Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoa hồng (Rosa sp.) là một trong năm loại hoa chủ lực trong cơ cấu sản xuất hoa tại Việt Nam (Lê Huy Hàm và cộng sự, 2012). Bên cạnh hình thức sản xuất hoa cắt cành truyền thống, xu hướng trồng hoa hồng trong chậu ngày càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là hai chủng loại: Hồng leo (Rosa spp.) và Hồng tiểu muội (Rosa chinensis Jacq.). Cây Hồng tiểu muội có nguồn gốc từ Trung Quốc, thuộc dạng cây bụi thấp (chiều cao 25 – 40 cm), nhiều cành nhánh, lá kép nhỏ có răng cưa. Cây Hồng leo là nhóm có tốc độ tăng trưởng nhanh, hoa mọc thành chùm, nhiều cánh, mùi thơm và màu sắc đa dạng.

Thành phố Sa Đéc (tỉnh Đồng Tháp) là một trong ba trung tâm sản xuất hoa kiểng lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long (cùng với Cái Mơn - Bến Tre và Phó Thọ - Bà Bộ - Cần Thơ). Tuy nhiên, nghề trồng hoa tại địa phương vẫn mang tính tự phát, phụ thuộc tập quán canh tác truyền thống. Nguồn giá thể địa phương chủ yếu là phân rơm mục kết hợp vỏ trấu, có nhược điểm là nguồn cung bấp bênh, giá thành tăng cao vào các đợt cao điểm mùa vụ, trong khi các nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp dồi dào tại chỗ chưa được xử lý và tận dụng hiệu quả bằng các quy trình kỹ thuật tiên tiến.

Để giải quyết vấn đề này, đề tài "Thử nghiệm mô hình ứng dụng giá thể cho cây Hồng leo và Hồng tiểu muội trồng chậu tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp" được thực hiện nhằm xác định công thức giá thể phối trộn từ các nguồn phụ phẩm địa phương thay thế giá thể truyền thống.

Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định công thức giá thể phù hợp nhất cho cây Hồng leo và Hồng tiểu muội trồng chậu sinh trưởng, phát triển tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn từ 20% so với sản xuất đại trà tại Sa Đéc.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Bố trí thí nghiệm, theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu thời gian sinh trưởng, phát triển và phẩm chất hoa của cây hoa Hồng leo và Hồng tiểu muội trên các công thức giá thể.
    • Tính toán và đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của từng mô hình giá thể thử nghiệm so với đối chứng.
    • Xử lý, phân tích thống kê số liệu thu thập nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây hoa Hồng leo giâm cành 1 tháng tuổi và cây hoa Hồng tiểu muội chiết cành 1 tháng tuổi; các công thức giá thể phối trộn từ mụn dừa, bã nấm rơm, phân bò, bùn đáy ao cá tra, rơm rạ và than sinh học vỏ trấu.
  • Phạm vi không gian: Vườn hoa kiểng Bình An (496A khóm Tân Mỹ, phường Tân Quy Đông, TP. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp), bố trí trong điều kiện nhà màng.
  • Phạm vi thời gian: Thí nghiệm được triển khai từ tháng 09/2023 đến tháng 01/2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và đặc tính giá thể

Nghiên cứu dựa trên các yêu cầu sinh thái học và thổ nhưỡng của chi Rosa:

  • Yêu cầu sinh thái: Nhiệt độ tối ưu 18 – 25°C, độ ẩm không khí 80 – 85%, độ ẩm đất/giá thể 60 – 75%, cường độ ánh sáng đạt khoảng 40.000 lux (tối thiểu 8 giờ chiếu sáng/ngày).
  • Yêu cầu lý - hóa tính của giá thể: Tầng giá thể cần thoáng khí (tỷ lệ không khí tầng mặt đạt tối thiểu 17% và tầng dưới đạt trên 20%), độ dẫn điện (EC) thích hợp từ dưới 0,6 mS/cm đến 1,0 mS/cm ở giai đoạn ra hoa, pH thích hợp từ 5,5 – 6,5, tỷ lệ C/N cân đối để đảm bảo độ bền cấu trúc.
  • Nguồn vật liệu phối trộn: Mụn dừa (đã xử lý tannin và lignin bằng nước vôi), bã nấm rơm (giàu hữu cơ, khoáng N, P, K), bùn đáy ao nuôi cá tra (chứa 10,5 – 11,7% chất hữu cơ, 0,5% đạm tổng số, 0,22% lân tổng số), phân bò hoai mục, rơm rạ ủ vi sinh và than sinh học từ vỏ trấu (TSH).

Bố trí thí nghiệm và quy mô

Nghiên cứu thực hiện hai thí nghiệm diện rộng song song, bố trí theo kiểu ngẫu nhiên không lặp lại:

  • Thí nghiệm 1 (Hồng leo):
    • Công thức thử nghiệm (Giá thể NL): 65% GT1 : 25% GT2 : 10% TSH.
    • Công thức đối chứng (Giá thể SD): 80% phân rơm (PR) : 20% vỏ trấu (VT) (được ủ với nấm Trichoderma liều lượng 1 kg/m³ trong 45 ngày).
    • Quy mô: 2 ô cơ sở, 300 chậu/ô, 1 cây/chậu (kích thước chậu: 25 x 20 x 21 cm, thể tích giá thể 7.128 cm³), tổng cộng 600 cây.
  • Thí nghiệm 2 (Hồng tiểu muội):
    • Công thức thử nghiệm (Giá thể NL): 80% GT1 : 10% GT2 : 10% TSH.
    • Công thức đối chứng (Giá thể SD): 80% PR : 20% VT.
    • Quy mô: 2 ô cơ sở, 300 chậu/ô, 1 cây/chậu, tổng cộng 600 cây.

(Ghi chú: GT1 gồm bã nấm rơm, mụn dừa, phân bò; GT2 gồm bùn đáy ao cá tra, rơm rạ, phân bò được ủ compost hiếu khí 28 – 35 ngày; TSH là than sinh học vỏ trấu. Các hợp phần này thuộc dự án do TS. Trần Văn Thịnh làm chủ nhiệm).

Chỉ tiêu và phương pháp thu thập số liệu

  • Chỉ tiêu sinh trưởng: Đo định kỳ 10 ngày/lần (từ 10 đến 90 ngày sau trồng - NST) trên 50 cây ngẫu nhiên/công thức gồm chiều cao cây, số cành cấp 1, số lá/cành cấp 1, chiều dài cành cấp 1, đường kính cành cấp 1, đường kính tán.
  • Chỉ tiêu bộ rễ và sinh khối: Thu thập tại thời điểm xuất vườn trên 25 cây ngẫu nhiên/công thức gồm chiều dài rễ chính, khối lượng tươi rễ, khối lượng tươi thân lá.
  • Chỉ tiêu phát triển hoa: Theo dõi trên 25 cây ngẫu nhiên/công thức gồm ngày phân cành, ngày ra nụ, ngày hoa nở, ngày hoa tàn (xác định khi 50% số cây đạt chỉ tiêu), độ bền hoa tự nhiên (ngày hoa tàn trừ ngày hoa nở), số nụ/cây, số hoa/cây, tỷ lệ hoa nở (%), đường kính hoa (cm).
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế: Tính toán dựa trên tỷ lệ chậu thương phẩm loại 1, loại 2, tổng chi phí sản xuất và doanh thu thực tế cho quy mô 300 chậu, xác định tỷ lệ tăng hiệu quả kinh tế $HQ_i (%)$.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tổng hợp trên Microsoft Excel; kiểm định sai biệt giá trị trung bình giữa hai nghiệm thức bằng T-test trên phần mềm Minitab® 16.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất hoa hồng và công nghệ giá thể:

  • Nguồn gốc, phân loại thực vật chi Rosa (nhóm hồng dại, hồng cổ điển, hồng hiện đại); đặc điểm hình thái rễ chùm nông, thân bụi/leo, lá kép lông chim lẻ và hoa lưỡng tính.
  • Nhu cầu dinh dưỡng khoáng đa lượng ($N:P:K = 18:8:17$) và điều kiện môi trường tối ưu cho hoa hồng chậu.
  • Vai trò của giá thể trồng chậu: Độ rỗng, khả năng giữ ẩm, độ thoáng khí, dung tích hấp thu cation (CEC) và pH.
  • Khảo cứu các vật liệu hữu cơ: Mụn xơ dừa, bã nấm rơm sau thu hoạch, phân bò hoai mục, bùn đáy ao thâm canh cá tra và than sinh học trấu.
  • Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về phối trộn giá thể: Kết quả thử nghiệm giá thể hoa kiểng của Huỳnh Thanh Hùng và cộng sự (2008), nghiên cứu trên giống hoa hồng "Baby Boomer" tại Pakistan (Adnan, 2015), giống "Orange Meillandina" tại Iran (Masood và cộng sự, 2020), hoa hồng Bishop’s Castle tại Thái Nguyên (Hà Minh Tuân và cộng sự, 2018) và các thử nghiệm hoa hồng tại TP. Hồ Chí Minh (Cao Ngọc Hân, 2021).

