Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên vô cùng quý báu của mỗi quốc gia, là tài nguyên có thể tái tạo được. Rừng đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống của toàn bộ con người cũng như các sinh vật trên trái đất, rừng cung cấp oxi duy trì sự sống và là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái. Rừng cung cấp nhiều lâm đặc sản quý hiểm, duy trì sự phát triển của nguồn gen thực vật động vật có giá trị kinh tế cao, bảo tồn đa dạng sinh học. Rừng đóng vai trò to lớn đối với an ninh quốc phòng và nền kinh tế.
Rừng là nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, đồ gia dụng, những cây thuốc quý hiếm. Đặc biệt nữa rừng có vai trò bảo vệ môi trường sinh thái môi trường sống cho con người. Trong những năm gần đây, môi trường sống của nước ta cũng như cả thế giới đang bị biến động mạnh, không khí ô nhiễm nghiêm trọng, nhiệt độ trái đất tăng, thiên tai lũ lụt hạn hán xảy ra thường xuyên. Do vậy một câu hỏi lớn được đặt ra đâu là nguyên nhân gây nên những tình trạng như hiện nay? Và câu trả lời đưa ra là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên đó là diện tích và chất lượng rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng.
Ở nước ta rừng và đất rừng chiếm ¾ diện tích lãnh thổ, năm 1943 diện tích rừng có khoảng 14,3 triệu ha, độ che phủ đạt 43% nhưng đến năm 1995 diện tích chỉ còn 9,2 triệu ha. Trước tình trạng trên vào ngày 29/7/1998 Thủ tướng Chính phủ ra nghị định 02 về giao đất giao rừng, quyết định 661/Đ- TTG về mục tiêu nhiệm vụ chính sách trồng mới 5 triệu ha rừng trên cả nước, với mục tiêu bảo vệ diện tích rừng hiện có và tái tạo thêm vốn rừng bằng cách trồng thêm rừng nâng cao độ che phủ. Keo lai được chọn là loài cây trồng rừng chính, quan trọng, là loài cây chủ đạo trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng. Cây Keo lai hay còn gọi là sự kết hợp giữa giống hai loài keo lá tràm (Acacia auriculiormis) và Keo tai tượng (Acacia mangium) và được chuyển hóa từ những cây đầu dòng có năng suất cao.
Cây có nguồn gốc ở Australia n 2 và được trồng phổ biến ở Đông Nam Á. Cây Keo lai được chấm phá đầu tiên vào năm 1972 bởi hai nhà khoa học Hepbum va Ghim trong một quần thụ ở ven biển vùng Sabah, Malaysia.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo lá tràm (Acacia auriculiormis) và Keo tai tượng ( Acacia mangium) sẽ tạo ra cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn cây bố mẹ. Kết luận trên đã được xác định bởi kết quả nghiên cứu của Pedlay năm 1987. Sau đó hàng loạt các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học khác về năng lực sản xuất hạt giống và chất lượng gỗ, đặc tính di truyền, sự ra hoa kết quả của Keo lai…đã được công bố rộng rãi.
Cho đến nay Keo lai là loài cây đã được khẳng định là chịu đựng được sự khô hạn, tăng trưởng nhanh và ưu việt hơn Keo lá tràm kể cả trên đất cát nghèo dinh dưỡng. Việc đẩy mạnh trồng rừng kinh tế và rừng phòng hộ bằng Keo lai vô tính nhằm thay thế dần cây Keo lá tràm để tạo ra các quần thể rừng trồng chất lượng cao, trước hết là đối với dự án trồng rừng 661 cây Keo lai giữ vai trò là cây tiên phong đang là giải pháp hữu hiệu của ngành Lâm nghiệp nước ta hiện nay trong trồng rừng hiện nay. Việt Nam Keo lai được phát hiện ở một số tỉnh vùng Đông Nam Bộ,ở Ba Vì và một số tỉnh khác và được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam nghiên cứu khảo nghiệm và thành công, và đã được gây trồng trên nhiều vùng sinh thái của cả nước như: Vùng trung tâm, Đông bắc bộ, Bắc trung bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, … với nguồn giống chủ yếu là dùng phương pháp vô tính (giâm hom). Thái Nguyên có điều kiện lập địa thích hợp với sự phân bố của cây Keo lai, với các huyện phụ cận như Phú Lương được đánh giá là có điều kiện thổ nhưỡng khí hậu phù hợp, diện tích trồng keo để sản xuất kinh tế và che phủ đất là khá lớn, hiện nay vào khoảng 2.500 ha (năm 2008) tuy nhiên chưa thực sự đạt được kết quả cao.
Xuất phát từ thực tế và nhu cầu trên tôi xin đề xuất đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi và diện tích dinh dưỡng đến một số chỉ tiêu hình thái cây cá lẻ rừng trồng Keo lai (Acacia hybrid ) tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên ”. Mục đích nghiên cứu Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi và diện tích dinh dưỡng đến một số chỉ tiêu hình thái cây cá lẻ rừng trồng Keo lai (Acacia hybrid). (Acacia Auriculiormis x Acacia mangium) tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên từ đó làm cơ sở khoa học để đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp nhất để áp dụng vào thực tiễn sản xuất tại địa phương giúp mang lại hiệu quả cao nhất. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của tuổi và diện tích dinh dưỡng đến một số chỉ tiêu hình thái cây cá lẻ của lâm phần Keo lai tại xã Động Đạt huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số biện pháp lâm sinh phù hợp với mục tiêu kinh doanh nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Qua thực hiện chuyên đề sẽ giúp bản thân làm quen với thực tiễn, có điều kiện so sánh, đối chứng và kiểm nghiệm giữa lí thuyết và thực tiễn, củng cố kiến thức đã học được từ nhà trường và có điều kiện tích lũy thêm kiến thức thực tế. - Ý nghĩa trong khoa học: Thấy rõ thực trạng kinh tế lâm nghiệp, cụ thể là rừng trồng Keo lai trong thời gian qua phát triển tương đối mạnh trên địa bàn xã Động Đạt huyện Phú Lương tỉnh Thái nguyên. Kết quả và hiệu quả kinh tế cao của việc trồng keo tai tượng , một số tác động tích cực về mặt xã hội từ hoạt động này.
