Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về nắm vân chỉ 1.1 Nguồn gốc nam vân chi Nam vân chi là một loại nắm thường mọc trên thân gỗ mục. Đã được sử dụng rộng rãi ở phương Đông từ lâu, ở Nhật Bản nó được gọi là “kawaratake”, và ở Trung Quốc nó được gọi là Yun Zhi (Kidd, 2000). Vân chi là loại nam phá gỗ có quả thé không cuống, phủ lông tơ, màu sắc biến đổi nhiều. Đảm quả khi non dang u lồi tròn, sau phân hóa thành dạng bán cầu, khi gia chuyền bán cầu dạng thận, dạng quạt cũng có khi trải sát nguyên liệu hay cuộn lại thành dạng vành.
Nam thường sinh trưởng thành dam, dang ngói lợp. Mặt mũ rất thay đôi về màu sắc, đặc trưng bởi những vòng đồng tâm với màu sắc khác nhau từ trắng đến vàng nhạt, nâu nhạt, nâu ri, có sắc xanh đến den. Mép mũ nhẫn, màu sáng hơn, lượn sóng. Kích thước mũ từ 1 — 5 x 4 - 6 cm.
Thịt nắm mỏng, chất bì dai, dày 0,5 — 1 mm. Dam có kích thước 10 — 15 x 4— 5 um. Bào tử đảm nhẫn, không màu. Kích thước bao tử khoảng 1,5 - 2 x 4— 6 um (Trịnh Tam Kiệt, 2011).2 Đặc điểm hình thái của nắm vân chi Hệ thống sợi nắm có ba loại: Soi nguyên thủy với thành mỏng, day 2 — 3 wm, phân nhánh và có khóa; Sợi bện kết dày 3 — 4 wm, phân nhánh nhiều, không có vách ngăn ngang; sợi cứng thành day 4 — 6 um, nội chất sớm bị mat.
Dam dạng chùy, kích thước 9 — 13 x 3,5 — 4,5 wm (Phan Huy Dục, 2002). Nam vân chi đỏ: Trametes sanguinea hay còn gọi là nam Vân Chi do ở Việt Nam được xếp vào họ Polyporaceae, tức họ nấm lỗ. Về mặt hình thái, nam P. sanguineus là loại nam mũ, có vân màu cam đỏ đặc trưng.
Được mô tả là loài nam phân hủy gỗ, P. sanguineus thường được tìm thấy dé dang ở các thân cây w gỗ mục (Téllez-Téllez & ctg. Ở Việt Nam, nắm vân chi đỏ thường được trông trên mùn cưa cao su, loại cơ chât phô biên ở vùng Đông Nam bộ.1 Nắm vân chi đỏ (Anh Khoa, 2023) Nam vân chi den: Nam vân chi đen tên tiếng anh là Yunzhi mushroom hoặc Turkey tails mushroom. Nam vân chi thuộc giới nam (Fungi), ngành nấm thật (Eumycota), ngành phụ nam đảm (Basidiomycotina), lớp nắm đảm (Basidiomycetes), phân lớp nam đảm đơn bào (Holobasidiomycetidae), nhóm bộ (Hymenomycetes),bộ nam lỗ (Aphyllophorales), họ nam nhiều lỗ (Polyporaceae), chi (Trametes), loài (Trametesversicolor) (TrịnhTam Kiệt 2011).3 Giá tri dược liệu của nấm vân chỉ Trong thành phần nam vân chi có các acid hữu co, alkaloid, chất khử, triterpenoid, coumarin, saponin, tanin, polyphenol, hợp chat uronic, acid amin và polysaccharide.
Trong đó polysaccharide là thành phan được tính được quan tâm va được nghiên cứu nhiêu nhat. Vân chi có chứa các hợp chất polysaccharid liên kết với protein, gồm hai loại chính là PSP (Polysaccharid peptide) và PSK (Polysaccharid krestin). PSP va PSK có tac dụng ức chế nhiều loại tế bào ung thư như biểu mô, các tế bao ung thu máu. Các chat này còn được coi là có khả năng chữa trị ung thư, tăng miễn dịch cơ thể, chống lại các phản ứng phụ của xa tri và hóa tri, ức chế sự nhân lên của virus HIV (Kidd, 2000).
