Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng của thế giới: đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ dầu.
Đây là trồng mang tính chiến lược với những quốc gia có điều kiện phát triển vì có trao đổi rất cao trên thị trường do nhu cầu sử dụng protein, dầu thực vật, thực phẩm chức năng và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc ngày càng gia tăng nên cây đậu tương được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở các nước châu Mỹ chiếm tới 73%, tiếp đó là các nước thuộc khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ) chiếm 23,15%. Diện tích, năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên qua các thời kỳ. Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm 2010-2014 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn) 2010 102,79 25,77 264,91 2011 103,82 25,20 261,60 2012 105,37 22,93 241,58 2013 111,63 24,91 278,09 2014 117,72 26,20 308,44 (Nguồn: FAOSTAT, 2017) [23]. Qua số liệu bảng 1.1 cho thấy: Diện tích trồng đậu tương trên thế giới hàng năm không ngừng tăng.
Năm 2014 diện tích tăng khoảng 15 triệu ha so với năm 2010. Diện tích trồng đậu tương lớn nhất trên thế giới là 117,72 triệu ha vào năm 2014. Về năng suất, trong 5 năm, từ năm 2010 - 2014 năng suất đậu tương trên thế giới tương c 5 đối ổn định dao động từ 22,93 - 26,2 tạ/ha. Năm 2012, năng suất đậu tương trên thế giới thấp nhất là 22,93 tạ/ha.
Năm 2014, năng suất đậu tương cao nhất là 26,2 tạ/ha. Do hàng năm diện tích trồng liên tục tăng lên nên sản lượng đậu tương trên thế giới cũng tăng lên, trong 4 năm từ 2010 - 2014 tăng 43,53 triệu tấn.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của 4 nước trồng đậu tương chủ yếu trên thế giới Diên tích (triệu Năng suất Sản lượng Tên nước Năm ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 78,84 28,87 227,72 2011 79,21 28,29 224,31 Mỹ 2012 80,41 25,30 203,44 2013 85,79 28,34 243,09 2014 91,86 29,53 271,21 2010 23,33 29,48 68,76 2011 23,97 31,24 74,82 Braxin 2012 24,98 26,37 65,85 2013 27,91 29,29 81,72 2014 30,27 28,66 86,76 2010 18,13 29,05 52,68 2011 18,76 26,05 48,89 Acgentina 2012 17,58 22,81 40,10 2013 19,42 25,39 49,31 2014 19,25 27,74 53,40 2010 8,52 17,71 15,08 2011 7,89 18,36 14,49 Trung Quốc 2012 7,17 18,14 13,01 2013 6,79 17,60 11,95 2014 6,73 18,13 12,20 (Nguồn: FAOSTAT, 2017)[23] c 6 Trong 5 năm gần đây diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Mỹ không ngừng tăng lên. Năm 2014 là năm Mỹ đạt đỉnh cao về cả diện tích, năng suất và sản lượng khẳng định vị trí số một trong sản xuất đậu tương. Có được thành công như vậy phải nói rằng nước Mỹ đã hết sức chú trọng đến việc phát triển đậu đỗ.
Không những tăng về diện tích mà Mỹ còn quan tâm đến vấn đề nghiên cứu và tạo giống. Hiệp hội đậu tương Hoa Kỳ (ASA:American Soybean Association) được thành lập từ năm 1920 có 52 nghìn hội viên. Ở Mỹ, việc chọn lọc, nhập nội và lai tạo giống rất được quan tâm.000 mẫu giống được thu thập từ khắp nơi trên thế giới. Nước sản xuất lớn thứ 2 thế giới là Braxin, từ năm 2011 - 2014 thì diện tích, sản lượng đậu tương tăng theo từng năm, cao nhất vào năm 2014 là 86,76 triệu tấn.
Brazil đang tiếp tục đẩy mạnh công tác chọn, tạo giống mới chống chịu sâu bệnh, giống chuyển nạp gen, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới và nghiên cứu kết hợp giữa trong và ngoài nước, phát triển mạnh lúa mỳ và ngô luân canh với đậu tương. Tại Brazil, đậu tương chủ yếu được dùng để làm bột và ép dầu. Chính phủ khuyến khích đẩy mạnh nền công nghiệp chế biến trong nước và xuất khