Đặt vấn đề Từ thời xa xưa con người đã biết sử dụng hoa làm cây dược liệu quý giúp cải thiện sức khỏe. Ngày nay, khi đời sống con người càng phát triển thì hoa lại càng đóng một vai trò quan trọng hơn trong đời sống. Hoa hiện tại không chỉ còn làm cây dược liệu mà còn làm để trang trí. Chơi hoa, thưởng thức hoa là một loại nghệ thuật giúp con người ta thư thái hơn sau những giờ học, giờ làm việc căng thẳng.
Chính vì vậy việc trồng và sản xuất hoa đã dần trở thành nên công nghiệp mang lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp và các chủ nhà vườn. Một trong số những loài hoa được tiêu thụ cao nhất trên thế giới đó chính là hoa cúc. Hoa cúc thu hút người tiêu dùng nhờ sự đa dạng màu sắc như: Vàng, tím, đỏ, xanh, trắng,. Hoa còn đa dạng về hình dáng, kích cỡ, mùi hương giúp hoa có thể phù hợp với mọi mục đích của khách hàng.
Ở Việt Nam hoa cúc không chỉ để trang trí mà còn có thể làm dược liệu cho các bài thuốc, sản xuất trà, thực phẩm chức năng,. Chính vì vậy hoa cúc ở Việt Nam rất được ưa chuộng và được trồng rộng rãi ở tất cả các tỉnh thành trên đất nước. Thậm chí những vùng chuyên canh như: Đà Lạt, Hà Nội, Quảng Ninh trồng đa dạng các loại cúc khác nhau nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng. Cúc đại đóa đỏ (Chrysanthemum mor) là loài hoa trồng chậu được ưa chuộng trên thế giới với hàng tỷ cành được tiêu thụ mỗi năm.
Hoa thu hút mọi người bởi hình dáng bắt mắt màu sắc tươi sáng và kích cỡ to. Ở Việt Nam, hoa cúc đại đóa được du nhập về từ thế kỉ XV là trở thành loài hoa biểu hiện cho sự cao quý, giàu sang. Khi sản xuất được mở rộng, nhu cầu về giống cũng tăng theo và phương pháp nhân giống cũng không ngừng cải tiến. Cây Cúc Đại Đóa được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp giâm cành.
Phương pháp nhân giống này đơn giản, 1 tiết kiệm và được thực hiện ở điều kiện in vitro. Tuy nhiên, phương pháp này có một số điểm hạn chế như hệ số nhân giống thấp, chất lượng cây giống kém vì các đoạn chồi thu nhận từ cây mẹ sẽ bị thoái hóa hoặc nhiễm virus sau vài thế hệ. Do đó, người dân luôn cần một số lượng lớn cây giống sạch bệnh để phục vụ sản xuất. Nhân giống cây in vitro được chứng minh là một trong những phương pháp tốt nhất để nhân nhanh số cây với số lượng lớn mà chỉ trong một thời gian ngắn.
Tuy nhiên, phương pháp này còn bị nhiều hạn chế nhất định như khi trồng trong bình thủy tinh sẽ khiến cho cây dễ bị biến dạng khí khổng. Ngoài ra, cây khi trồng trong in vitro đã quen với điều kiện lý tưởng khi mang ra ngoài môi trường phải thích nghi với nhiều điều kiện ngoại cảnh bên ngoài như thời tiết, nhiệt độ, nghèo dinh dưỡng, sâu bệnh hại khiến cây dễ bị chết khi không thích nghi kịp. Vì vậy, sự thành công của phương pháp nhân giống in vitro phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thuần hóa cây giống trong điều kiện vườn ươm. Nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường đồng thời ứng dụng nuôi cấy in vitro vào thực tiễn sản xuất cũng như tìm ra được môi trường thích hợp cho các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây Cúc Đại Đóa Đỏ em đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các giai đoạn nhân nhanh in vitro Cúc Đại Đóa Đỏ (Chrysanthemum mor)”.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng 6-BA và α-NAA đến sinh trưởng và phát triển của Cúc Đại Đóa Đỏ (Chrysanthemum mor) bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro. Từ đó nhằm nâng cao hệ số nhân giống, góp phần bảo vệ loài dược liệu quý hiếm này khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng. Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của thời gian xử lý HgCl2 đến quá trình vào mẫu từ ngoài môi trường.
- Đánh giá ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng đến quá trình tái sinh chồi. - Đánh giá ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng đến quá trình nhân nhanh chồi. - Đánh giá ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển chồi. - Đánh giá ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng đến quá trình cảm ứng tạo rễ.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về cây cúc 2. Nguồn gốc Cúc đại đóa (Chrysanthemum mor) là một loài thực vật lâu năm và thực vật có hoa và loài này đã được Ramat mô tả khoa học đầu tiên năm 1792. Lần đầu tiên người ta tìm thấy cúc đại đóa là ở Trung Quốc và Nhật Bản.
Loại cây này đã được gieo trồng từ cách đây mấy trăm năm. Tuy nhiên theo nhiều tài liệu ghi lại, người Hồng Kong đã trồng loại cây này trước công nguyên tận 500 năm. Nhưng vì nhiều lý do, có thể là khí hậu không thích hợp, hoặc phương thức du nhập không đúng mà mãi đến tận thế kỷ 18 người ta mới thấy nó xuất hiện ở các nước châu Âu, và trong thế kỷ 19 được phân bổ và nhân rộng. Các nhà khảo cổ học ở Trung Quốc đã chứng minh từ thời Khổng Tử con người đã sử dụng hoa cúc trong các lễ mừng thắng lợi lớn và từ đó các cây hoa cúc đã được đi vào các tác phẩm hội họa hay điêu khắc.
