Đặt vấn đề Cùng với sự phát triển nhanh chóng của đời sống xã hội, con ngƣời ngày càng thích sƣu tầm và trồng các loại cây cảnh có giá trị kinh tế, quý hiếm và mới lạ. Hiện nay nhu cầu sử dụng các loại hoa tƣơi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng tăng nhanh, trong đó hoa lan đang trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao, chiếm vị trí đặc biệt trong thị trƣờng hoa tƣơi và đã đƣợc xuất khẩu lƣu thông nhƣ một ngành thƣơng mại. Vì vậy, ngoài mặt thẩm mĩ, khoa học, chúng còn là mục tiêu săn tìm của rất nhiều ngƣời, đặc biệt là những ngƣời yêu thích hoa [18]. Lan Đai châu (Rhynchostylis gigantea) thuộc chi lan Ngọc Điểm (Rhynchostylis Blume), còn đƣợc gọi dƣới nhiều tên khác nhau nhƣ lan Ngọc Điểm, lan Nghinh Xuân, lan Lƣỡi Bò, lan Me, lan Tai Châu.
Lan Đai châu có màu trắng, lá cực dày và mọng nƣớc, đầu lá thƣờng tù, không nhọn và chia thành hai thùy. Đai châu có những chiếc rễ cực to đầu rễ thƣờng có màu xanh nhạt (trong điều kiện thiếu nắng), hoặc tím (trong điều kiện tiếp xúc với nhiều ánh nắng). Lan Đai châu là một trong những loài lan bản địa quý của Việt Nam, là một trong những loài hoa đƣợc ngƣời tiêu dùng ƣa chuộng và đƣợc trồng phổ biến. Những loài lan quý ở Việt Nam đƣợc các chuyên gia nghiên cứu về phong lan đánh giá rất cao.
Quá trình nuôi trồng lan ở nƣớc ta vẫn còn mang tính cá nhân nhỏ lẻ. Nguồn giống lan ở Việt Nam chủ yếu là khai thác từ rừng tự nhiên hoặc nhập nội từ nƣớc ngoài nhƣ Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan. Hiện nay, nguồn lan rừng ở nƣớc ta nói chung và lan Đai châu nói riêng đang bị giảm dần về số lƣợng và đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng. Do đó, cần phải bảo tồn và phát triển các loại lan ở Việt Nam.
Đặc điểm quả lan Đai châu nói riêng và các loài lan khác là hạt không có nội nhũ, vì vậy trong điều kiện tự nhiên, hạt rất khó nảy mầm và phát triển thành cây con. Phƣơng pháp truyền thống để nhân giống lan Đai châu là phƣơng pháp 1 tách chồi, tuy nhiên hệ số nhân rất thấp. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng cũng nhƣ để thƣơng mại hóa ngành sản xuất lan thì cần phải có một nền kỹ thuật cao mà trƣớc hết phải có một công nghệ nhân giống thật hiện đại. Nhân nhanh in vitro đƣợc coi là phƣơng pháp hữu hiệu nhất để bảo tồn nguồn gen và cung cấp số lƣợng cây giống lớn trong thời gian ngắn [17].
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu nhân giống in vitro Lan Đai châu (Rhynchostylisg gigantea) thông qua giai đoạn protocorm từ mô sẹo”. Mục tiêu nghiên cứu Nhân giống thành công cây lan Đai châu (Rhynchostylisg gigantea) bằng phƣơng pháp tạo protocorm từ mô sẹo với hiệu quả cao. Nội dung nghiên cứu (1) Khử trùng quả tạo vật liệu nuôi cấy (2) Nghiên cứu ảnh hƣởng của môi trƣờng đến sự tạo mô sẹo và tạo protocorm từ mô sẹo (3) Ảnh hƣởng tổ hợp chất kích thích sinh trƣởng thuộc nhóm cytokinin và auxin kết hợp với chất hữu cơ (chuối, khoai tây.) đến khả năng nhân nhanh protocorm (4) Ảnh hƣởng tổ hợp của kích thích sinh trƣởng thuộc nhóm cytokinin và auxin kết hợp với chất hữu cơ (chuối, khoai tây.) đến khả năng tạo chồi từ protocorm (5) Nghiên cứu tạo cây hoàn chỉnh (6) Nghiên cứu đƣa cây ra vƣờn ƣơm 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về Phong lan và lan Đai châu 1.
