CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây lê 1. Nguồn gốc Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Oanh (2012) [13] đã kết luận rằng: Theo tác giả Bành Kính Ba và các cộng sự (1991), khi nghiên cứu về nguồn gốc của cây lê đã kết luận là lê bắt nguồn từ vùng núi phía Tây Nam của Trung Quốc, tác giả còn cho biết, ở Trung Quốc, lê được trồng hầu hết ở các tỉnh, chỉ trừ vùng quá lạnh giá và khô hạn và nhiều nhất ở phía Bắc, Đông Bắc và phía Đông. Nguồn gốc của cây lê ở Việt Nam thì theo Võ Văn Chi, ở nước ta là lê Pyrus pyrifolia Nakai, cây được nhập từ Trung Quốc vào trồng ở những vùng núi cao miền Bắc Việt Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn… Cây trồng chủ yếu để lấy quả ăn tươi và quả khô dùng làm thuốc chữa bệnh.
Các tác giả Nguyễn Văn Phú, Trần Thế Tục (1969) khi điều tra về cây ăn quả ở một số tỉnh miền núi phía Bắc đã cho rằng, các giống lê địa phương đều thuộc họ Sa-lê (Pyrus pyrifolia Nakai) và đều có nguyên sản từ vùng Tây Nam Trung Quốc, cho đến hiện nay thì cây lê được trồng khá phổ biến ở các vùng cao thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Phân loại Cây lê có tên khoa học là (Pyrus pyrofolia Ham) tên tiếng Anh Pear, tiếng Pháp Poirier thuộc họ Hoa hồng Roraceae được trồng khắp nơi trên thế giới nhưng nhiều nhất là ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Argentina… nơi có khí hậu ôn đới á nhiệt đới, Theo Bob Nisen và Alan Georege độ lạnh của cây lê từ 400 – 1000 CU. Chính vì vậy lê là cây ăn quả ôn đới, á nhiệt đới (Đỗ Đình Ca và cs, 2005) [3] 1.2 Đặc điểm thực vật học Cây lê là cây ăn quả thân gỗ, có trường hợp thân bụi, sống lâu năm. Cây lê ở điều kiện tự nhiên bình thường, không có tác động các biện pháp kỹ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 thuật trồng trọt có thể sống lên tới vài trăm năm.
Cây có thể đạt chiều cao 22 m và đường kính 45-80 cm (tối đa 130cm) ở độ tuổi của 80-150 năm (tối đa 250) (Nguyễn Thị Phương Oanh, 2012) [13] * Rễ: - Sự phân bố của bộ rễ: Cây lê có bộ rễ ăn nông. Mức độ phát triển theo bề rộng và bề sâu của bộ rễ phụ thuộc vào các yếu tố như hình thức nhân giống: cây được nhân giống bằng hạt có bộ rễ ăn sâu hơn cây được nhân giống bằng hình thức chiết. Mực nước ngầm canh tác càng sâu, bộ rễ càng ăn sâu hơn. Chế độ chăm bón: chế độ chăm bón tốt (tưới nước, bón phân, xới xáo.), bộ rễ cây sẽ tập trung chủ yếu ở những nơi có chế độ chăm bón tốt.
Loại đất: đất có thành phần cơ giới tốt (tơi xốp, giàu mùn và dinh dưỡng, tầng canh tác dầy.) thì bộ rễ sẽ ăn sâu và rộng hơn. Ví dụ trồng lê trên đất phù sa, đất bồi tụ thì bộ rễ ăn sâu tới 2- 3m. Tuổi của cây: cây có tuổi càng cao thì bộ rễ ăn càng sâu và rộng (Nguyễn Thị Hưng và cs, 2013) [12] - Sự hoạt động của bộ rễ: Cũng như các cây ăn quả thân gỗ khác, bộ rễ cây lê hoạt động theo chu kỳ nhất định. Có ba thời kỹ bộ rễ cây lê hoạt động mạnh trong năm, đó là các thời điểm: trước khi ra cành mùa xuân (khoảng tháng 2, đầu tháng 3); sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu tiên cho đến lúc cành hè xuất hiện (khoảng tháng 6 đến tháng 8); sau khi cành mùa thu đã sung sức (khoảng tháng 10).