Từ những năm 1930, việc trồng hoa cúc đã được chủ ý và coi trọng sau đó 50 năm tức từ những năm 1980 ngành trồng hoa cúc được phát triển mạnh mẽ. Đỉnh điểm vào năm 1982 triển lãm hoa cúc đầu tiên trên thế giới được diễn ra ở Thượng Hải, Trung Quốc nhằm tôn vinh vẻ đẹp của loài hoa này. Triển lãm đã thu hút hàng nghìn người tham gia với một nghìn giống hoa cúc khác nhau đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ của ngành công nghiệp trồng hoa cúc. Các năm sau đó các nhà khoa học Trung Quốc đã thu thập mô tả chụp ảnh hàng nghìn màu giống và tiếp tục tổ chức các cuộc triển lãm hoa cúc.
Giống hoa cúc ở Nhật Bản tuy là được di thực từ Trung Quốc qua tuy nhiên loài cây này lại được đánh giá rất cao. Hoa cúc là một trong những loại hoa quý (Quốc hoa) và còn được mệnh danh là “Hoàng thất quốc hoa”. Người dân Nhật Bản thường dùng hoa cúc trong những buổi lễ quan trọng. 4 Năm 1889 Edsmit đã bắt đầu lai tạo thành công nhiều loại cúc và ông đặt tên cho hơn 100 giống cúc của các thế hệ sau đó, một số khác ngày nay vẫn còn duy trì và được trồng đến ngày nay (Đặng Văn Đông, 2004).
Năm 1843, nhà thực vật học người Anh Fortune mang từ Trung Quốc giống cúc Chusan Daisy lai tạo ra các loại hình cầu và hình tán xạ ngày nay. Năm 1789 nước Pháp nhập từ Trung Quốc 3 loại cúc đại đóa, đến năm 1927, Bemct đã thành công trong việc lai tạo ra giống cúc mới dẫn đến một sự cải tiến rất mạnh mẽ về giống cúc ở châu Âu (Nguyễn Quang Thạch, Đặng Văn Đông, 2002). Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XVIII hoa cúc đã được xuất hiện nhiều, đến năm 1860 hoa cúc trở thành hàng hoá và được trồng trong nhà lưới. Năm 1984, Lê Kim Biên (1984) khi nghiên cứu phân loại họ cúc cho thấy riêng chi Chrysanthemum L (Đại cúc) ở Việt Nam có 5 loài, trên thế giới có 200 loài, và có khoảng 1.
Các giống cúc hiện trồng chủ yếu được sử dụng làm hoa hoặc cây cảnh, do đó hoa thường có kích thước từ trung bình đến to, nhiều màu sắc, như trắng, vàng, đỏ, tím, hồng… 2. Phân loại Phân loại cây hoa cúc Hoa cúc là loại cây hai lá mầm (Dicotyledonace) thuộc phân lớp cúc (Asterydae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa cúc (Asteroideae), chi Chrysanthemum. Họ cúc rất lớn, phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới, gồm 1000 chi và hơn 20.000 loài sống ở những môi trường sinh thái khác nhau. Đặc điểm thực vật học a.
Rễ Rễ cây hoa cúc thuộc dạng rễ chùm. Rễ cây ít khi ăn sâu xuống đất mà phát triển theo chiều ngang. Khối lượng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút thế nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh. Những rễ này mọc ở mấu của thân cây còn gọi là mắt, ở những phần sát trên mặt đất (Nguyễn Xuân Linh, 1998).
Thân Thân hoa cúc thuộc dạng thân thảo, khả năng phân nhanh mạnh, chiều cao của cây phụ thuộc vào đặc tính giống, khi tác động chế độ ánh sáng. Còn chiều cao cây, mức độ phân cành, độ mềm hoặc cứng của cây lại phụ thuộc rất lớn bởi đặc tính di truyền của từng giống khác nhau. Chiều cao trung bình của giống cúc giao động từ 20 - 50cm. Tuy nhiên, có những giống có thể cao đến trên 3m.
Các giống hoa cúc có chiều cao thấp thường phân cành nhiều nên được sử dụng làm thảm hoa hay trồng trong chậu trang trí. Còn các giống thân dài lại thường phân cành ít nên thích hợp trồng trên nền đất hoặc trên nền giàn cao. Giống thân cao, ít cành thích hợp với việc trồng hoa cắt cành. Giống phân cành nhiều, cành nhỏ và mềm thích hợp với việc tạo hình trồng trong chậu cảnh.
Lá Lá cúc là loại lá đơn, mọc cách, chia thùy, có răng cưa to, sâu, mặt dưới lá bao phủ bởi một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân lá hình mạng lưới, mọc cách và thành vòng xoắn trên thân. Gân lá hình lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, 3 - 6 cặp gân phụ. Lá phẳng hoặc hơi nghiêng về phía trên hoặc hơi bị gấp. Trên một cành thì phần gốc nhỏ, càng lên phía trên lá càng to dần.
Kích thước lá thường thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt. Cây sinh trưởng kém thì lá nhỏ, mỏng, cứng hơi chếch về phía trên, màu xanh nhạt không bóng hoặc hơi vàng. Đủ dinh dưỡng, cây sinh trưởng khoẻ, lá to và mềm, phiến lá dày, chóp lá hơi cong xuống, lá xanh thẫm và bóng. Lá hoa cúc thường sống được 70 - 90 ngày, hiệu suất quang hợp của lá mạnh nhất là ở lá thứ 4 tính từ đỉnh ngọn trở xuống.
Mỗi nách lá thường phát sinh một mầm nhánh. Hoa Hình dạng hoa cây họ cúc (Asteracea) rất đặc trưng bởi có cụm hoa đầu trạng.