Chương 1: Tổng quan về bài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan đến thuốc bổ trẻ em sản xuất trong nước.
Thuốc bổ: còn gọi là đa sinh tố, là hỗn hợp chứa nhiều hơn một vitamin và khoáng chất. Thuốc bổ có thể dùng dưới dạng uống hoặc tiêm, trong đó dạng uống được sử dụng phổ biến và rộng rãi hơn Thuốc bổ được sử dụng nhằm mục đ ch b i dưỡng cơ thể, giảm mệt mõi, tăng cường sức khỏe, giúp ăn được, ngủ được, tăng sự tập trung và giúp trí nhớ tốt hơn Đối tượng sử dụng thuốc bổ là: Người mới khỏi bệnh, người bị suy nhược (làm việc quá mức), người ăn kiêng, trẻ con đang lớn, trẻ con chậm phát triển, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, người khỏe mạnh. Các loại thuốc bổ: Thuốc bổ sung vitamin và chất khoáng; thuốc kết hợp vitamin, chất khoáng với các acid amin, tinh chất nhân sâm, tế bào men, mầm lúa mạch…; chất chống oxy hóa; thuốc kích thích sự thèm ăn; thuốc trị suy nhược chức năng, b i dưỡng trí não; thuốc là các hormon; thuốc bổ đông y Trẻ em: Hiệp ước về quyền trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là mọi con người dưới 18 tuổi trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn Riêng ở Việt Nam, pháp luật quy định về độ tuổi của trẻ em chính thức được đề cập trong một văn bản pháp quy sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14 tháng 11 năm 1979, trong đó quy định “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này g m các em từ mới sinh đến 15 tuổi” (Điều 1) Đến năm 1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành đã nâng độ tuổi trẻ em lên đến dưới 16 tuổi (Điều 1) “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” Độ tuổi này tiếp tục được khẳng định tại Điều 1 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành năm 2004 Như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em được pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi. Thuốc bổ trẻ em: là những loại thuốc bổ dành cho trẻ em với tác dụng là bổ sung các vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể Đối với trẻ em, các bé cần nhiều vitamin hơn để tăng trưởng, phát triển trí tuệ và thể lực.
Thông thường, vitamin có trong các loại thức ăn hàng ngày, vì thế một chế độ ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng sẽ đảm bảo lượng vitamin cần thiết cho cơ thể trẻ Tuy nhiên, theo bác sĩ Hoàng Lê Phúc - trưởng khoa tiêu hóa bệnh viện Nhi Đ ng I: “Trong thực phẩm tự nhiên đã chứa đầy đủ các loại vitamin và khoáng chất cần thiết Nhưng nếu trẻ không ăn đủ hoặc trẻ bị bệnh thì sử dụng thuốc bổ là một biện pháp hỗ trợ cần thiết” Như vậy thuốc bổ sẽ được dùng trong trường hợp trẻ lười ăn, trẻ mới ốm dậy, trẻ chậm phát triển và những trẻ khỏe mạnh cần bổ sung thêm vitamin và khoáng chất cần thiết. Thuốc bổ trẻ em sản xuất trong nước: Là những loại thuốc bổ dành cho trẻ em được sản xuất bởi các doanh nghiệp có nhà máy sản xuất trong nước và chủ sỡ hữu doanh nghiệp đó là công dân Việt Nam. Một số đặc điểm của thuốc bổ hàng nội và hàng ngoại: Chất lượng thuốc bổ hàng nội và thuốc bổ hàng ngoại: Quá trình sản xuất thuốc nội và ngoại nếu được sản xuất ở nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP là không khác nhau GMP được định nghĩa là hệ thống những quy định hay hướng dẫn mà nhà sản xuất dược phẩm tuân thủ để cho ra các sản phẩm luôn đạt tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký và bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người sử dụng. Vì vậy, kể cả thuốc nội hay thuốc ngoại nếu được sản xuất tại nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP đều có quá trình sản xuất giống nhau cho một loại sản phẩm.
Quá trình sản xuất là giống nhau bởi vì GMP bắt buộc được áp dụng cho mọi hoạt động trong quá trình sản xuất thuốc từ đầu vào như: nhận xử lý nguyên liệu/ bao bì, pha chế, bảo quản bán thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 phẩm, ra thành phẩm, đóng gói và bảo quản thành phẩm; đến đầu ra như: phân phối, bảo quản sản phẩm trả lại, biệt trữ… Chất lượng giữa thuốc bổ hàng nội và thuốc bổ hàng ngoại là tương đương nhau, nhưng thuốc bổ hàng ngoại thường có giá đắt hơn là vì: có những thuốc còn quyền bảo hộ sở hữu công nghiệp mà hãng sản xuất đã tiêu tốn quá nhiều cho việc nghiên cứu tìm ra thuốc ấy Hay đặc biệt, hãng sản xuất áp dụng quy trình bào chế tiên tiến hơn, có dạng bào chế thích hợp hơn tác động đến khả năng tiếp thu, chuyển hóa của người bệnh làm cho thuốc có tác dụng nhanh hơn Ngoài ra, nhiều thuốc ngoại chịu chi phí cao cho phần quảng cáo, tiếp thị và một số thuốc chịu thuế nhập khẩu Do đó, giá thuốc ngoại cao hơn thuốc nội rất nhiều, chẳng hoàn toàn vì lý do chất lượng. Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng: 2. Các khái niệm về người tiêu dùng: Người tiêu dùng là những người sử dụng các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ cung ứng trên thị trường Người tiêu dùng nói chung được phân chia thành hai nhóm cơ bản: Người tiêu dùng cá nhân và người tiêu dùng tổ chức. Người tiêu dùng cá nhân là những người mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho cá nhân họ, cho gia đình, cho người thân, bạn bè.
