Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân bố và đặc điểm hình thái cây Thạch đen Cây Thạch đen (Mesona chinensis Benth) là loài thực vật thân thảo thấp, có nhựa kết thạch trong nước được dùng để làm thức uống giải khát. Ở Trung Quốc, tiếng Quan Thoại gọi là “xiancao” (tiên thảo), người Mân Cao ở Đài Loan gọi là “sian-chháu”, người Quảng Đông gọi là “leung fan cao” (lương phấn thảo). Người Việt Nam gọi là “xương sáo”.
Thạch đen là cây thân thảo có chiều dài cây từ 40 - 60 cm, bò lan trên mặt đất, là cây ưa sáng và ưa ẩm nhưng không chịu được úng. Thạch đen có tác dụng giải nhiệt, đây là một mặt hàng dùng trong giải khát được nhiều người ưa chuộng, do lá cây thạch đen có vị hơi ngọt, tính mát, có công dụng mát gan, thanh nhiệt, nhuận tràng, trị cảm mạo, hỗ trợ người bị tiểu đường, hỗ trợ giảm huyết áp, chống lão hóa và các bệnh xương khớp. Ngoài ra, thạch đen còn được coi là một tân dược với hàm lượng Polyphenol, tanin, pectin chiếm trên 50%. Đây là những chất làm tăng đáng kể tính giãn nở của mạch máu, chống oxy hóa, giảm cholesterol trong máu.
Cây Thạch đencó nguồn gốc ở Đông và Đông Nam Châu Á, phân bố nhiều ở vùng Đông Nam Trung Quốc, Đài Loan và khu vực Đông Nam Á. Loài cây này mọc mạnh trên các khu vực đất dốc, đất cát và đất khô. Ở Việt Nam cây Thạch đenmọc hoang dại ở vùng rừng núi phía Bắc như các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, về sau này được trồng ở nhiều vùng đồng bằng như ở như Bảo Lộc (Lâm Đồng), Sa Đéc (Đồng Tháp), Châu Đốc (An Giang), Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Cây Thạch đen có đặc điểm hình thái như sau: - Thân: Cây Thạch đen là loại cây họ hòa thảo, thân có bốn cạnh, hình đứng mềm, bên ngoài thân có phủ một lớp lông thô, rậm.
Cây có chiều dài trung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 bình từ 40 - 60 cm, tùy điều kiện chăm sóc và thổ nhưỡng có thể dài tới 1 mét. Cây thạch đen có khả năng phân nhánh nhiều từ gốc, nhánh tỏa ra phủ kín trên mặt đất giống như cây bạc hà. - Chồi và lá: Lá cây thạch đen mọc ra từ các mấu, chồi mọc ra từ nách lá. Lá thạch đen thuộc loại lá đơn, mọc đối, dày, màu xanh nhạt, hình trứng hoặc trứng thuôn, thon hẹp ở gốc, nhọn ở chóp.
Lá dài từ 3 - 6 cm, rộng 1 - 2 cm, cuống lá dài 1 - 2 cm. Hai mặt lá đều có phủ một lớp lông mỏng, mép lá có hình răng cưa. - Hoa và quả: Hoa mọc thành cụm dày đặc ở đầu cành, khá dày đặc vào lúc hoa nở rộ, cuống hoa có thể kéo dài tới 10 - 12 cm, có lông. Đài hoa có lông, 3 răng ở môi trên; tràng trắng hay hồng nhạt, môi trên 3 thùy, môi dưới to; nhị 2, thò dài, chỉ nhị tím.
Quả của cây thạch đen nhỏ, nhẵn, thon dài khoảng 0,7 mm. Cây thạch đen ra hoa vào cuối thu, đầu mùa đông. - Hệ rễ: Rễ cây thạch đen có dạng chùm, rễ tỏa rộng và ăn nông. Rễ của cây thạch đen có thể mọc từ gốc, thân khi tiếp xúc trực tiếp với đất ẩm.
