CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tình hình phát triển diện tích trồng mía ở Việt Nam 1. Diện tích và sản lượng mía đường Việt Nam Ngày 15/02/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 26/2007/QĐ- TTg phê duyệt quy hoạch phát triển mía đường đến năm 2010 và định hướng đến 2020 với các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2010 là: Diện tích mía 300.000 ha, năng suất mía bình quân 65 tấn/ha, sản lượng mía 19,5 triệu tấn và sản lượng đường là 1,5 triệu tấn (trong đó đường công nghiệp là 1,4 triệu tấn). Tuy nhiên, theo số liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến cuối năm 2010, diện tích mía cả nước chỉ đạt 266.300 ha, sản lượng mía cả nước chỉ đạt 15,947 triệu tấn, sản lượng đường ước đạt gần 1 triệu tấn.
Trong những năm 2007 -2011, diện tích trồng mía trên cả nước giảm dần do không cạnh tranh nổi với một số cây trồng có thu nhập cao hơn khiến tình trạng thiếu nguyên liệu thường xuyên xảy ra. Điển hình ĐBSCL là nơi có diện tích trồng mía lớn nhất cả nước với khoảng 60.000ha, giảm gần 10.000ha so với các niên vụ trước, sản lượng mía nguyên liệu ước đạt 3,8 triệu tấn. Với 10 nhà máy đường trong vùng, tổng công suất ép mía lên đến 22.500 tấn/ngày, nếu cân đối thời gian sản xuất của các nhà máy thì số mía nguyên liệu trên chỉ đủ dùng trong 5 - 6 tháng. Đó là chưa kể cả nước còn khoảng 30 nhà máy đường nằm rải rác từ Bắc vào Nam, công suất bình quân 2.644 tấn mía cây/ngày, nhưng hoạt động chỉ đạt hơn 60% so với công suất thiết kế.
Tổng hợp so sánh một số chỉ tiêu chủ yếu đạt được năm 2010 Đơn vị Theo Quyết định Đạt được So sánh Chỉ tiêu tính 26/2007/QĐ-TTg năm 2010 (%) Diện tích mía ha 300.300 -11,2 Năng suất mía bình quân Tấn/ha 65 59,9 -7,8 Chữ đường bình quân CCS 11 10 -9,1 Sản lượng mía Triệu tấn 19,5 15,947 -18,2 Tổng công suất nhà máy Tấn/ngày 105.750 0,7 Sản lượng đường Tấn 1.000 -33,3 5 Trong những năm gần đây, cùng với sự phục hồi của thị trường thế giới, diện tích trồng mía của Việt Nam có xu hường tăng trở lại. Sản lượng khai thác mía của Việt Nam hiện nay đang đứng ở vị trí thứ 21 trong tổng số các quốc gia sản xuất đường trên thế giới. Năng suất khai thác cao nhất là ở ĐBSCL, tuy nhiên chất lượng mía ở vùng này thấp hơn so với các khu vực còn lại (Trần Hùng và nnk, 2014) Hình 1. Tổng diện tích trồng mía của Việt Nam qua các năm Nguồn: MARD, DCP 2013 Hình 1.
Tổng sản lượng mía của Việt Nam qua các năm 6 1. Giống mía đường Việt Nam Giống mía hiện có ở nước ta khá phong phú, từ các giống mía hoang dại còn tồn tại ở một số vùng như mía lau, mía gie, mía đế,… đến các giống mía được lai tạo tại Việt Nam hoặc có nguồn gốc từ nhiều nước khác trên thế giới. Dưới thời Pháp thuộc, ngoài những giống mía dại, giống địa phương được tuyển chọn, trồng để ăn tươi và ép đường mật, bắt đầu xuất hiện một số giống nhập nội từ nước ngoài như POJ (Indonesia), Co (Ấn Độ) và F (Đài Loan) trong vùng nguyên liệu mía. Từ thập kỷ 1960 đến trước ngày giải phóng miền Nam (1975), bộ giống mía trong nước đã được bổ sung thêm nhiều các giống nhập nội.