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết phương pháp thực nghiệm, quy trình phối trộn, quy trình chăm sóc và đặc tính lý - hóa của các loại giá thể sử dụng:

Chỉ tiêu lý hóa Phương pháp thử Đơn vị Hồng leo - NL Hồng tiểu muội - NL Đối chứng (SD)
Độ thoáng khí TCN % (v/v) 29,4 30,8 40,7
Khả năng giữ nước TCVN 6651:2000 % (v/v) 47,9 49,2 39,8
Độ rỗng TCVN 11399:2016 % (v/v) 77,3 80,0 80,5
Lượng nước hữu dụng TCVN 9297:2012 % (v/v) 32,7 29,2 16,6
pH ($H_2O$) TCVN 3263-9:2020 - 6,6 6,7 7,3
$EC_e$ TCVN 6650:2000 dS/m 1,21 1,37 1,18
Carbon hữu cơ TCVN 9294:2012 % 24,3 26,7 31,8
Đạm tổng số ($N_{ts}$) TCVN 8557:2010 % 1,36 1,51 1,13
$N-NO_3^-$ TCVN 10682:2015 mg/kg 117,4 110,1 11,2
$P_2O_5$ tổng số TCVN 8559:2010 % 0,43 0,46 0,45
$K_2O$ tổng số TCVN 8560:2018 % 1,76 1,74 1,56
Tỷ lệ C/N Tính toán - 17,8 17,7 28,1

Nhận xét lý hóa tính: Giá thể NL có lượng nước hữu dụng cao hơn đối chứng SD gần gấp đôi ($29,2 - 32,7%$ so với $16,6%$), hàm lượng đạm dạng nitrate ($N-NO_3^-$) cao gấp gần 10 lần ($110,1 - 117,4\text{ mg/kg}$ so với $11,2\text{ mg/kg}$), tỷ lệ C/N đạt ngưỡng ổn định ($17,7 - 17,8$) hạn chế quá trình tái phân hủy gây yếm khí so với giá thể SD ($C/N = 28,1$).

Chương 3: Kết quả và thảo luận

1. Kết quả thử nghiệm trên hoa Hồng leo

  • Sinh trưởng thân lá và rễ:
    • Tại 10 NST, chiều cao cây giữa hai nghiệm thức chưa có sai biệt thống kê ($20,0\text{ cm}$ so với $19,8\text{ cm}$). Từ 20 NST đến 90 NST, giá thể NL vượt trội rõ rệt ($p < 0,01$); tại 90 NST, cây trên giá thể NL đạt chiều cao $77,5\text{ cm}$, cao hơn đối chứng SD ($70,4\text{ cm}$) là $7,1\text{ cm}$.
    • Tại 70 NST, cây ở giá thể NL đạt $6,3\text{ cành cấp 1}$; $8,0\text{ lá/cành}$; chiều dài cành cấp 1 đạt $31,7\text{ cm}$; đường kính cành cấp 1 đạt $4,0\text{ mm}$ (đối chứng SD lần lượt là $5,6\text{ cành}$; $7,1\text{ lá}$; $26,1\text{ cm}$; $3,6\text{ mm}$).
    • Đường kính tán tại 90 NST đạt $40,9\text{ cm}$ (NL) so với $33,7\text{ cm}$ (SD).
    • Khối lượng sinh khối tươi xuất vườn trên giá thể NL đạt $143,0\text{ g/cây}$ (thân lá $111,7\text{ g}$, rễ $31,3\text{ g}$, chiều dài rễ $20,8\text{ cm}$), cao hơn rõ rệt so với đối chứng SD đạt $124,1\text{ g/cây}$ (chiều dài rễ $14,2\text{ cm}$).
  • Chỉ tiêu hoa và phẩm chất:
    • Thời gian ra nụ (97,7 NST) và nở hoa (106,7 NST) ở nền giá thể NL chậm hơn nghiệm thức đối chứng SD (lần lượt là 96,0 NST và 103,8 NST), tuy nhiên độ bền hoa tự nhiên trên giá thể NL dài hơn 1,0 ngày ($6,4\text{ ngày}$ so với $5,4\text{ ngày}$, $p < 0,01$).
    • Số nụ đạt $17,7\text{ nụ/cây}$; số hoa đạt $16,0\text{ hoa/cây}$; tỷ lệ hoa nở đạt $90,7%$; đường kính hoa đạt $7,2\text{ cm}$ (vượt trội so với đối chứng SD tương ứng là $16,6\text{ nụ}$; $14,0\text{ hoa}$; $84,7%$ và $6,5\text{ cm}$).
  • Hiệu quả kinh tế:
    • Mô hình NL đạt 236 chậu loại 1 và 53 chậu loại 2 (tổng thương phẩm 289 chậu, chiếm $96,3%$). Đối chứng SD đạt 196 chậu loại 1 và 65 chậu loại 2 (thương phẩm 261 chậu, chiếm $87,0%$).
    • Lợi nhuận mô hình NL đạt $27.446.900\text{ đồng/300 chậu}$, cao hơn đối chứng SD ($20.640.400\text{ đồng/300 chậu}$), tương ứng chỉ số $HQ_i$ tăng $33,0%$.

