Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tổng quan sơ lược về cây cà chua 1.1 Nguồn gốc và phân loại Theo Võ Van Chi (1997), cà chua có vi ngọt, tính mát, có tác dụng tạo năng lượng, tăng sức sống làm cân bằng tế bao, giải nhiệt, chống hoại huyết, kháng khuẩn, chống độc, kiềm hóa máu do axit, hòa tan ure, thải ure, điều hòa bài tiết, giúp tiêu hóa dé dàng các loại tinh bột và bột. Dùng ngoài dé chữa trứng cá, mụn nhọt, viêm tay và dùng lá dé trị các vết đốt do sâu bọ. Nguồn gốc: Cà chua có nguồn gốc ở Peru, Ecuador, Bolivia. Những loại cà chua hoang đại gần gũi với cà chua trồng trọt ngày nay vẫn còn được tìm thấy ở dọc theo dãy núi Anđơ (Peru), Ecuador, Bolivia.
Các nhà thực vật học De Candolle (1884), Mulle (1940), Luckwill (1943) đều thống nhất cho rằng cây cà chua có nguồn gốc ở bán đảo Galanpagos bên bờ biển Nam Mỹ ở Peru, Ecuador, Chilé. Tuy nhiên, Méhicé là đất nước đầu tiên trồng trọt hóa cây cà chua (PROSEA, 1999: Trần Khắc Thi và Mai Thị Phương Anh, 2003). Phân loại: Ca chua thuộc họ cà (Solanaceae), chi Lycopersicon gồm 12 loài tất cả đều có nguồn gốc ở châu Mỹ. Có nhiều tác giả đưa ra các phân loại cà chua, nhưng cho đến nay hệ thống phân loại của I.
Libner Nonnecker (1989) được sử dụng đơn giản và rộng rãi nhất. Chi Lycopersicon có hai chi phụ. Chi phụ Eulycopersicon (Qua đỏ): Quả thường không có lông, màu đỏ hoặc đỏ vàng, hạt to, hoa to, chùm hoa không có lá bao. La cây trồng hàng năm, gồm2 loài phụ: L.
escu/enfun (cà chua thông thường) và L. Chi phụ Eriopersicon: (qua không bao giờ chín đỏ, luôn có màu xanh, có sọc tía, có lông, chùm hoa có lá bao, hạt nhỏ) gồm có 5 loài hoang dai: L.2 Đặc điểm thực vật học Theo Tạ Thu Cúc (2005); Phạm Hữu Nguyên (2021), đặc điểm sinh vật học của cây cà chua: Rễ: thuộc loại rễ chùm có khả năng phát triển sâu và mạnh. Rễ chính phát triển nhanh thời gian đầu ăn sâu vào đất, rễ phụ phát triển chậm nhưng thời gian sau phát triển mạnh theo chiều ngang. Hệ ré phát triển chủ yếu ở tang đất 0 - 30 cm nhưng có thé ăn sâu đên 1,5 m.
Thân: thuộc loại thân bụi, lúc còn nhỏ toàn thân phủ lớp lông tờ mềm, chứa nhiều nước có dạng hình tròn hoặc hình bầu dục, giòn dễ gãy. Khi cây lớn, thân phát triển mạnh hóa gỗ ở gốc và dạng thân có góc cạch, lồi lõm khác nhau. Trên thân có nhiều đốt và dựa vào chiều cao thân cây chia ra có hai dạng sinh trưởng. Lá: thuộc loại lá kép lông chim lẻ, mỗi lá kép có từ 3 - 4 đôi lá chét, ở ngon có một phần lá riêng biệt gọi là lá đỉnh.
Mỗi chét lá có răng cưa sâu nông khác nhau tùy các giống biến chủng, trên mặt lá còn có một lớp lông tơ. Hoa: Hoa mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phan la chinh. Su thu phan chéo ở cà chua khó xảy ra vì hoa ca chua tiết nhiều tiết tố chứa các Alkaloid độc nên không hấp dẫn côn trùng và hạt phấn nặng không bay xa được. Số lượng hoa trên chùm thay đổi tùy giống và thòi tiết, thường từ 5 - 20 hoa.
