bãi và dùng nguồn nước suối chưa vệ sinh; tập quán sinh con tại nhà, cho trẻ ăn sam sớm và cai sữa sớm trái với khuyến cáo nuôi con bằng sữa mẹ.
5. Số liệu tổng quan về tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và suy dinh dưỡng vùng Tây Bắc giai đoạn 2005-2009 được ghi nhận như thế nào?
Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 được trích dẫn trong luận án: Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi tại vùng Tây Bắc đã giảm từ 33,9‰ (năm 2005) xuống 24,5‰ (năm 2009), tuy nhiên vẫn cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn quốc là 16,0‰. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại vùng Tây Bắc giảm từ 30,4% (năm 2005) xuống 24,6% (năm 2009), cao hơn đáng kể so với mức bình quân toàn quốc là 18,9%.
Kết luận
Luận án của học viên Hoàng Văn Hải đã phản ánh thực trạng triển khai các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu tại thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái năm 2011 thông qua các số liệu điều tra dịch tễ học và nhân trắc học cụ thể. Công trình đã làm rõ tính hai mặt trong đời sống văn hóa của người Thái, phân định rõ các kinh nghiệm y học dân gian quý báu cần bảo tồn song song với việc nhận diện các tập quán vệ sinh, sinh đẻ và cúng bái lạc hậu cần xóa bỏ. Các giải pháp do tác giả đề xuất bám sát thực tiễn y tế cơ sở, hướng tới mục tiêu nâng cao sức khỏe cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi phía Bắc.