Do vậy, khi cây thạch đen phát triển, thân cây dài có thể có nhiều đốt thân mọc rễ cắm xuống để hỗ trợ hút chất dinh dưỡng. Tình hình sản xuất cây thạch đen ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất cây thạch đen ở Việt Nam Hiện nay, ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Thạch đen được trồng nhiều ở huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn và được coi là một trong những cây góp phần trong việc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc ở vùng này. Bởi Thạch đen là loại cây dễ trồng, không mất nhiều công chăm sóc, ít bị sâu bệnh và cho năng suất cao.
Trung bình 1ha cây Thạch đen sẽ cho thu hoạch hơn 40 tạ thạch đen LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 khô, với giá bán dao động từ 25.000 đồng/1kg như hiện nay thì đây cũng là cây trồng mang lại thu nhập khá cao cho người nông dân. Năm 2013, diện tích Thạch đen ở huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng chỉ có 172 ha, đến năm 2014 tăng 284 ha. Hiện nay, diện tích trồng Thạch đen ở Thạch An đã tăng lên 335 ha (Phương Oanh 2015) [6]. Tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ năm 2010 đến nay, diện tích trồng cây Thạch đen hàng năm tại huyện luôn được duy trì ổn định từ 1.000ha, năng suất bình quân từ 5,8 - 6,0 tấn/ha, sản lượng bình quân 8.
Năm 2016, toàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn trồng được gần 140 ha cây Thạch đen, đạt trên 279% kế hoạch (Trung Dương 2016) [3]. Mặc dù được coi là cây trồng xoá đói, giảm nghèo nhưng thực tế Thạch đen chưa bao giờ được quy hoạch vùng trồng và có những nghiên cứu một cách bài bản, khoa học, kết hợp với chế biến sau thu hoạch, liên kết tìm đầu ra ổn định cho nông dân để cây trồng này phát triển bền vững (Thuận Thắng 2016) [9]. Từ việc nghiên cứu đánh giá tình hình sản xuất cây thạch đen cũng như điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu cho thấy: Thực trạng phát triển cây Thạch đen tại địa phương nghiên cứu nói riêng và ở Việt Nam nói chung còn mang tính tự phát, chưa được quy hoạch thành vùng sản xuất, cũng như công nghệ chế biến sau thu hoạch để phát triển bền vững cây trồng này; Mặt khác việc chỉ đạo ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và năng lực đầu tư thâm canh còn hạn chế, năng suất không ổn định, chất lượng cây Thạch đen chưa đồng đều. Việc liên kết sản xuất còn hạn chế, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ chưa kết nối theo chuỗi sản phẩm; mặt khác do chưa đầu tư cơ sở chế biến, bảo quản sau thu hoạch, chưa có nơi thu gom và tiêu thụ ổn định nên giá cả bấp bênh, phụ thuộc vào các tư thương thu mua nên diện tích cây Thạch đen những năm gần đây có xu hướng giảm dần.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình sản xuất cây thạch đen tại tỉnh Bắc Kạn Tại tỉnh Bắc Kạn, cây Thạch đen được trồng chủ yếu trên địa bàn huyện Na Rì. Đây là cây trồng được cấp ủy, chính quyền địa phương xác định là một trong những cây trồng chủ lực đem lại hiệu quả kinh tế cao. Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Na Rì, cây Thạch đen được người dân địa phương đưa vào trồng từ trước những năm 2000, đến năm 2009 diện tích cây Thạch đen trên địa bàn huyện Na Rì đạt trên 200 ha nhưng đến năm 2016 diện tích chỉ còn gần 140 ha, được trồng tập trung tại các xã Vũ Loan, Kim Lư, Cư Lễ, Lam Sơn, Liêm Thủy, Cường Lợi,… trong đó, được trồng nhiều nhất tại xã Vũ Loan 60 ha.
