Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây trầu bà lá xẻ 1.1 Phân loại thực vật học và phân bố 1.1 Phân loại thực vật học Theo Govaerts (2008), cây trầu bả lá xẻ có nguồn gốc từ rừng nhiệt đới Nam Mỹ. Về phân loại thực vật, trầu bà lá xẻ thuộc về: Giới (Kingdom): Plantae Ngành (Phylum): Liliopsida Bộ (Order): Aridae Họ (Family): Araceae Chi (Gens): Monstera Loai (Species): Monstera deliciosa Tén khoa hoc: Monstera deliciosa Liebm.2 Phân bố trên thế giới Theo Peppard (1992), trầu bà lá xẻ là cây nhiệt đới, ưa điều kiện âm ướt, phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 20 — 30°C, yêu cầu độ 4m cao va cần bóng ram toàn phần hoặc một phần. Trầu bà lá xẻ được tìm thấy khắp nơi ở Châu Mỹ, rừng nhiệt đới nóng âm độ cao từ 1 đến 600 m và nơi có lượng mưa hàng năm trên 1. Phân bồ nhiều ở các vùng miền Nam Mexico, Guatemala, một phần của Costa Rica và Panama.
Hiện nay trầu bà lá xẻ đã được du nhập vào nhiều khu vực ví du như ở Florida và các khu vực ven biển của Bắc và Duyên hải vùng Coast (Australia).3 Phân bố ở Việt Nam Hiện nay trâu ba lá xẻ phân bô tự nhiên nhiêu ở các tỉnh Lam Dong, Đông Nai, Đăk Nông và Thanh phố Hồ Chi Minh (Trần Thị Thủy, 2019).2 Đặc điểm hình thái Theo Govaerts (2008), cây trau bà lá xẻ có dang bụi, lá lớn xẻ thay, nhiều rễ khí mọc từ thân trên mặt đất, là loại cây có hoa và quả. Trong tự nhiên cây có thé sinh trưởng đạt đến 9 m, chiều dai lá: từ 25 - 90 cm, chiều rộng từ 25 - 75 cm. Nếu được trồng trong nhà, điều kiện không gian nhỏ thì cây chỉ cao từ 0,5 - 3 m, kích thước lá cũng nhỏ hơn nhiều lần so với mọc ngoài tự nhiên. Rễ: có nhiều rễ khí mọc ra từ thân trên và cả bên dưới mặt đất.
Rễ có màu nâu ở chóp rễ và có nhiều lông hút. Than: cây thuộc loại thân thảo, hoặc dây leo, đường kính khoảng 6,5 - 7,0 cm, thân xù xi và có nhiêu vết sẹo dai, không vay va lông, màu sắc xanh lục. Lá: thuộc dạng lá xẻ thùy dai và sâu ở giai đoạn trưởng thành, lá hình trái tim, chia thùy dạng lông chim. Đối với cây con toàn bộ lá không xẻ thùy.
Lá và cuống đều có mau xanh bóng. Hoa: mọc ra từ nách lá, có một cụm hoa mọc thăng đứng, thon dài. Có lá bắc bao quanh cụm hoa, hoa có màu trắng dải từ 10 - 15 cm (tính từ đỉnh đến cuống), chiều rộng từ 3 - 5 cm. Trầu bà lá xẻ là hoa lưỡng tính nên có khả năng tự thụ phan.
Quả: hình trụ màu xanh, được bao quanh bên ngoài bởi các lớp vảy, quả có chiều dài không quá 25 cm. Khi chín lớp vay bung ra để lộ phan thịt quả có màu kem, thịt qua khi chín tương tự như dứa. Thời gian qua chín thường khoảng 1 năm (Kennard va Winters, 1960).3 Yéu cau sinh thai Cây trầu bà lá xẻ có xuất xứ từ rừng nhiệt đới, phat triển tốt nhất ở nhiệt độ 20 - 30°C, yêu cầu độ 4m cao, và cần bóng ram toàn phần hoặc một phan. Cây sinh trưởng thích hợp nhất ở độ cao từ 1 đến 600 m, những nơi có lượng mưa hàng năm trên 1.000 mm và ngừng sinh trưởng ở điều kiên nhiệt độ dưới 10°C và sương giá (Peppard, 1992).
Cây phát triển mạnh mẽ ở hau hết tat cả loại đất, kế cả đất đá vôi nhưng phát triển tốt nhất ở đất tơi xóp, đất mùn giàu chất hữu cơ. Cây trầu bà lá xẻ không thích hợp trồng trong điều kiện đất mặn, đất ngập nước. Trong điều kiện lý tưởng, cây ra hoa khoảng 3 năm sau khi trồng cây con va mat hơn một năm từ khi ra hoa đến trái chin (Govaerts, 2008).4 Giá trị dược liệu của trầu bà lá xẻ Trau ba lá xẻ là nguồn dược liệu tự nhiên quý giá, nó có khả năng kích thích tiết insulin ở mức | mg/mL va cũng là nguôn nguyên liệu tự nhiên có tiêm năng điêu tri đái tháo đường type 2 (Hussain va ctv, 2004). Theo y học cô truyền Mexico, dịch chiết từ lá và rễ cây giúp điều trị viêm khớp.
Ngoài ra dịch chiết lá là một phương thức điều trị rắn cắn của người dân ở vùng Martinique (Peters và Lee 1977).5 Giá trị kinh tế Trầu bà lá xẻ là loại kiếng thông dụng để trang trí nội thất cao cấp. Vì vậy, cây trầu bà lá xẻ có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra còn có một số công dụng khác như thịt quả chín dùng ăn tươi, chế biến thành thạch và mứt. Thường được sử dụng như món tráng miệng với một ít kem nhẹ, hoặc có thé thêm vào cốc trái cây, salad (Trần Thị Thủy, 2019).2 Nuôi cấy mô tế bào thực vật 1.1 Giới thiệu về nuôi cây mô Năm 1839, Schawann và Schleden đã đưa ra học thuyết về tế bào.
Tiếp theo đó vào năm 1902 Haberlandt đã đưa ra giả thuyết về tính toàn năng của tế bảo thực vật (Vũ Văn Vụ và ctv, 2009). Mỗi tế bào của thực vật chứa đầy đủ tất cả thông tin di truyền, nếu gap diéu kién thich hợp trở thành một thực thé hoàn chỉnh (Nguyễn Văn Uyên, 1984).1 Tính toàn năng của tế bào Bat kỳ tế bao của một cơ thé sinh vật đa bào đều có khả năng dé phát triển thành một cá thé hoàn chỉnh. Đó là tính toàn năng của tế bao hay còn gọi là “tính toàn năng của tế bào thực vật” nghĩa là tế bào có khả năng tái sinh thành cây hoàn chỉnh từ một khối mô hoặc tế bào ban đầu. Đặc tính này được sử dụng rộng rãi trong nuôi cấy mô tế bào thực vật, mô và cơ quan thực vật hay nuôi cay tế bao trần trên các môi trường nhân tạo in vitro (Haberlandt, 1913).2 Sự phân hóa va phản phân hóa của tế bao Cơ thê thực vật trưởng thành là một chính thé thống nhất bao gồm nhiều cơ quan chức năng khác nhau, được hình thành từ nhiều loại tế bào khác nhau.
Tuy nhiên tất cả các loại tế bào đó đều bắt nguồn từ một tế bào ban dau. Ở giai đoạn dau, tế bao hợp tử tiếp tục phân chia thành nhiều tế bào phôi sinh chưa mang chức năng riêng biệt. Sau đó từ các tế bao phôi sinh này chúng tiếp tục được biến đối thành các tế bào chuyên hóa đặc hiệu cho các mô, cơ quan có chức năng khác nhau (Bùi Bá Bồng, 1995). Sự phản phân hóa tế bào (Cell Differentation) là sự chuyển hóa các tế bào phôi sinh thành các tế bào mô chuyên hóa, đảm nhận các chức năng khác nhau và trong một số trường hợp cần thiết, ở điều kiện thích hợp, các tế bào có thé trở về hình dạng tế bao phôi sinh và phân chia mạnh mẽ, quá trình này gọi là phản phân hóa tế bảo (De- Diffrentation).