Giới thiệu chung về Phong lan Họ lan, hay họ Phong lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc ngành thực vật hạt kín, lớp một lá mầm (Monocotylendonseae), phân lớp hành (Liliidae). Họ Phong lan đã biết khoảng 880 chi và có trên 25.000 loài chiếm khoảng 10% của các loài thực vật có hoa. Mỗi năm có khoảng 800 loài lan mới đƣợc bổ sung. Các chi lớn nhất là Bulbophyllum (khoảng 2000 loài), Epidendrum (khoảng 1500 loài), Dendrobium (khoảng 1400 loài) và Pleurthallis (khoảng 1000 loài).
Họ Orchidaceae là một họ thực vật lớn và phân bố gần nhƣ trên toàn thế giới (ngoại trừ các sa mạc và châu Nam Cực). Danh sách dƣới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ này. Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi Châu Đại Dƣơng: 50 - 70 chi Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi Bắc Mỹ: 20 - 25 chi Họ lan Việt Nam đƣợc đánh giá là rất đa dạng và phong phú bao gồm cả Địa lan, Thạch lan và Phong lan, phân bố rộng khắp cả nƣớc. Hiện nay có khoảng 1.243 loài lan đƣợc tìm thấy ở Việt Nam [55].
Chi Miguelia thuộc họ lan (Orchidaceae) là một chi mới do GS. Averyanov tách ra từ chi Vanilla. Đặc điểm đặc trƣng của chi Miguelia là phát hoa có hình zíc zắc (trong khi đó chi Vanilla có dạng thẳng), hoa nở thành cặp đối nhau và cuống khá dài. Chi Miguelia có vùng phân bố hẹp, mới chỉ tìm thấy ở Trung Quốc gồm 3 loài (M.
annamica), Lào có 3 1 loài (M. annamica) và Việt Nam có 3 loài kể cả loài mới này (M. Năm 2018, tác giả Trƣơng Bá Vƣơng đã phát hiện, mô tả thêm 2 loài mới cho khoa học và đồng thời ghi nhận bổ sung mới 2 loài thuộc họ lan (Orchidaceae) cho hệ thực vật Việt Nam [55]. Loài lan mới thứ nhất Gastrochilus setosus Aver.
et Vuong đƣợc tìm thấy ở rừng Si Ma Cai của tỉnh Lào Cai. Đây là một loài lan nhỏ màu xanh vàng. Loài này có đặc điểm gần giống với 2 loài lan khác đƣợc phát hiện ở Đài Loan là Gastrochilus hoi và Gastrochilus matsudae về hình dạng, màu sắc hoa và đầu môi có lông, nhƣng khác về kích thƣớc hoa nhỏ hơn, đầu môi gần nhƣ tròn, cựa (spur) song song với bầu noãn và có rất nhiều lông bên trong cựa; đây là đặc điểm chính để đặt tên cho loài mới này: setosus = setose (dạng lông). Ngoài ra, loài mới Gastrochilus setosus còn giống với một loài khác là Gastrochilus raraensis nhƣng khác ở chỗ nó có thân nhỏ, thân đƣợc bao bọc bởi lá xếp gần sát chạm vào nhau.
Loài lan mới thứ 2 là Podochilus truongtamii Aver. et Vuong thì đƣợc tìm thấy ở Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa và đƣợc đặt tên theo tên của kỹ sƣ Trƣơng Quang Tâm là cha của đồng tác giả mô tả loài mới Trƣơng Bá Vƣơng. Loài mới này có đặc điểm phát hoa dài khoảng 3,5 cm, gốc môi có thành dựng thẳng, dày, chân cột dài đƣa ra phía trƣớc. Đây là loài thứ 2 của chi Podochilus đƣợc phát hiện ở khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà cùng với loài Podochilus rotundipetala Aver.
et Vuong đƣợc phát hiện và mô tả năm 2016. Dựa theo đặc điểm của thân cây, Phong lan đƣợc chia ra làm ba nhóm là nhóm cây đơn thân (monopodial), nhóm cây đa thân (sympodial) và nhóm trung gian. * Nhóm cây đơn thân: Là nhóm mà thân cây sẽ phát triển theo chiều cao, dài và có hai nhóm phụ. Nhóm Sarcanthinae: bao gồm Vanda, Aerdes, Phalaenopsis… với 2 hàng đối nhau, lá trên một hàng xen kẽ với lá của hàng dƣới.