Căn cứ vào thơì gian hoạt động mạnh của bộ rễ để người làm vườn quyết định thời điểm bón phân cho hiệu quả (Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, 1991) [18]. - Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hoạt động của bộ rễ cây lê: + Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp nhất cho bộ rễ cây lê hoạt động là khoảng 260C. Nhiệt độ dưới 12 0C và trên 370C thì rễ ngừng hoạt động. Biện pháp tủ gốc có thể giúp điều hòa nhiệt cho đất xung quanh bộ rễ, đồng thời giữ ẩm cho đất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 + Độ thoáng của đất: Để bộ rễ lê hoạt động tốt, đất cần có đủ oxi và đủ ẩm.
Nồng độ oxi trong đất khoảng 7% và ẩm độ đất khoảng 60% là thích hợp nhất cho bộ rễ cây lê hoạt động. Để thỏa mãn yêu cầu này, người làm vườn cần thường xuyên theo dõi vườn lê để có biện pháp tưới nước và xới xáo đất kịp thời + Độ chua của đất: Rễ cây lê hoạt động tốt nhất trong điều kiện đất chua nhẹ (pH = 6,2 – 6,8). + Chất dinh dưỡng trong đất: Đất giàu mùn, đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các chất kích thích sinh trưởng sẽ có tác dụng tốt cho hoạt động của bộ rễ. * Thân, cành: - Hiện tượng ngủ: Cây lê có hiện tượng “tự rụng ngọn” nghĩa là sau khi phát triển đến mức độ nhất định thì ngừng lại, lúc đó ngọn và có khi cả nửa mầm phía dưới sẽ tự rụng đi.
Thân cành cây lê thường có rêu và địa y ký sinh nên có màu trắng nhờ hay xám tro. Hàng năm cần dùng nước vôi lau sạch hoặc quét vào gốc và cành lớn để phá hủy lớp thực vật ký sinh này, tạo điều kiện cho thân cành phát triển tốt (Nguyễn Thị Hưng và cs, 2013) [12] - Quy luật ra cành trong một năm Theo (Nguyễn Thị Hưng và cs, 2013) [12], căn cứ vào chức năng của các loại cành người ta phân cành làm 3 loại: + Cành dinh dưỡng: Cành dinh dưỡng không mang hoa, quả, chỉ có lá xanh, nhiệm vụ chính là quang hợp. Cành dinh dưỡng có thể phát triển thành cành mẹ của vụ quả năm sau. Do đó, cần phải chăm sóc tốt các đợt cành dinh dưỡng.
Đợt cành hè có một số cành mọc ra từ thân chính, dài 30 – 40 cm, đốt lá dài, lá to, màu xanh nhạt. + Cành mẹ: là cành sinh ra từ cành quả, nó có thể là cành xuân, cành hè hoặc cành thu của năm trước. Thường cành thu hoặc cành hè làm cành mẹ thì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 số cành quả nhiều và tỷ lệ đậu quả cũng cao hơn. Một trong các bieenh pháp ra quả cách năm trên cây lê là chủ động bồi dưỡng cành mẹ của năm trước để tạo cơ sở cho vụ quả năm sau.
+ Cành quả: Độ dài cành quả thường từ 9 – 25 cm. Cành quả phần lớn ra trong mùa xuân (trừ những trường hợp đặc biệt như cây bị sâu đục thân, kích thích ra hoa, quả trái vụ,. Cành quả ra ở ngọn cành mẹ sẽ cho nhiều quả và phẩm chất quả tốt. Trong năm, các cành quả không nảy lộc vì phải tập trung dinh dưỡng nuôi quả.