PSP được sử dụng dé điều tri ung thu giai đoạn 2 và 3, polysaccharid này có tác dụng kéo dài thêm thời gian sống ít nhất là 5 năm cho các bệnh ung thư thực quản. PSP có tác dụng cải thiện sức khỏe, giúp giảm đau và tăng cường khả năng miễn dịch ở 70 — 97% các bệnh nhân ung thu da dày, thực quản, phối, buồng trứng và cô tử cung (Kidd, 2000). Collins và ctv. (1997) thuộc Đại học Hồng Kông đã công bố kết quả về nghiên cứu về tác dụng chống lại virus HIV-1 của các polysaccharid từ nấm vân chi, polysaccharid này có tác dụng ngăn cản liên kết giữa các protein HIV — 1 của virus và thụ thê CD4 từ đó ngăn cản sự xâm nhập của các virus vào tế bào miễn dịch, đồng thời còn có tác dụng ức chế enzym HIV - 1 cần thiết cho sự tạo thành virus.
Vì vậy PSP được đề nghị như một liệu pháp hữu hiệu chống lại HIV. Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng tiến hành thử nghiệm sử dụng nắm vân chỉ trong điều trị bệnh AIDS.4 Các yếu tố ảnh hưởng dé sự tăng trưởng của nắm vân chi 1.1 Yếu tố môi trường Nhiệt độ trồng nam thích hợp rơi vào khoảng 25 — 38°C, tốt nhất là 28 — 33°C. Với nhiệt độ này rất thích hợp trồng ở các nước có khí hậu nhiệt đới như nước ta. Độ âm nguyên liệu từ 60 — 65%, độ âm của môi trường phải đạt trên 85%.
Ánh sáng thích hợp dé trồng nam hoàng dé là ánh sáng mờ có thể đọc được sách, không nên quá tối hoặc quá sáng. Nơi trồng nấm phải thông thoáng, không quá ngột ngạt. Độ pH nguyên 5 liệu trồng nam là từ 7 — 8. Can thu hoạch nam trước khi nam phát tán bao tử vì khi nam phát tán bào tử thì chất lượng nắm giảm (Đoàn Đức Lân và ctv, 2018).2 Tỉ lệ C/N Nguồn cacbon (C): các chất có kích thước phân tử lớn (dai phân tử) như chất xơ hoặc chất bột, khi bị phân giải sẽ cho ra những thành phần đơn giản hoặc nhỏ hơn.
Sản phẩm cuối cùng thường là D-glucose, một loại đường đơn mà hau hết các loại nam đều phải cần đến. Đó là nguồn cacbon chính dé tổng hợp các chất trong cơ thé của nam, bao gồm các thành phan cấu tạo nên sợi nam và các hợp chat liên quan đến hoạt động sống. Nam cần nguồn cacbon hay đường như là một yếu tố bắt buộc, không có nó, nam không thê tăng trưởng hoặc phát triển được (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2003). Dam (N) cần cho hệ sợi nam phát triển, là nguồn dinh dưỡng cần thiết cho tất cả các môi trường nuôi cấy.
Hệ sợi nam sử dụng nguồn đạm dé tổng hợp tat cả các chất hữu cơ như: protein, purin, pyrimidin và tổng hợp chitin cho vách tế bào. Nguồn đạm sử dụng trong các môi trường ở dạng muối: muối nitrat, muối amon. Nguyên liệu trồng nắm như rom, mun cưa (gỗ) thường có hàm lượng đạm thấp. Nhiều thí nghiệm bổ sung muối nitrate, muối ammonium và ure cho thấy tơ nam tăng trưởng tốt nhất trên nguyên liệu thêm phân bón ure (Lê Duy Thắng, 2005).
Trong tế bào, ion NH,* thường gắn với cetoglutamic và những amin khác được hình thành từ những phan ứng chuyền hóa amin. Sự hiện diện của NH¡T trong môi trường ảnh hưởng đến tỉ số C/N, chúng đánh giá mức độ hoạt động của vi sinh vật (Lê Duy Thắng, 2005).3 Khoáng chất Các nguyên tố khoáng rất cần thiết cho sự phát triển của nắm như: P, K, Ca, S, Mg, Fe, Cu, Zn. Nam cần khoảng 17 nguyên tố cần thiết dé tăng trưởng. Trong đó ba nguyên tổ P, K, Mg là quan trọng nhất (Lê Duy Thắng, 2005).