Đài hoa có 5 - 7 đài hoa hoặc nhiều hơn với kích thước đài hoa tùy vào giống. Số lượng cánh hoa phù hợp với số lượng đài hoa và ở phần gốc của hoa gắn liền với nhau Nhị có cuống ngắn, dính vào gốc cánh hoa và thường lớn hơn 8 nhị đực hợp thành 2 - 3 bó nhị và cao hơn nhụy. Đặc điểm ra hoa và nở hoa của cây cà chua: Chùm hoa đầu tiên hình thành và nở sau khi trồng khoảng 20 - 30 ngày va sau 9 - 10 ngày là chùm thứ 2, 6 - 8 ngày là chùm hoa thứ 3. Khi cây hoàn chỉnh cành hoa nở 45° so với trục, lúc này hạt phẩm nảy mam tốt nhất.
Nhuy cái chỉ tiếp nhận hạt phan trong thời gian 4 ngày kê từ hoa bắt đầu nở. Ở vùng ôn đới, tỷ lệ thụ phấn chéo khoảng 0,5 - 4% ở vùng nhiệt đới tỷ lệ nảy cao hơn khoảng 10 - 15% (Tạ Thu Cúc, 2001) do nhiệt độ cao thì vòi nhụy cái sẽ vươn cao hơn nhị đực. Có 5 bước phân hóa mầm hoa: phân hóa mầm hoa từ điểm sinh trưởng, hình thành đài và tràng hoa nguyên thủy, hình thành chùm hoa, hình thành những hoa riêng biệt, hình thành hoa hoàn chỉnh. Thời gian phân hóa từ 1 - 4 ngày khoảng 35 ngày tư khi hạt nảy mam.
Nêu trồng trễ, phân hóa sẽ say ra ở vườn ươm. Căn cứ vào đặc diém ra hoa, cà chua có thê chia ra 3 loại hình sinh trưởng: Loại hình sinh trưởng hữu hạn: Cây thấp, vị trí chùm hoa thứ nhất thấp, khoảng cách giữa các lóng ngắn, chùm hoa thứ nhất thường xuất hiện sớm. Khi trên thân chính có 7 - 8 lá thật. Sau đó cứ 1 - 2 lá có chùm hoa kế tiếp, cho đến khi có 3 - 4 chùm thì đỉnh sinh trưởng có chùm hoa cuối cùng, cây ngừng sinh trưởng chiều cao.
Loại này có các giống ngắn ngày, ra hoa, quả tập trung, năng suất không cao. Do vậy trong sản xuất cần tăng số nhánh/gốc, không cần phải làm giàn, có thé thu hoạch bằng cơ giới. Loại hình sinh trưởng bán hữu hạn: Cây thấp, những giống thuộc loại hình này về căn bản cũng giống như loại hình sinh trưởng hữu hạn nhưng khi trên thân chính có 7 - 8 lá thật (có khi 9 - 10 1a) thật thì có chùm hoa thứ nhất, sau đó cứ cách 1 - 2 lá (có khi 2 - 3 lá) có chùm hoa tiếp theo cho đến khi trên thân chính có tới 7 - 8 chùm hoa (cây cho nhiều chùm hoa hơn hữu hạn) thì chiều cao ngừng sinh trưởng bởi kết thúc chùm hoa ở đỉnh sinh trưởng. Loại hình sinh trưởng vô hạn: Cây cao, cành lá sinh trưởng tốt, sum xuê, có thể cao hơn 2 m, khoảng cách giữa các lóng dải, vị trí chùm hoa thứ nhất cao.
Khi trên thân chính có 9 - 10 lá thật (có khi 10 - 12 lá) thì xuất hiện chùm hoa thứ nhất. Sau đó cứ cách 2 - 3 lá có chùm hoa tiếp theo và tiếp tục như vậy cho đến khi cây già hoặc không đủ các yếu tô nước, đinh dưỡng thì cây ngừng sinh trưởng. Trong 1 chu kỳ sinh trưởng trên thân chính đạt tới 12 - 13 chùm hoa hoặc nhiều hơn. Loại hình này thường là những giống dai ngày, thân tăng trưởng mạnh, tái tạo nhánh mới va ra hoa nhiều, có khả năng cho năng suất rất cao, chất lượng tốt nhưng trong sản xuất cần phải lam giàn, tỉa nhánh, tỉa hoa, tỉa quả.