Sau khi thu hái quả, phải qua một thời gian nhất định tích lũy dinh dưỡng nó mới có thể trở thành cành mẹ. Nguyên nhân gây ra hiện tượng ra quả cách năm trên cây lê. Một năm cây lê có thể ra nhiều đợt cành Cành xuân: ra vào tháng 2 – 4, số lượng cành nhiều và ra tập trung, cành ngắn, có thể là cành dinh dưỡng hoặc cành mang hoa quả. Cành hè: ra vào tháng 5 – 7, mọc từ cành xuân, cành thường dài, số lượng cành ít, có nhiều cành vượt.
Cành thu: ra vào tháng 8 – 11, số lượng nhiều, chiều dài cành trung bình, đa số là cành mẹ cho vụ quả năm sau. Cành đông: ra vào tháng 12 – 01, được mọc ra từ những cành quả vô hiệu (cành có ra hoa, quả nhưng sau một thời gian quả sẽ rụng), những cành này do mất dinh dưỡng để nuôi quả mùa hè nên mùa thu không thể ra lộc mới mà phải tích lũy đến tháng 12 – 01, nếu nhiệt độ và ẩm độ phù hợp thì mới xuất hiện đợt lộc mới, đó là lộc đông. Tuy nhiên, tùy thuộc điều kiện chăm sóc, thời tiết, khí hậu, tuổi cây mà số lượng cành và thời gian và thời gian ra các đợt cành này có sự thay đổi. Ví dụ: Chế độ chăm sóc tốt thì số lượng cành ra trong mỗi đợt nhiều hơn và khoảng cách giữa các đợt cành ngắn hơn.
Thời tiết khí hậu thuận lợi thì số lượng cành và số đợt cành sẽ nhiều hơn ở điều kiện bất thuận. Tuổi cây cành nhỏ thì số đợt cành ra thường nhiều hơn. Trong các đợt cành thì cành xuân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 thường ra đều, tập trung và cành ngắn hơn. Cành hè thường dài, khỏe, lá to nhưng ra rải rác hơn.
Cành thu kém hơn cành hè. Cành đông yếu ớt nhất. * Hoa: Lê ra hoa vào giữa tháng 2, đầu tháng 3, hoa màu trắng, đường kính 2 – 4cm, có 5 cánh hoa, 5 lá đài và nhiều nhị. Thời kỳ phân hóa mầm hoa của Lê được tính từ sau khi thu hoạch quả cho đến trước lúc nảy lộc xuân.
Thời kỳ này thường từ tháng 11 đến đầu tháng 2. Đảm bảo tốt việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, hạn chế những nguyên nhân dẫn đến tiêu hao dinh dưỡng của cây đều là những biện pháp xúc tiến việc phân hóa mầm hoa (bón phân đầy đủ nhất là phân dễ tiêu, tỉa bớt hoa ở những năm sai quả, thu quả sớm nhất là những năm sai quả.) (Nguyễn Thị Hưng và cs, 2013) [12] * Lá : Lá đơn, hình mai rùa, có 90 -140 răng cưa. Diện tích, màu sắc, số lượng lá trên cây phụ thuộc vào chế độ chăm sóc, điều kiện thời tiết khí hậu. Điều kiện thời tiết, khí hậu, chế độ chăm sóc là những yếu tố có tính chất quyết định đến tuổi thọ của lá lê.
Những lá hết thời gian sinh trưởng sẽ rụng rải rác trong năm, tuy nhiên vẫn tập trung vào mùa đông (Nguyễn Thị Hưng và cs, 2013) [12] Lá có quan hệ chặt chẽ với sản lượng, nhất là trọng lượng quả. Theo nghiên cứu cho thấy, số lượng lá trên mỗi quả càng nhiều thì trọng lượng quả càng lớn. Vì vậy, cần có biện pháp bảo vệ bộ lá luôn xanh tốt, có biện pháp rút ngắn giai đoạn chuyển lục của các đợt lá mới (chuyển từ xanh lục sang xanh đậm). * Quả: Mỗi giống lê lại có đặc điểm khác nhau về hình dạng quả, số lượng hạt/quả, mùi và vị của quả.
Nằm bên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.