2. Kết quả thử nghiệm trên hoa Hồng tiểu muội

  • Sinh trưởng thân lá và rễ:
    • Chiều cao cây ở giai đoạn 90 NST trên giá thể NL đạt $53,9\text{ cm}$ so với đối chứng SD là $46,8\text{ cm}$.
    • Tại 70 NST, giá thể NL đạt $6,1\text{ cành cấp 1}$; $24,9\text{ lá/cành}$ (gấp 1,24 lần so với đối chứng); đường kính tán tại 90 NST đạt $31,9\text{ cm}$ (đối chứng SD là $27,7\text{ cm}$).
    • Chiều dài rễ xuất vườn đạt $19,0\text{ cm}$ (đối chứng $16,5\text{ cm}$); tổng khối lượng sinh khối tươi đạt $128,7\text{ g/cây}$ (thân lá $100,3\text{ g}$, rễ $28,4\text{ g}$), cao hơn đối chứng SD ($111,0\text{ g/cây}$).
  • Chỉ tiêu hoa và phẩm chất:
    • Cây trồng trên giá thể NL có thời gian ra nụ (100,5 NST) và nở hoa (105,1 NST) muộn hơn đối chứng SD (99,0 NST và 103,2 NST), nhưng độ bền hoa tự nhiên kéo dài hơn 0,6 ngày ($5,9\text{ ngày}$ so với $5,3\text{ ngày}$, $p < 0,01$).
    • Số nụ đạt $23,1\text{ nụ/cây}$; số hoa đạt $21,2\text{ hoa/cây}$; tỷ lệ hoa nở đạt $91,7%$ (đối chứng đạt $21,7\text{ nụ}$; $19,2\text{ hoa}$; $88,6%$). Đường kính hoa giữa hai nghiệm thức tương đương nhau ($2,7\text{ cm}$ so với $2,6\text{ cm}$, khác biệt không có ý nghĩa thống kê với $T = 1,07$).
  • Hiệu quả kinh tế:
    • Mô hình NL đạt 231 chậu loại 1 và 56 chậu loại 2 (tổng thương phẩm 287 chậu, đạt $95,7%$). Đối chứng SD đạt 188 chậu loại 1 và 71 chậu loại 2 (thương phẩm 259 chậu, đạt $86,3%$).
    • Lợi nhuận mô hình NL đạt $27.416.900\text{ đồng/300 chậu}$, vượt $37,3%$ so với đối chứng SD ($19.965.400\text{ đồng/300 chậu}$).