Quả: Cà chua thuộc loại quả mọng, nhiều nước chia ra nhiều ô (buồng hạt, tâm bì). Hình dạng và màu sắc quả phụ thuộc vào từng giống. Ngoài ra, màu sắc quả chín còn phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, phụ thuộc vào hàm lượng Caroten va Lycopen. Ở nhiệt độ 30°C trở lên, sự tổng hợp lycopen bị ức chế, trong khi đó sự tổng hợp ở caroten không man cảm với tác động của nhiệt độ, vì thé ở mùa nóng cà chua có mau quả chín vàng hoặc đỏ vàng.
Số lượng quả/cây tương quan rất chặt với năng suất. Trọng lượng qua ca chua dao động rat lớn từ 3 - 200 g thậm chí 500 g phụ thuộc vào giống. Hạt: Hạt cà chua nhỏ, đẹp, có nhiều lông và một quả chứa khoảng 50 - 350 hạt và bên ngoài hạt có chưa lớp acid amin rat dé hút 4m, khó bảo quan và mặt khác trong quả có chứa dịch tế bao có chất kìm hãm sự nảy mam thế nên cần rửa đúng quy trình đảm bảo hạt giống tốt nhất, nhưng vẫn còn yếu tố ảnh hưởng là điều kiện thời tiết, đặc biệt là nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng và màu sắc hạt. Nhiệt độ thấp làm cho màu sắc hạt đen, tỉ lệ nảy mam va năng suất thấp, phát duc tốt nhất ở 22°C.
Nay mam 4 - 5 ngày sau gieo và lá thật xuất hiện khoảng 1 tuần sau đó.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh Nhiệt độ: Cà chua thuộc nhóm cây ưa khí hậu ấm áp, thích nghi rộng, chịu được nhiệt độ cao nhưng man cảm với rét. Cà chua sinh trưởng bình thường trong phạm vi nhiệt độ 15 - 35°C, thích hợp nhất 22 - 24°C, nhiệt độ tối thấp là 10°C. Hạt nảy mầm thích hợp và nở hoa ở 25 - 30°C, nhiệt độ thích hợp cho đậu quả: ban ngày 25°C và ban đêm 15 - 20°C và thời gian ra hoa đến qua lớn cây rất man cảm với nhiệt độ cao, trên 35°C các sắc tố bị phân giải. Ánh sáng: Cây cà chua là cây ưa sáng nhưng không phản ứng với độ dài ngày, các giống khác nhau không yêu cầu thời gian chiếu sáng không khác nhau lắm.
Cây con trong vườn ươm nếu đủ ánh sáng (5000 lux) sẽ cho chất lượng tốt, cứng cây, bộ lá to khoẻ. Ngoài ra ánh sáng tốt, cường độ quang hợp tăng, cây ra hoa đậu quả sớm hơn, chất lượng sản phẩm cao hon. Theo Kuddirijavcev (1964), Binchy và Morgan (1970) cho rằng cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây cà chua. Điểm bão hoà ánh sáng của cây cà chua là 70.
Cường độ ánh sáng yếu làm chậm quá trình sinh trưởng và cản trở quá trình ra hoa. Trong điều kiện thiếu ánh sáng năng suất cà chua thường giảm, do vậy việc trồng thưa làm tăng hiệu qua sử dung ánh sáng kết hợp với ánh sáng bé sung sẽ làm tăng ty lệ đậu quả, tăng số quả trên cây, tăng trọng lượng quả và làm tăng năng suất. Chất lượng ánh sáng có tác dụng rõ rệt tới các giai đoạn sinh trưởng của cây cà chua (Wassink và StoluiJk 1956). Ánh sáng đỏ làm tăng tốc độ sinh trưởng của lá và ngăn chặn sự phát triển của chồi bên.
Ánh sáng màu lục làm tăng chất lượng chất khô mạnh nhất. Thành phần hoá học của quả 6 cà chua chịu tác động lớn của chất lượng ánh sáng, thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng. Theo Hammer và ctv (1942), Brow (1955) và Ventner (1977) cà chua trồng trong điều kiện đủ ánh sáng đạt hàm lượng axít ascobic trong quả nhiều hơn trồng nơi thiêu ánh sáng. Am độ: Cà chua được xếp vao dang tiêu hao nước va hút nước trung bình tuy nhiên thời gian sinh trưởng của cây cà chua dài khối lượng thân lá lớn nên yêu cầu ẩm độ rất lớn và 4m độ không khí yêu cầu thấp hơn độ âm đất.