Ngoài các giống mía dại, giống địa phương như mía vàng, mía đỏ, mía tre,… chủ yếu dùng để ép đường mật, các giống mía nhập nội như: POJ3016, POJ2878, Co290, Co300, Co421, Co419, CP49/50, F108, F134, NCo310,… đã được trồng rộng rãi ở các vùng nguyên liệu mía và sử dụng chủ yếu để sản xuất đường ăn tại các nhà máy đường công nghiệp hiện đại. Từ năm 1990 đến nay, đặc biệt là sau khi Chương trình 1 triệu tấn đường được chính thức phê duyệt năm 1995, hàng chục giống mía mới có nguồn gốc từ Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Pháp,… được nhập nội, bổ sung vào cơ cấu giống và được trồng rộng rãi, đều khắp các vùng mía của các nhà máy đường trên cả nước. Một số giống mía có năng suất, chất lượng cao, thích hợp với điều kiện canh tác ở một số vùng mía như My55-14, F156, ROC10, ROC16, VĐ86-368, QĐ11, R570, K84-200, K88-92, Suphanburi 7, LK92-11… đã được công nhận giống và cho phép phổ biến rộng rãi ra sản xuất. Bên cạnh đó, công tác lai tạo giống mía trong nước, vốn được khởi động từ năm 1965, sau đó được Cuba giúp đỡ khôi phục và phát triển thêm từ năm 1982 cũng bắt đầu thu được kết quả, một số giống mía lai Việt Nam tốt như VN84-4137, VN84-422, VN85-1427, VN85-1859,… đã được công nhận và cho phép phổ biến rộng.
Năng suất và chất lượng mía đường Việt Nam Nhìn chung năng suất mía bình quân của Việt Nam thấp hơn so với các nước khác, đặc biệt là Thái Lan, tuy nhiên cũng đã được cải thiện đáng kể trong thời gian 7 gần đây. Năng suất mía đã được nâng từ bình quân 53,5 tấn/ha ở vụ 2002- 2003 lên đạt 63,9 tấn/ha ở vụ 2012- 2013. Tuy nhiên, chất lượng mía nguyên liệu của ta vẫn còn ở mức khá thấp, chữ đường thấp hơn từ 1,2 – 2,4 CCS so với Thái Lan. 90,00 13,0 12,0 80,00 11,0 70,00 10,0 Năng suất mía (Tấn/Ha) 60,00 9,0 CCS (%) 8,0 50,00 7,0 40,00 6,0 5,0 30,00 4,0 20,00 3,0 2,0 10,00 1,0 0,00 0,0 2002-2003 2003-2004 2004-2005 2005-2006 2006-2007 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012 2012-2013 Vụ Năng suất mía (Tấn/Ha) ở Việt Nam Năng suất mía (Tấn/Ha) ở Thái Lan CCS (%) ở Việt Nam CCS (%) ở Thái Lan Nguồn: MARD, DCP 2013 Hình 1.
So sánh năng suất và chất lượng cây mía đường Việt Nam và Thái Lan 1. Đánh giá chung về hiện trạng mía đường Việt Nam Với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng khá thuận lợi, ngành nghề trồng mía để sản xuất đường của Việt Nam bước đầu hình thành từ những năm 1990. Đến nay trải qua hơn 20 năm phát triển ngành mía đường Việt Nam có thế đánh giá sơ bộ như sau: Cây mía đường là một cây trồng chủ lực của Việt Nam. Mía đường không chỉ là nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng của nhiều ngành công nghiệp mà còn tạo ra việc làm cho hàng triệu lao động và thu vể hơn 200 triệu USD xuất khẩu (năm 2013); Về tổng thể, Việt Nam có khả năng đáp ứng 70 - 80% nhu cầu tiêu thụ đường trong nước.
Hàng năm, sản lượng đường sản xuất trong nước khoảng 0,9 - 1,1 triệu tấn/năm, chiếm 70 - 80% nhu cầu tiêu thụ khoảng 1,2 - 1,4 triệu tấn/năm. Tuy vậy, diễn biến cung cầu đường rất khó dự báo do phụ thuộc nhiều yếu tố như: sự bất 8 thường của thời tiết gây ảnh hưởng đến nguyên liệu mía đầu vào, sản lượng đường nhập khẩu (chính thức và nhập lậu), sản lượng đường xuất khẩu, sự tăng/giảm nhu cầu của các ngành sản xuất dùng đường làm nguyên liệu (bánh kẹo, sữa, nước ngọt, bia…). Ngành mía đường là ngành nhận được rất nhiều ưu tiên từ đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng hệ thống nhà máy chế biến và chính sách ưu tiên về thuế từ Chính Phủ. Nhưng thực tế trong thời gian vừa qua mía đường Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn và hạn chế lớn.