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chủ yếu

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm đầy đủ về phản ứng của hai giống hoa hồng đối với công thức giá thể cải tiến so với giá thể rơm - trấu truyền thống:

Chỉ tiêu theo dõi Hồng leo (NL vs SD) Chênh lệch Hồng tiểu muội (NL vs SD) Chênh lệch
Chiều cao cây tại 90 NST (cm) 77,5 vs 70,4 +7,1 cm 53,9 vs 46,8 +7,1 cm
Đường kính tán tại 90 NST (cm) 40,9 vs 33,7 +7,2 cm 31,9 vs 27,7 +4,2 cm
Chiều dài rễ xuất vườn (cm) 20,8 vs 14,2 +6,6 cm 19,0 vs 16,5 +2,5 cm
Khối lượng tươi toàn cây (g) 143,0 vs 124,1 +18,9 g 128,7 vs 111,0 +17,7 g
Độ bền hoa tự nhiên (ngày) 6,4 vs 5,4 +1,0 ngày 5,9 vs 5,3 +0,6 ngày
Tỷ lệ hoa nở (%) 90,7 vs 84,7 +6,0% 91,7 vs 88,6 +3,1%
Tỷ lệ chậu thương phẩm (%) 96,3 vs 87,0 +9,3% 95,7 vs 86,3 +9,4%
Lợi nhuận tăng thêm ($HQ_i$) - +33,0% - +37,3%

Đề xuất giải pháp và đóng góp kỹ thuật

  • Đề xuất công thức chuẩn hóa:
    • Đối với Hồng leo trồng chậu: Sử dụng công thức giá thể phối trộn gồm 65% GT1 : 25% GT2 : 10% TSH.
    • Đối với Hồng tiểu muội trồng chậu: Sử dụng công thức giá thể phối trộn gồm 80% GT1 : 10% GT2 : 10% TSH.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước:
    • Giải quyết bài toán khan hiếm và biến động giá của phân rơm truyền thống tại Sa Đéc bằng việc tận dụng bùn đáy ao nuôi cá tra, bã nấm rơm và than sinh học trấu.
    • Cải thiện lượng nước hữu dụng trong giá thể tăng lên mức $29,2 - 32,7%$ (gần gấp đôi so với nền phân rơm mục địa phương là $16,6%$) và tăng hàm lượng $N-NO_3^-$ dễ tiêu, giúp bộ rễ phát triển sâu và tăng khả năng giữ hoa tươi lâu hơn sau xuất vườn.
    • Vượt mục tiêu ban đầu đề ra (tăng hiệu quả kinh tế trên 20%), thực tế đạt $33,0%$ (Hồng leo) và $37,3%$ (Hồng tiểu muội).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Nghiên cứu chỉ được thực hiện trong phạm vi một vụ thử nghiệm (từ tháng 09/2023 đến tháng 01/2024) tại một địa điểm duy nhất (Vườn hoa kiểng Bình An, TP. Sa Đéc).
  • Điều kiện khí hậu trong thời gian thí nghiệm có nhiệt độ trung bình ($27,4 - 29,0^\circ\text{C}$) cao hơn và độ ẩm trung bình ($66 - 84%$) thấp hơn so với ngưỡng sinh thái lý tưởng của cây hoa hồng, đòi hỏi kỹ thuật che chắn và tưới nước bổ sung.
  • Đề tài chưa khảo sát trên các giống hoa hồng ngoại khác hoặc các phương thức canh tác ngoài trời không có nhà màng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Khuyến cáo ứng dụng nhân rộng hai công thức giá thể NL cho các nhà vườn chuyên canh hoa hồng chậu tại Làng hoa Sa Đéc.
  • Tiến hành phân tích lại các chỉ tiêu lý - hóa tính của giá thể sau khi thu hoạch hoa nhằm đánh giá mức độ suy thoái dinh dưỡng và nghiên cứu khả năng tái sử dụng (hoặc xử lý bổ sung) giá thể cho các chu kỳ cây trồng tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thực tế cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Khoa học Đất và Dinh dưỡng Cây trồng: Nắm bắt phương pháp bố trí thí nghiệm diện rộng (300 chậu/nghiệm thức), phương pháp đo đạc các chỉ tiêu hình thái sinh trưởng, sinh lý hoa và quy trình hạch toán kinh tế nông hộ ($HQ_i$).
  • Nhà vườn, hợp tác xã sản xuất hoa kiểng tại Sa Đéc và vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Có thể ứng dụng trực tiếp tỷ lệ phối trộn giữa bã nấm, mụn dừa, bùn đáy ao cá tra hoai mục và biochar trấu nhằm hạ giá thành nguyên liệu, chủ động nguồn giá thể chất lượng cao thay thế phân rơm truyền thống.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Bảng phân tích chi tiết các chỉ tiêu lý hóa tính giá thể (Bảng 2.2, 2.3) và quy trình xử lý ủ compost hiếu khí bùn ao/bã nấm để làm chủ kỹ thuật chế biến phụ phẩm nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phần cụ thể của các hợp phần GT1, GT2 và TSH trong công thức thử nghiệm là gì?