Nhóm Campylocen trinae: cấu trúc của nhóm này là dẹp, phẳng. 4 * Nhóm đa thân: Sự sinh trƣởng của nhóm cây này rất liên tục, sau những mùa tăng trƣởng là các mùa nghỉ của cây. Giả hành của lan biến động và có nhiều hoa giả hành ở dạng thân cây. Nó còn đƣợc phân ra thành hai nhóm phụ dựa trên cách ra hoa.
Nhóm ra hoa phía trên: là một số loài nhƣ Dendrobium, Cymbidium, Oncidium, Maxillaria, Lycastephaius, Bullophyllum… Nhóm ra hoa ở đỉnh: nhƣ Laedia, Cattleya, Epidendrium và đa số loài của Pleurothallidinae và nhiều giống khác. * Nhóm trung gian: bao gồm các loại lan nhƣ Centropetatum, Phachyllum, Dichaea…. Dựa theo khả năng thích nghi với điều kiện môi trƣờng họ lan đƣợc chia thành 4 nhóm chính: Phong lan (Epiphyte): Là loài sống ký gửi nhờ vào thân cây cao ẩm mục ở trong rừng hoặc trên núi cao, rễ bám vào các cây to, thân rủ xuống. Địa lan (Terrestrial): Là loài có thân giả dạng củ, rễ chùm sống nhờ đất ở sƣờn núi, bờ suối hay dƣới tán rừng ẩm ƣớt.
Địa lan có nhiều loài với hình dáng, màu sắc phong phú đẹp mắt. Hoại lan (Saprophyte): Gồm những loại mọc trên rêu và gỗ mục. Thạch lan (Lithophyte): Gồm một số loại mọc trên đá. Đối với các loài lan (Phong lan và Địa lan), hầu nhƣ từ trƣớc tới nay, ngƣời dân mới biết đến chúng là những loài đƣợc sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chƣa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát hiện có một số loài có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng.
Trong số những loài đó ngƣời ta đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan Kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thƣ, làm giãn mạch máu, tăng sức đề kháng, chống lão hóa. Vì vậy chúng đƣợc đánh giá rất cao và có giá trị kinh tế trên thị trƣờng. Lan Đai châu 1. Phân loại cây lan Đai châu Cây lan Đai châu có tên gọi khác là lan Ngọc Điểm, lan Nghinh Xuân, lan Lƣỡi Bò, lan Me, lan Tai Châu.
Về phân loại khoa học cây lan Đai châu có tên khoa học là Rhynchostylis gigantea. Đây là cây lan đƣợc phát hiện lần đầu năm 1896 bởi Lindlay, lan Đai châu sống trong rừng bám vào các thân cây trong rừng, phổ biến và dễ gặp ở các khu rừng Việt Nam, Lào, Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Bangladesh…. Cây lan Đai châu có mặt tại nhiều vùng rừng núi ở Việt Nam, là cây chịu hạn tốt nhƣng nó thích ẩm, ẩm độ càng cao, rễ càng mọc nhanh và phát triển rất tốt, ẩm độ lý tƣởng 40 – 70%, hoa nở rất bền, có thể từ 30 đến 45 ngày tuỳ chế độ chăm sóc, sức chịu đựng tốt. Hiện nay có thể nhìn thấy rất nhiều màu sắc nhƣ trắng, trắng tím, bò sữa, đỏ.
Vì đây là dòng Đai châu công nghiệp đƣợc nghiên cứu và phát triển dựa trên phƣơng pháp nuôi cấy mô. Đặc điểm của dòng này là đa dạng về màu sắc, cho cây khỏe, sức chịu đựng tốt, dễ chăm sóc. Đặc điểm hình thái của lan Đai châu Lan Đai châu là giống lan bản địa của Việt Nam, phân bố rộng ở các vùng có khí hậu nhiệt đới. Rễ: Rễ to, mập, phân nhánh mạnh, đƣờng kính rễ: 1,1 cm - 1,3 cm, đầu rễ mầu xanh, bám chắc vào giá thể hoặc treo lơ lửng.