Để phát triển rừng sản xuẩt nói riêng và ngành lâm nghiệp nói chung cho cả huyện, tỉnh trong nhưng năm tiếp theo. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Sau khi nghiên cứu sẽ đóng góp một phần nhất định trong việc đề suất một số biện pháp kỹ thuật chắm sóc nuôi dưỡng rừng trồng. Việc nắm bắt được quy luật sinh trưởng, mối liên hệ giữa sinh trưởng của cây rừng, cây bụi thảm tươi với đặc điểm đất đai sẽ làm tiền đề cho việc đưa ra những biện pháp kỹ thuật lâm sinh cũ thể, hợp lý phục vụ cho công tác điều tra kinh doanh rừng cũng như công tác quy hoạch phát triển rừng Keo tại địa phương. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu Tuổi lâm phần là nhân tố cấu trúc về mặt thời gian, phản ánh giai đoạn sinh trưởng và phát triển của lâm phần. Đối với rừng trồng, căn cứ vào giai đoạn phát triển của lâm phần người ta chia thành các cấp tuổi + Cấp tuổi 1: rừng con + Cấp tuổi 2: rừng sào + Cấp tuổi 3: rừng trung niên + Cấp tuổi 4: rừng gần thành thục + Cấp tuổi 5: rừng thành thục + Cấp tuổi 6: rừng quá thành thục Cấp tuổi có thể ngắn hoặc dài, tùy thuộc vào loài cây, điều kiện lập địa…Đối với loài cây sinh trưởng nhanh cấp tuổi có thể 2- 5 năm; đối với loài cây sinh trưởng chậm cấp tuổi có thể 10- 20 năm. Khoảng không gian dinh dưỡng là một đại lượng biến thiên qua các giai đoạn tuổi,sau đó do sự tương tác giữa các cá thể cây rừng và điều kiện môi trường sẽ tạo nên một sự cân bằng.
Và được xác định qua mối quan hệ: Chiều cao bình quân(H), mật độ lâm phần(N), và tuổi lâm phần(T). Sự biến đổi của các đại lượng này đều có quy luật. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lĩnh vực này và đã cố gắng đưa ra một chỉ số có thể đại diện tốt cho các quy luật cạnh tranh và chọn lọc tự nhiên của lâm phần, tuy nhiên không một chỉ tiêu đơn lẻ nào thoả mãn được điều đó (Jeroê K Vanclay 1994). Các chỉ số cạnh tranh được đề xuất có thể chia làm 4 dạng chủ yếu sau1: 1.
Vùng bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh (competivi influence zone) 2. Diện tích dinh dưỡng tiềm năng sẵn có (area potentially available) 3. Cỡ khoảng cách (size-distance) bao gồm cả chiều ngang và thẳng đứng. Tầm nhìn không gian (sky – view) và tầm ánh sáng bị chặn (light- interception).
n 5 Cách đo đếm và xác định các chỉ số cạnh tranh mà các tác giả đề xuất đều khác nhau ngay cả khi cùng ở một dạng chỉ số. Một số tác giả trên thế giới đã sử dụng các chỉ số cạnh tranh để nghiên cứu quá trình cạnh tranh của các cây rừng trong lâm phần, cả thuần loại đều tuổi đến hỗn loại khác tuổi. Tuy nhiên, theo Opie (1968), Lorimer (1983), Martin và Ek (1984).Vanclay 1994) thì việc xác định các chỉ số cạnh tranh theo các phương pháp đã nêu thường là rất phức tạp và chi phí lớn. Hơn thế nữa, thường khó có thể ước lượng các chỉ tiêu về tăng trưởng trực tiếp thông qua các chỉ số cạnh tranh này, vì vậy nó ít được áp dụng trong thực tiễn.
Nakayama và Nagashima (1963), Newham (1966), Rudra (1980) trên cơ sở chấp nhận hình chiếu tán lá là hình tròn để đo đường kính hình chiếu tán lá và coi đó là chỉ tiêu biểu thị diện tích dinh dưỡng cây rừng khi nghiên cứu về không gian dinh dưỡng và mối quan hệ của nó với các nhân tố điều tra. Các nghiên cứu về không gian dinh dưuỡng và diện tích dinh dưỡng đã cố gắng phản ánh đưựoc quy luật cạnh tranh, chọn lọc tự nhiên trong lâm phần. Cùng với các nghiên cứu về mật độ khác đã góp phần làm phong phú thêm các phương pháp nghiên cứu về quá trình cạnh tranh, chọn lọc tự nhiên trong lâm phần, những cơ sở để xác định mật độ tối ưu lâm phần tại thưòi điểm nào đó. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Keo lai tên khoa học: Acacia hybrid (Acacia mangium x Acacia auriculiormis).