Mặc dù có một giai đoạn (2007 -2011) suy giảm mạnh mẽ nhưng diện tích và sản lượng, mía đường hiện nay đang phục hồi mạnh mẽ với 300.000ha và sản lượng 1,53 triệu tấn/năm. Tồn tại sự cạnh tranh lớn trong thu mua nguyên liệu mía đối với một số nhà máy sản xuất đường không có vùng nguyên liệu ổn định. Tính chung cả nước có khoảng 40 nhà máy sản xuất đường với tổng công suất thiết kế khoảng 112. Tuy nhiên công suất hoạt động thực tế chỉ đạt 60% - 70% do thiếu nguyên liệu (đạt 62% - niên vụ 2009/2010; 75% - niên vụ 2010/2011).
Năng lực cạnh tranh của ngành đường Việt Nam thấp so với thế giới và các nước trong khu vực. Tình trạng thiếu hụt mía nguyên liệu diễn ra thường xuyên, kết hợp với chất lượng mía, năng suất đường trên 1 ha thấp so với thế giới và các nước trong khu vực dẫn đến giá thành cao, làm giảm năng lực cạnh tranh của ngành đường Việt Nam. Đây chính là nguyên nhân làm cho đường nhập lậu có điều kiện phát triển và hạn chế khả năng suất khẩu đường của Việt Nam. Bên cạnh những nguyên nhân về công nghệ chế biến, tổ chức sản xuất.thì nguyên nhân lớn nhất gây ra khó khăn và tồn tại của ngành mía đường Việt Nam hiện nay là năng suất cây mía còn quá thấp.
Năng suất và chất lượng mía Việt Nam đã được cải thiện từ 50 tấn/ha (2000) lên 60,5 tấn/ha (2010). Tuy vậy, so sánh với năng suất mía của các nước có diện tích mía lớn như Brasil, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái năng suất mía của nước ta là quá thấp. 9 Toàn bộ diện tích mía hiện nay không được tưới đủ, công nghệ tưới lạc hậu, trên 50% diện tích mía trông vào nước trời là nguyên nhân chính dẫn tới năng suất mía của Việt Nam thấp như hiện nay. Áp dụng công nghệ tươí tiên tiến kết hợp với quy trình canh tác khoa học là con đường bắt buộc để ngành mía đường Việt Nam có thể thoát ra khỏi khó khăn và phát triển bền vững.
Phương pháp và công nghệ tưới cho mía 1. Phương pháp tưới rãnh Tưới rãnh được áp dụng rộng rãi nhất trong canh tác mía với nguồn nước tương đối thuận lợi. Tưới rãnh là phương pháp truyền thống, được áp dụng rộng rãi đối với nhiều loại cây trồng cạn. Nước từ nguồn được đưa vào các rãnh ở giữa các hàng mía qua hệ thống kênh dẫn, ống dẫn hoặc vòi lưu động và thấm dần sang hai bên cho cây mía.
Công nghệ tưới rãnh cho cây mía a. Các ưu điểm - Yêu cầu kỹ thuật không cao, dễ áp dụng; - Vốn đầu tư ít; - Không làm ướt lá nên có thể tránh một số bệnh cho cây. Các nhược điểm - Hiệu quả thấp, năng suất khoảng 50 tấn/ha; - Tốn nước do lượng thất thoát nước lớn; 10 - Không chủ động được nguồn nước và thời gian tưới; - Gây xói lở, phá vỡ kết cấu đất; - Phân bón rễ bị bay hơi, rửa trôi do mưa bất thường; - Bón phân lấp đất vất vả do phải đào rãnh và lấp phân; - Tốn nhân công do phải di chuyển ống, vòi nước. Công nghệ tưới phun Hiện nay, nhiều nơi áp dụng rộng rãi phương pháp tưới phun, đặc biệt là các công ty mía đường lớn trong nước như ở Khánh Hòa, công ty CP đường Ninh Hòa, Công ty Cổ phần Mía đường Nhiệt điện Gia Lai,.