Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về ngành Dương xỉ và cây Ráng ỗ rồng 1.1 Tổng quan ngành Dương xỉ Ngành Dương xi (Pteridophyta) là một ngảnh thực vật lớn, với hơn 300 chi và bao gồm hơn 12.000 loài phân bố rộng khắp trên Trái đất. Phân bố loài chủ yếu ở các rừng nhiệt đới có khí hậu nóng am, đặc biệt là các vùng rừng cận xích đạo. Dương xỉ là một trong những ngành thực vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành thảm thực vật đưới tán rừng. Chúng có tác dụng giữ độ ẩm, chống xói mòn.
Ở Việt Nam hiện nay, các nhà thực vật học đã phát hiện được 718 loài với 135 chi thuộc 29 họ của ngành dương xỉ (Đậu Bá Thìn và Phạm Hồng Ban, 2015). Các loài thuộc ngành dương xỉ là các loài thực vật có mạch, không có hạt, sinh sản thông qua các bào tử bằng cả hai hình thức: sinh sản vô tính và hữu tính. Cây sinh dưỡng có thân, rễ, lá, các túi bào tử thường hình thành ở mặt dưới phiến lá. Thể bào tử được sinh ra từ hợp tử và mang các túi bào tử.
Lúc chín, các túi bào tử phát tán các bảo tử bằng nhiều con đường khác nhau dẫn đến độ đa dạng sinh học thực vật của ngành dương xi rat cao vì chúng thích nghi và sinh sống ở bat cứ môi trường nào có đủ điều kiện sinh thái đối với chúng.2 Nguồn gốc Ráng ỗ rồng Rang 6 rồng (Plantycerium ridleyi Christ.) được phát hiện ở trong rừng đầm lay than bùn đất thấp phân bố ở khu vực bán đảo Malaysia, Borneo thuộc Brunei và Sarawak (Tawan va ctv, 2005). Theo tiếng địa phương P. ridleyi được gọi là dương xi sừng hươu Ridleyi hoặc Tandukrusa hoặc Lukud (Wong, 1990).3 Phân loại Giới: Thực vật (Plantae); Ngành: Duong xi (Pteridophyta); Lớp: Dương xi (Polypodiopsida); Bộ: Dương xỉ (Polypodiales); Họ: Ráng đa túc (Polypodiaceae); Chi: Ô phượng (Platycerium); Loài: P. Rang 6 rồng (Platycerium ridleyi Christ.) là một loài thuộc họ Polypodiaceae (Họ Rang da túc) (Phạm Hoàng Hộ, 1999).4 Đặc điểm thực vật học Rang 6 rồng (Platycerium ridleyi Christ.) sống biéu sinh, cây có hai loại lá là: lá tổ và lá tán.
Thân rễ ngắn, phủ đầy lông ở phần giữ và phần ngọn của lá tô. Lá non hoặc lá tổ phát triển ở phần đỉnh trung tâm được bao phủ bởi những sợi lông hình sao mau nâu. Lá tan phát triển hơn lá tổ. Lá tổ tròn, có chiều rộng và chiều dài lá là 25 - 36 cm x 30 70 em, có gân sâu, dày, cứng, khi trưởng thành có lớp vở nhăn, bám chắc vào cây ký chủ hoặc giá thể, gân lá phân đôi, nhô cao, mép nguyên, mỏng, hơi trong, lục nhạt.
Lá già chuyên sang màu xanh đậm, đến nâu vàng, đến nâu sam và héo dan, lá già sẽ không rụng mà nằm lại trên cây giúp bảo vệ rễ, giữ nước và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây. Bảo tử phân bố dày đặc và đều ở trong túi bào tử (Tawan và ctv, 2005). Prothallus: thể nguyên tản, gồm tập hợp của tế bào giao từ đực và giao tử cái. Prothallus có thé tồn tai ở dạng don tinh hoặc lưỡng tinh.
Đây là giai đoạn xuất hiện ở quá trình phat tan bao tử những cây ho Duong xi.1 Cây rang 6 rồng Platycerium ridleyi Christ.5 Đặc điểm sinh thái Trong tự nhiên môi trường của P. ridleyi phân bố chủ yếu trong rừng đầm lay đất thấp và thường được phát hiện gần các con sông nơi có độ âm trong không khí cao (Wong, 1990). ridleyi được ghi nhận xuất hiện trong ba khu rừng đầm lầy than bùn (Tawan và ctv, 2005). Nơi thích hợp của loài này là trên các hốc của cây lớn, tại các chạng ba, nơi nhận được ánh sáng và mưa trực tiếp, nhưng đây cũng là nơi lượng nước bốc hơi nhanh dẫn đến cây dễ bị thiếu nước và héo.
Trong môi trường nhân tao dé trồng và chăm sóc được rang 6 rồng cần cho cây vào môi trường không khí âm.6 Giá trị cây Rang 6 rồng 1.1 Giá trị sinh thái Rang 6 rồng là một loài thuộc ngành đương xi đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đa dạng sinh học thực vật. Trong y học, một số loài rang lộ rồng mang dược tính có tác dụng tiêu phù, giảm ngứa, làm liền xương nên được sử dụng dé chữa ghẻ lở, mẫn ngứa, gãy xương và chứng phù thũng (Phạm Thị Linh, 2021). Các cây thuộc ngành dương xi còn có tác dung trong điều hoa và lọc không khí, chúng được ví như máy lọc không khí sinh học cho môi trường (Lưu Nguyễn Mai Phương, 2020). Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đương xỉ là loài cây có khả năng hấp thu asen rất cao, Ma và ctv (2002) đã phát hiện ra những cây dương xi diều hau (Preris vittata L.) mọc tại một khu rừng được bảo tồn nhưng đã bị bỏ hoang do nhiễm độc asen.
Khi phân tích lá của chúng, họ phát hiện thấy nồng độ asen (As) lớn gấp 200 lần so với vùng đất xung quanh (Phan Thị Truyền, 2017).2 Giá trị cảnh quan Rang 6 rồng là loài cây có sức sống mạnh, hình dang đẹp lạ, thường được sử dụng trong trang trí cảnh quan các công trình, biệt thự, quán cà phê hay quán ăn, khuôn viên nhà ở (Phan Thị Truyền, 2017). Theo thông tư số 22/2019/TT-BXD, ban hành ngày 31/12/2019 của Bộ Xây dựng, quy định tỷ lệ đất cần dành cho cây xanh trong các khu đất xây dựng công trình thuộc nhóm nhà chung cư là ít nhất 20%. Mật độ xây dựng mảng xanh của các tòa nhà chung cư tối đa phụ thuộc vào diện tích lô đất và chiều cao của công trình. Mật độ này có thể biến đổi từ 35% đến 75%, tùy thuộc vào kích thước lô đất và chiều cao của tòa nhà.
Những quy định này nhằm đảm bảo rằng việc xây dựng đô thị sẽ thực hiện có sự cân nhắc giữa sự phát triển và bảo vệ môi trường sống. Điều này sẽ tạo ra không gian sống xanh, thoải mái và bền vững cho cư dân. Các đặc điểm về sinh thái của cây 6 rong P. ridleyi phù hợp với môi trường sống trong các tòa nhà chung cư hay dưới tán cây cảnh quan lớn nên tiềm năng phát triển cây 6 rồng P.
ridleyi thành cây cảnh quan phục vụ trang trí trong các công trình dân dụng là rất cao.3 Giá trị phong thuỷ Theo quan niệm người Á Đông, phong thủy là một phần văn hóa lâu đời không thé thiếu trong đời sống tinh than, từ đó các thuyết âm dương, ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thô ra đời. Nhu cầu về cây xanh trong nhà hay những địa điểm quan trọng không còn đơn thuần chi là việc tạo mảng xanh mang lại không khí trong lành ma còn mang theo những biểu tượng tinh than của con người. Rang 6 rồng là loài cây biểu tượng cho sự may mắn, tài khí sung mãn, gia chủ bình yên. Cây tượng trưng cho sự gắn kết, hoà hợp, tình cảm đong đầy giữa các thành viên trong gia đình (Vườn mặt trời, 2023).4 Giá trị kinh tế Cây 6 rồng P.
riđleyi mang hình dạng đặc biệt giống gac hươu, có giá trị kinh tế rất cao. Hiện cây đang được rao bán trên nhiều san giao dịch trực tuyến va tại các nhà vườn trong nước với giá dao động từ không dưới 200 đồng đến vài triệu đồng. Hiện nay việc nhân giống 6 rồng P. ridleyi cũng như các giống 6 rồng ngoại khác được nhập về Viêt Nam rất khó khăn về kỹ thuật chăm sóc và mat rất nhiều thời gian để có một lượng cây giống lớn cung cấp cho nhu cầu thị trường.2 Phương thức nhân giống Rang 6 rồng (Platycerium ridleyi) là loài thuộc ngành dương xi, phương thức nhân giống chủ yếu bằng bảo tử.
Nhân giống cây ráng ô rồng trong môi trường và điều kiện bình thường sẽ đạt hiệu quả thấp. Vì thế nhằm nâng cao số lượng và chất lượng cây con, rút ngắn thời gian nhân giống, rang 6 rồng được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô. Năm 1982, ba loài dương xi thuộc chi Nephrolepis được nhân giống vô tính thành công bằng phương pháp nuôi cấy mô (Padhya va Mehta, 1982). Năm 1986, giống dương xi Nephrolepis exaltata đã được nhân giống thành công bằng cách nuôi cấy xúc tu trong môi trường MS có bồ sung 0,1 mg/L NAA, 0,1 mg/L BA và 15% nước dừa.
Dưới ánh sáng 3.000 lux của đèn huỳnh quang trong 16 giờ/ngày, ở nhiệt độ 25 - 27°C, trong vòng 12 - 16 tuần, kết quả cây con đã tái sinh được chéi và hình thành được rễ (Kijwijan, 1986).1 Tống quan phương pháp nuôi cấy mô Dựa vào nguyên lý tính toàn năng của tế bào thực vật, ý tưởng về phương pháp nuôi cay mô tế bào thực vat được Gottlieb Haberlandt, người đặt nền móng cho nuôi cấy mô tế bào thực vật, trình bày cơ sở lý luận tại Viện Hàn lâm Khoa học Đức năm 1902 (Thorpe, 2007). Tính toàn năng của tế bảo (Totipotency) là khả năng của tế bào có thé phát triển thành cây hoàn chỉnh do tế bào có chứa hệ gen quy định toàn bộ kiểu gen của loài (George ,1993). Sự phân hóa tế bao (Differentiation) là sự biến đối của các tế bào phôi sinh thành các tế bào của các mô chuyên hóa đảm nhận các chức năng khác nhau (George ,1993). Về sau này thuật ngữ “nuôi cay mô tế bào thực vật” được dùng để mô tả về phương pháp nhân giông cây trông băng cách tác động trực tiêp mô tê bào, cây được nhân nuôi trong môi trường phòng thí nghiệm, các điều kiện sống của cây được kiểm soát hoàn toan bởi con người.2 Các giai đoạn của một quy trình nuôi cấy mô tế bào thực vật Giai đoạn 1: Khử trùng mẫu Đầu tiên là chọn vật liệu làm khởi đầu quy trình nuôi cấy, về mặt nguyên tắc thì các tế bao sông đã phân hóa đều có khả năng phản phân hóa dé trở lại trạng thái trẻ hóa và tái lập khả năng phân chia (Nguyễn Đức Lượng, 2006).
Tiếp theo mẫu được khử trùng dé loại bỏ các vi sinh vật bám trên và bên trong bề mặt mẫu cấy. Khi chon đúng phương pháp khử trùng sẽ mang lại tỷ lệ sống cao cho mẫu, đồng thời chọn môi trường dinh dưỡng thích hợp sẽ giúp mẫu đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh. Các chất khử trùng thường sử dụng là: HgCl; 0,1% xử lý trong 5 - 10 phút, NaOCl hoặc Ca(OCl)2 5 - 7% xử lý trong 15 - 20 phút, H2O2, dung dịch Br (Dương Công Kiên, 2003). Giai đoạn 2: Nhân nhanh Các mẫu sau khi được khử trùng và còn sống được chuyển sang môi trường nhân nhanh có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng thuộc nhóm cytokinin dé tái sinh nhiều chéi từ một chỗi nuôi cấy.