Cây Thạch đen được trồng ở ruộng, soi bãi hoặc trên đất dốc, rất phù hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Na Rì, năng suất đạt từ 38-40 tạ/ha; thị trường tiêu thụ Thạch đen khô chủ yếu là do các tư thương bán sang Trung Quốc; giá Thạch đen khô khoảng 25. Vị trí địa lý Huyện Na Rì là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên là 85.300,00 ha, chiếm 17,54% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn, gồm 21 xã và 01 thị trấn với 233 thôn, bản; nằm trong toạ độ địa lý từ khoảng 210 55’ đến 220 30’ vĩ độ Bắc, 1050 58’ đến 106018’ kinh độ Đông. - Phía Bắc giáp huyện Ngân Sơn. - Phía Nam giáp huyện Chợ Mới và tỉnh Thái Nguyên.
- Phía Đông giáp huyện Bình Gia và Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn). - Phía Tây giáp huyện Bạch Thông. Thị trấn Yến Lạc là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện, cách thành phố Bắc Kạn 72km và thành phố Thái Nguyên 130 km theo Quốc lộ 3B và Quốc lộ 3. Đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng như đường giao thông, trường học, điện lưới quốc gia, trạm y tế xã mặc dù đã được Nhà nước quan tâm đầu tư song vẫn còn nhiều khó khăn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Địa hình Na Rì có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi với nhiều núi đá vôi, thung lũng hẹp, độ dốc lớn, thuộc cánh cung Ngân Sơn. Độ cao trung bình toàn huyện là 500m, cao nhất là núi Phyia Ngoằm (xã Cư Lễ) với độ cao 1.193m, thấp nhất ở xã Kim Lư với độ cao 250m so với mực nước biển. Nhìn tổng thể, địa hình của huyện có hướng thấp dần từ Tây Nam sang Đông Bắc, được chia thành 2 dạng địa hình vùng núi đá và địa hình vùng núi đất. Địa hình của huyện Na Rì đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất, cụ thể là các quá trình rửa trôi và tích luỹ.
Quá trình rửa trôi diễn ra mạnh vào mùa mưa ở vùng núi đá chia cắt, dốc nhiều, ở vùng đồi núi thấp có những thung lũng tương đối bằng phẳng, thích nghi với các loại cây lương thực và cây ngắn ngày vùng nhiệt đới. Thủy văn Trên địa bàn huyện Na Rì có 2 con sông lớn chảy qua, đó là sông Bắc Giang và sông Na Rì. Do ảnh hưởng của địa hình và cấu tạo địa chất đã chi phối mạng lưới sông suối khá phức tạp trên địa bàn huyện. Phần lớn đồi núi sát thềm sông, thềm suối đã khống chế quá trình bồi tụ phù sa, chính vì vậy trong huyện không có những cánh đồng rộng lớn mà chỉ có những dải đất bồi tụ phù sa nhỏ, hẹp dọc theo các triền sông, triền suối.
Đặc điểm chung của các sông suối trong huyện là có độ dốc lớn, lắm thác nhiều ghềnh. Lưu lượng dòng chảy phân bố không đều trong năm, chủ yếu tập trung vào mùa lũ (chiếm khoảng 60 - 80% tổng lượng dòng chảy trong năm), nên việc khai thác sử dụng gặp khó khăn, đòi hỏi đầu tư lớn. Các nguồn tài nguyên Tài nguyên đất: Đất Na Rì chủ yếu được hình thành do sự phong hóa trực tiếp của đá mẹ và một phần hình thành do sự bồi tụ phù sa các hệ thống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 sông, suối. Toàn huyện gồm có 10 loại được phân thành 2 nhóm chính: Nhóm đất thủy thành và nhóm đất địa thành.
- Nhóm đất địa thành (đồi núi): Có diện tích 81.999 ha, chiếm 96,13% diện tích tự nhiên.