Quá trình phát sinh hình thái trong nuôi cấy mô, tế bào thực vật là kết quả của quá trình phân hóa và phản phân hóa tế bào (Bùi Bá Bồng, 1995).3 Khái niệm nuôi cấy mô tế bào thực vật Dựa vào cơ sở tính toàn năng, sự phân hóa và phản phân hóa của tế bào để đưa ra phương pháp nhân giống vô tính bằng hình thức nuôi cấy mô. Nuôi cấy mô tế bao thực vật là phương pháp nuôi cay mô hoặc tế bào đã tách rời ra khỏi cơ thé thực vật 6 trong môi trường thích hợp đề chúng trở lại trạng thái chưa phân hóa có khả năng phân chia tế bào và biệt hoá thành mô, cơ quan, phát triển thành cây con mới. Tất cả mọi tế bao của một cơ thể thực vật đều có tính toàn năng, nghĩa là chứa bộ gen giống nhau, do đó tất cả các tế bào của một cơ thể thực vật đều có khả năng tổng hợp những loại protein - enzyme giống nhau và nếu tế bào được nuôi dưỡng trong môi trường thích hợp đều có thê phát triển thành cây nguyên vẹn đặc trưng cho loài và ra hoa, kết quả bình thường (Nguyễn Quang Thạch, 2009).2 Chất điều hòa sinh trưởng sử dụng trong nuôi cấy mô 1.1 Auxin Auxin là hocmon thực vật đầu tiên được con người khám pha. Charles Drawin là một trong những nhà khoa học đầu tiên theo đuôi nghiên cứu auxin.
Phần lớn kiến thức hiện nay về vẫn đề sinh trưởng là phụ thuộc vào nó. Auxin được tổng hợp trong ngọn thân, trong mô phân sinh ngọn, mô phân sinh long và lá non, sau đó di chuyền tới rễ và tích tụ trong rễ. Auxin có tác dụng tốt đến các quá trình sinh trưởng của tế bao, hoạt động của tầng phát sinh, sự hình thành rễ, hiện tượng ưu thế ngọn, tính hướng của thực vật, sinh trưởng của quả và tạo ra quả không hạt, làm chậm sự lão hóa (Trần Thị Dung, 2003). Auxin điều hòa sự sinh trưởng của tế bao, đặc biệt theo chiều ngang làm tế bào phình ra.
Hiệu quả đặc trưng của Auxin là tác động lên sự giãn của thành tế bào: IAA làm giảm pH trong thành tế bào, hoạt hóa enzyme phân hủy liên kết giữa các sợi cellulose làm cho chúng lỏng lẻo và tạo điều kiện cho thành tế bào giãn ra dưới tác dụng của áp suất thâm thấu không bào trung tâm. Bên cạnh đó, auxin còn ảnh hưởng lên sự phân chia của tế bào (Bùi Trang Việt, 2000). Một số Auxin thường được dùng trong nghiên cứu là Indole - 3 - acetic acid (IAA), Indole - 3 - butyric acid (IBA), 2,4 - dichlorophenoxyacetic acid (2,4 - D), naphthaleneacetic acid (NAA). Việc sử dung loại, nồng độ Auxin còn tùy thuộc vào mục đích của thí nghiệm, khả năng tông hợp nội sinh của mẫu (Bùi Trang Việt, 2000).
Khi xử lí Auxin nồng độ từ 0,1 đến 5,0 mg/L sẽ giúp tế bao kéo dài và hình thành rễ ở bi mẫu cấy. Kết quả nghiên cứu của Butenko và Chailakian (1968) cho thấy NAA có tác dụng tạo rễ mạnh hơn các auxin khác (Nguyễn Đức Thành, 2000).2 Cytokinin Mô phân sinh ngọn rễ là nơi tong hop cytokinin chủ yếu. Cytokinin tự do di chuyển cho cả cơ thể thực vật, sau đó di chuyền trong mạch gỗ tới chồi. Cytokinin nội sinh và sự phân bảo có mối tương quan rất chặt chẽ, nó cần thiết cho giai đoạn khởi đầu của quá trình phân bao, làm tăng tốc độ phân chia tế bào và định hướng sự phân hóa tế bảo trong nuôi cây mô tế bảo thực vật tác động trên cả sự phân nhân và phân chia tế bào chất.
Cytokinin cũng kích thích sự gia tăng kích thước tế bào lá trưởng thành. Cytokinin cảm ứng sự hình thành chéi, loại bỏ ưu thé ngọn va han ché su phat triển của rễ (Bùi Trang Việt, 2000).