Các chất khoáng là những chất không thê thiếu được trong hoạt động sống của nam (Trần Văn Mão, 2015). Chất khoáng ngoài việc đáp ứng các yêu cầu biến dưỡng còn giup tang năng suât cho nam. Phosphate (P) tham gia trong thành phần cấu tạo acid nhân và các chất tạo năng lượng ATP, nếu thiếu nó sẽ kiềm hãm sự hấp thu glucose, cũng như quá trình hô hấp của nam. Nguồn cung cấp phosphate là từ muối photsphate (Nguyễn Minh Khang, 2006).
Kali (K) dự phần trong sự thẩm thấu và giữ nước của tế bào. Ngoài ra, kali còn tham gia vào các hoạt động trao đổi chat và biến dưỡng protein (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2003). Các nguyên tô vi lượng khác, như sắt (Fe), kẽm (Zn), mangan (Mn) molybden (Mo), bor (B) chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng lại quan trọng cho việc hoạt hóa các enzyme, tổng hợp các sinh tố (vitamin), hấp thụ các chất trao đối, kế cả quá trình hình thành quả thể một cách bình thường. Sơ lược về giá thể 1.1 Mùn cưa Hiện nay, theo nhiều nghiên cứu và dây chuyền công nghệ được đưa ra, mùn cưa ngày càng chứng tỏ được tầm quan trọng của mình và được sử dụng nhiều trong việc trồng nam.
Mun cưa cao su hiện đang được đại số các cơ sở trồng nam lựa chọn bởi có nhiều cơ chất giúp quá trình nắm phát triển rất tốt, và giá thành rẻ. Thành phần các chất có trong mùn cưa có khoảng 1,5% protein thô, 1,1% lipid thô và có gần 71,2% là cellulose và ligin, các hydrat cacbon có thé hoa tan khoảng 25,4% tỷ lệ C/N khoảng 49/2 (Nguyễn Lân Dũng, 2003).4 Cám bắp (Anh Khoa, 2023) Cám bắp là phụ phẩm của quá trình chế biến hạt bắp. Cám bắp thường chứa 12,2 % nước và 87,78 % chất hữu co, trong cám bắp có 9,6 % protein; 15,6 % lipid; 3,9 % cenlulose thô; 69,6 % cabohydrate có thể hòa tan; 1,0 % chất khoáng. Trong cám bắp còn chứa nhiều vitamin, nhất là vitamin B2 (Nguyễn Lân Dũng, 2003).3 Bột trùn quế Bột trim qué được dùng làm thức ăn cho tôm su, cá tra, vịt xiêm.
Thường thì loại nay sẽ được trộn trùn qué tươi với hỗn hợp vi khuan hữu ích và enzyme tiêu hóa dùng trong chăn nuôi, lên men tạo sản phẩm có mùi trùn, giàu đinh dưỡng (đạm protein và amin cao), enzyme tiêu hóa, vi khuẩn hữu ich và các chất khang sinh (Võ Thị Hanh, 2016). Hàm lượng dinh dưỡng có trong bột trùn quế: Protein thô 16%; Xo thô 12%; Canxi 0,8 — 1,5%; Tổng số Photpho 0,4 — 1,2%; Lysine 0,5%; Methionine + Cytine 0,4% (Võ Thị Hạnh, 2016). Trùn quế có thành phần chủ yếu là các amino acid là thành phần cơ bản cấu tạo nên cơ thé sống, tham gia vào mọi quá trình chuyển hóa trong co thé sinh vật. Việc cung cấp trực tiếp amino acid sẽ giúp giảm được công đoạn tong hop amino acid từ nguồn dam do hệ sợi nam thu từ nguồn dinh đưỡng có trong co chất, nhờ đó giúp rút ngắn được thời gian sinh trưởng và giúp nam tăng trưởng một cách mạnh mẽ, tạo năng suất và chất lượng tốt.
Các amino acid có khả năng liên kết với các nguyên tổ vi lượng tạo thành dang phức amino acid — vi lượng dễ hấp thu. Vì thế các chất dinh dưỡng được vận chuyên một cách nhanh chóng, kịp thời dé nuôi quả thé (Võ Thị Hạnh, 2016). Trin qué chứa một hàm lượng cao các amino acid cần thiết mà nắm không tự tổng hợp được, đồng thời còn chứa các chất đa lượng, vi lượng cần thiết cho sự tăng trưởng và phá triển của nắm (V6 Thị Hanh, 2016).3 Các nghiên cứu về môi trường nhân nuôi nắm vân chỉ Theo Nguyễn Diễm My va ctv. (2019) đã thực hiện khảo sát môi trường nuôi cây nam vân chi đỏ (Tranmetes sanguinea (L.