  • GT1: Được sản xuất từ hỗn hợp bã nấm rơm, mụn dừa và phân bò.
  • GT2: Được sản xuất từ bùn đáy ao nuôi cá tra, rơm rạ và phân bò thông qua phương pháp ủ compost hiếu khí trong thời gian 28 – 35 ngày.
  • TSH: Than sinh học (biochar) sản xuất từ vỏ trấu.

2. Sự khác biệt lớn nhất về đặc tính hóa học và vật lý giữa giá thể NL và giá thể đối chứng SD là gì?

Về mặt vật lý, giá thể NL có lượng nước hữu dụng đạt $29,2 - 32,7%$, cao gần gấp đôi so với giá thể SD ($16,6%$). Về mặt hóa học, giá thể NL có hàm lượng đạm Nitrate ($N-NO_3^-$) đạt $110,1 - 117,4\text{ mg/kg}$ (cao gấp 10 lần so với mức $11,2\text{ mg/kg}$ của SD), đồng thời tỷ lệ C/N của NL đạt $17,7 - 17,8$ (đảm bảo tính ổn định), trong khi C/N của SD lên tới $28,1$ (chưa ổn định, dễ tiếp tục phân hủy trong chậu).

3. Việc sử dụng giá thể NL tác động như thế nào đến độ bền của hoa?

Cây trồng trên nền giá thể NL có thời gian nở hoa tự nhiên muộn hơn từ 1,9 đến 2,9 ngày so với đối chứng SD, nhưng độ bền hoa tự nhiên lại dài hơn:

  • Hồng leo trên giá thể NL có độ bền hoa đạt $6,4\text{ ngày}$ (dài hơn đối chứng SD $1,0\text{ ngày}$, $p < 0,01$).
  • Hồng tiểu muội trên giá thể NL có độ bền hoa đạt $5,9\text{ ngày}$ (dài hơn đối chứng SD $0,6\text{ ngày}$, $p < 0,01$).

4. Hiệu quả kinh tế của hai mô hình thử nghiệm được xác định như thế nào?

Hiệu quả kinh tế được tính trên quy mô 300 chậu/mô hình:

  • Hồng leo: Mô hình NL đạt 289 chậu thương phẩm ($96,3%$), lợi nhuận $27.446.900\text{ đồng}$, hiệu quả kinh tế ($HQ_i$) tăng $33,0%$ so với đối chứng SD.
  • Hồng tiểu muội: Mô hình NL đạt 287 chậu thương phẩm ($95,7%$), lợi nhuận $27.416.900\text{ đồng}$, hiệu quả kinh tế ($HQ_i$) tăng $37,3%$ so với đối chứng SD.

5. Phương pháp phân tích thống kê nào đã được tác giả sử dụng để đánh giá sai biệt số liệu?

Tác giả đã sử dụng phép kiểm định T-test độc lập trên phần mềm thống kê Minitab® 16 để so sánh giá trị trung bình giữa mô hình thử nghiệm và mô hình đối chứng, kiểm tra mức ý nghĩa thống kê ở các mức $5%$ ($p < 0,05$) và $1%$ ($p < 0,01$).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Huỳnh Quốc Hưng đã thử nghiệm thành công việc sử dụng các hợp phần giá thể hữu cơ chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp địa phương (mụn dừa, bã nấm rơm, bùn đáy ao cá tra và than sinh học trấu) cho cây Hồng leo và Hồng tiểu muội trồng chậu tại TP. Sa Đéc. Công thức phối trộn 65% GT1 : 25% GT2 : 10% TSH (cho Hồng leo) và 80% GT1 : 10% GT2 : 10% TSH (cho Hồng tiểu muội) đã chứng minh ưu thế vượt trội về sinh trưởng thân lá, phát triển bộ rễ, tỷ lệ hoa nở và kéo dài độ bền hoa tự nhiên so với nền phân rơm truyền thống. Kết quả nghiên cứu đem lại hiệu quả kinh tế tăng từ 33,0% đến 37,3%, cung cấp luận cứ kỹ thuật chuẩn xác phục vụ chuyển giao công nghệ giá thể công nghiệp cho Làng hoa Sa Đéc.