Những người tiêu dùng này được gọi là người tiêu dùng cuối cùng. Người tiêu dùng tổ chức bao g m các tổ chức kinh doanh như doanh nghiệp, đơn vị hành chính sự nghiệp…họ là những người mua sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho hoạt động của cơ quan, tổ chức. Trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, chủ yếu thường tập trung vào người tiêu dùng cá nhân, bởi vì tiêu dùng cuối cùng là yếu tố bao trùm lên tất cả các dạng khác nhau của hành vi người tiêu dùng và liên quan đến mọi người với vai trò là người mua, người tiêu dùng hoặc cả hai. Mỗi người tiêu dùng có những ảnh hưởng, suy nghĩ khác nhau trong việc ra quyết định tiêu dùng sản phẩm.
Những quyết định này chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau và cũng ch nh những quyết định của người tiêu dùng cũng ảnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hưởng đến sự t n tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, để t n tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì doanh nghiệp phải có quá trình nghiên cứu thị trường, phải tìm hiểu xem người tiêu dùng cần gì, nghĩ gì và muốn sử dụng gì? 2. Các khái niệm về hành vi người tiêu dùng: Theo Philip Kotler, nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của khách hàng là một nhiệm vụ quan trọng có ảnh hưởng rất lớn trong quy trình ra quyết định về chiến lược tiếp thị của các doanh nghiệp. Các nhà tiếp thị nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đ ch nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của người tiêu dùng, cụ thể là xem những ai tạo nên thị trường đó? Thị trường đó mua những gì? Tại sao thị trường đó mua? Những ai tham gia vào việc mua sắm? Thị trường đó mua sắm như thế nào? Khi nào thị trường đó mua sắm? Thị trường đó mua hàng ở đâu? Từ những câu hỏi đó, điều quan trọng nhất vẫn là những ai tham gia vào việc mua sắm? nghĩa là khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp là ai? Vì mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là khách hàng, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng với chi phí thấp nhất là mục tiêu chung của tất cả các doanh nghiệp nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Vì thế, các doanh nghiệp và các nhà tiếp thị phải hiểu được những nhu cầu và các yếu tố tác động, chi phối hành vi mua sắm của khách hàng. Và Philip Kotler đã hệ thống các yếu tố dẫn tới quyết định mua sắm của người tiêu dùng qua mô hình như sau: Kích thích Kích thích Đặc điểm Quá trình ra quyết Quyết định của marketing khác người mua định người mua - Sản phẩm - Kinh tế - Văn hóa - Nhận thức vấn đề - Giá - Công nghệ - Chọn sản phẩm - Xã hội - Tìm kiếm thông tin - Chọn nhãn hiệu - Địa điểm - Chính trị - Chọn đại lý - Tâm lý - Đánh giá - Chiêu thị - Văn hóa - Định thời gian - Cá tính - Quyết định - Định số lượng - Hậu mãi Hình 2.1: Mô hình hành vi của người tiêu dùng (Ngu n: Philip Kotler, 2001) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Dựa vào mô hình ta thấy, những kích th ch bên trong như sản phẩm, giá, địa điểm, chiêu thị và những k ch th ch bên ngoài như kinh tế, công nghệ, chính trị, văn hóa tác động và đi vào ý thức của người tiêu dùng. Cùng với những đặc điểm của người tiêu dùng như yếu tố văn hóa, xã hội, tâm lý, cá tính và quá trình ra quyết định của người tiêu dùng như nhận thức vấn đề, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án dẫn đến quyết định mua sắm Người tiếp thị phải hiểu được điều gì đang xảy ra trong ý thức người tiêu dùng giữa lúc các kích thích bên ngoài tác động và lúc quyết định mua sắm Nghĩa là họ phải trả lời được hai câu hỏi sau: - Những đặc điểm của người tiêu dùng như văn hóa, xã hội, tâm lý và cá tính ảnh hưởng như thế nào đến hành vi mua sắm? - Người tiêu dùng thông qua các quyết định mua sắm ra sao? Như vậy, hành vi người tiêu dùng là những phản ứng của khách hàng dưới tác động của những kích thích bên ngoài và quá trình tâm lý bên trong diễn ra trong quá trình thông qua quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ.