Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Phân loại thực vật học và nguồn gốc, phân bố của cây hương thảo 1.1 Phân loại Danh pháp: Rosmarinus officinalis Bộ (ordo): Lamiales Họ (familia): Lamiaceae Chi (genus): Rosmarinus Loai (species): R.2 Nguồn gốc và phan bố Cây hương thảo có nguồn gốc từ các khu vực khô, đất nhiều đá thuộc khu vực Dia Trung Hải ở Bồ Đào Nha và Tây Bắc Tây Ban Nha, đặc biệt là doc theo bờ biển. Tên chi Rosmarinus bắt nguồn từ hai từ gốc Latinh “ros” và “marinus” có nghĩa là “sương biên”. Sau này, cây hương thảo còn được gọi là Rose of Mary hay hương thảo dé vinh danh Đức Trinh Nữ Maria. Có nhiều câu chuyện hoặc truyền thuyết khác nhau đề giải thích sự liên kết này.
Cây hương thảo đã được sử dụng từ thời kỳ đầu của người Hy Lạp và La Mã (Embuscado, 2016). Hiện nay, cây hương thao được trồng cho mục đích thương mai tại Pháp, Y, Tây Ban Nha, Morocco, Tunisia. Có một số quốc gia ở Châu Au trồng cây hương thảo trong các trang trại hữu cơ. Cây hương thảo cũng được trồng ở Hoa Kỳ, Mexico, ở hầu hết các 3 vùng của Nam Phi và một sé vung cua Chau A.
Ngoài ra, loại thảo mộc nay cũng được trồng ở các nước như Áo, Bi, Bulgaria, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Hy Lap, Hungary, Iceland, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Romania, Thụy Điển và Anh (Embuscado, 2016). Cây hương thảo đã được di thực từ Pháp vào Việt Nam và được trồng tại Bảo Lộc từ lâu. Hiện nay cây được trồng ở cả khu vực miền Trung và miền Nam (Huỳnh Thị Ngọc Sương và ctv, 2014; Nguyễn Ngọc Yến và ctv, 2019).2 Phan bó địa ly của Rosmarinus officinalis theo Co sở Thông tin Da dạng Sinh học Toàn cầu (GBIF) Nguồn: https://www.gbif org/species/2926634 1.3 Dac diém hinh thai Hương thảo là một loại thảo mộc thơm và có mùi bac hà đặc trưng rat thom va vị hơi đắng. Theo Embuscado (2016), cây hương thảo có những đặc điểm hình thái như sau: Ré: rễ của cây hương thảo là loại rễ chùm, tương đối ngắn phan rễ này còn có thé mọc ra từ thân của cây vì thé cây hương thao rất dé trồng và nhân giống.
Thân: thân thang với nhiều nhánh mảnh dai màu xám hoặc nâu nhạt. Ở nhiệt độ tối ưu có chiều cao từ 1 — 2 m, thường mọc thành bụi. Khác với loài cây khác thân hương thảo có mùi thơm dịu nhẹ. Lá: hình kim đẹp dài, không có cuống, phía trên mép có mép gập xuống dài 2 — 3 cm và rộng 1,2 — 3,5 mm.
Trên cành, các lá mọc đối điện với nhau màu xanh đậm, bền dưới hơi trắng với những chùm lồng tơ ngắn va dày đặc. Biéu bì trên của lá gồm một lớp tế bào hình đa giác và bat quy tắc, khéng có khí không. Biểu bì có một đến một vài lớp tế bào hình trứng tròn không đều với thành dày. Biéu bì đưới của lá có nhiều lồng tuyên nam rải rác.
Lá là phân có giá tri nhat trong các bộ phận của cây. Hoa: có kích thước nhỏ và có màu trắng, hồng, xanh nhạt đến xanh đậm hoặc tim. Đài hoa rộng 3 — 4 mm, màu xanh lục hoặc màu tia và phủ một lớp lồng rối khi còn non, sau phát triển thành cấu trúc nhẫn rộng 5 — 7 mm. Hoa hương thao có màu tím nhẹ, có chiều dai hoa khoảng 1 cm.
Khi nở, hoa xếp đều ở các vòng lá. Thường trên một nhánh cây sẽ có từ 2 đến 10 vòng xếp của hoa. Hoa nở có mùi thơm khá nồng và cuốn hút.3 Bản vẽ chồi, hoa va hạt hương thảo (Embuscado, 2016) 1.2 Nhu cầu sinh thái của cây hương thảo 1.1 Nhiệt độ Huong thảo là một loại cây ôn đới rat dé thích nghi, có thể chịu được sương giá nhưng phát triển tốt ở nhiệt độ 20 — 25°C. Nhiệt độ dat trên 18°C có lợi cho sự phát triển và tái sinh sau khi thu hoạch.
Tuy nhiên, cây hương thảo cũng có khả năng phục hồi và cũng có thể chịu được nhiệt độ thấp hơn (Embuscado, 2016).2 Nước và độ am Cây hương thảo không phải là loại cây ưa âm nên không cần phải tưới quá nhiều nước cho cây hương thảo, một tuần chỉ nên tưới từ 2 đến 3 lần và đảm bảo nước không bị ứ dong quá nhiều ở gốc gây thối rễ. Đặc biệt, tưới vào buổi sáng và không nên tưới vào ngọn và lá cây (Minero và ctv, 2020).3 Ánh sáng Cây hương thảo là loài cây ưa sáng, cây cân ít nhat 6 - 8 giờ tiép xúc với ánh năng nhưng quá nhiêu anh sáng chiêu trực tiép có thé khiên lá cây héo và ta một cách nhanh chóng, nên đặt cây vào nơi có ánh sáng, khí hậu âm áp. Đôi với cây ươm tôt nhât là có bong ram từ một số loài cây cao khác (Minero và ctv, 2020).4 Dinh dưỡng Theo Minero và ctv (2020), cây hương thảo không cần phải bón quá nhiều dinh dưỡng. Cây không cần bón phân vẫn có thể phát triển tốt, tuy nhiên phải bón vôi cho đất dé cung cấp canxi tự nhiên giúp cây thải độc và tăng kha năng chống chịu.
Trong hau hết các trường hợp, nên bón 10 tan phân chuồng hoai mục cho 1 hecta và cày xới kỹ trước khi trồng cây hương thảo con. Trong trường hợp thiếu dinh dưỡng, cần bón phân bón đất NPK 20 — 20 - 20 (180 kg/ha) cùng lúc với việc trồng và tưới nước đầy đủ cho cây con (Minero và ctv, 2020).5 Dat trồng Cây hương thảo có thê phát triển trong tat cả các loại dat thoát nước tốt. Chúng có thể chịu được pH từ 5,5 — 8. Tuy nhiên, năng nuất thường đạt được trên đất cát màu mỡ đến đất thịt pha sét có pH gần bằng 7 và thoát nước rất tốt (Embuscado, 2016).
6 Theo Trần Thị Doanh (2022), do bộ rễ của cây hương thảo nhạy cảm và dé bị thối khi ing nước nên chọn đất trồng phải tơi xốp và thoát nước tốt, trước khi trồng cần cày bừa kỹ, phơi ải ít nhất 10 ngày và xử lý đất bằng nam đối kháng Trichoderma. Luống rộng 80 - 100 cm, cao 35 - 40 cm, rãnh rộng 30 - 40 cm thuận tiện cho việc tiêu thoát nước.3 Thu hoạch và bảo quản Theo Embuscado (2016): Hương thảo được thu hoạch 1 — 2 lần/năm, thường là 18 tháng sau khi gieo hạt, va trong một số trường hợp sau 24 tháng, sau đó có thé thu hoạch thường xuyên hơn khi cây trưởng thành. Việc thu hoạch được thực hiện trước khi cây chuyền qua giai đoạn ra hoa. Lá hương thảo tươi sạch, đã được loại bỏ bụi ban, cành cay và các thứ khổng liên quan có màu xanh đậm và có hương vị thơm ngon.
Thông thường, các chồi non được sử dụng cho các mục đích ẩm thực. Sinh khối thân, lá được đóng gói trong thùng khi bán ra thị trường. Lá hương thảo tươi được đóng gói và bảo quản ở nhiệt độ lạnh mát (~ 5°C) có thể lưu giữ được ít nhất 2 - 3 tuần. Ngoài ra, lá hương thảo còn được làm khó bằng cách trải ra khay hoặc treo thành chùm tránh ánh nắng trực tiếp sau khi đã được làm sạch.
Say khó nền được thực hiện ở nhiệt độ thấp hơn 40°C dé tránh làm mắt hương vị và giữ được màu xanh đậm của lá. Sau khi phơi khó, lá được làm sạch tiếp tục sàng (loại bỏ thân cây, di vật) và phan loại. Việc sử dụng phương pháp làm khó nhân tao hơn là phơi nắng, nhiệt độ được kiểm soát tốt hơn khi sử dụng phương pháp làm khó tự nhiên. Hương thảo khó được đóng gói và bán trong thùng giấy, trong hộp thủy tinh hoặc nhựa, đậy kin và bảo quản ở nhiệt độ thấp tránh độ ẩm, nhiệt độ, oxy và ánh sáng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Toàn bộ lá hương thảo khó đạt chất lượng tốt phải chứa ít nhất 1,2% tinh dau dé bay hơi, tối đa là 2% thân gỗ và 7% tro.4 Tinh dầu và thành phần hoá học trong cây hương thảo 1.1 Tỉnh dầu hương thảo Tinh dầu hương thao là một loại dầu loãng trong suốt không màu hoặc màu vàng nhạt. Tinh dầu có mùi thơm nông, rất đặc trưng và có vị hơi gắt, khổng tan trong nước, tan trong dung mới hữu cơ: methanol, diethylether, chloroform. Ty trọng của tinh dau trong khoảng 0,895 - 0,920 g/mL nên nhẹ hơn nước. Tinh dầu hương thảo có chỉ số acid nhỏ hơn 2 (0.9203 mgxor/g) là một chỉ số tốt đối với tinh dau, chỉ sé ester 17,4226 mgkom/g, chỉ số khúc xạ 1,464 - 1,473 (Tran Thị Kim Ngân và ctv, 2020).
Tinh dau hương thao được bảo quản ở nơi khổ ráo, thoáng mát, đậy nắp kin, dé trong tủ lạnh và còn được bao quản trong chai thủy tinh tốt nhất là chai có màu hồ phách. Sản phẩm khóng được tiếp xúc với ánh sáng, nhiệt, hoặc bất kỳ kim loại nào (Embuscado, 2016).2 Thành phần hoá học Bảng 1.1 Các thành phần hóa học chính trong cây Hương thảo Các nhóm chính Thành phân Monoterpene 1,8 - cineol (eucalyptol), camphor, ơ - pinene, borneol, B - pinene, limonene, p - cymene, verbenone va _ sesquiterpene (8 - caryophyllene). Diterpene camosic acid, carnosol, rosmarol, epirosmanol, isorosmanol, rosmaridifenol. Triterpene oleanolic acid, ursolic acid, betulin, ơ - amyrin, B - amyrin.
Phenolic Acid caffeic acid, chlorogenic acid, rosmarinic acid. luteolin, apigenin, genkwanin, diosmetin, hispidulin, 5 - hidroxi - 7, Flavonoid a ie : ae 4’ — dimetoxi - flavone, cirsimaritin. Sự khác biệt về thành phần hóa học trong các mẫu có nguồn gốc khác nhau do nhiều nguyên nhân như khí hậu, đất đai, hệ thống vi sinh vật cũng như côn trùng, sự 8 nhân giống hay quá trình canh tác. Thời điểm và phương pháp thu hoạch hay cách bảo quản mẫu cũng ảnh hưởng đến thành phần tinh dầu (Baser và Buchbauer, 2010).
CH ¡lây O A B a ~A\ D HạC A, (—CHạ HO.4 Cấu trúc một số thành phần hóa học chính trong cây hương thảo (A) 1,8 - cineole; (B) camphor; (C) verbenone; (D) - caryophyllene, (E) carnosol; (F) oleanolic acid; (G) a - amyrin; (H) ursolic acid; (I) genkwanin; (J) rosmarinic acid; (K) caffeic acid 1.3 Các nghiên cứu về thành phan tinh dầu hương thao ở Việt Nam Năm 2020, Trần Thị Kim Ngân và ctv, đã báo cáo tinh dau từ lá hương thảo được trồng tại khu vực Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam và được thu thập vào tháng 3 - 4 năm 2019, có chứa 30 thành phần hóa học khác nhau về số lượng được xác định theo phan trăm trong tổng thành phan tinh dau; trong đó, các thành phần hóa học có hàm lượng cao trong tinh dau là: a - pinene (26,0%), eucalyptol (18,0%).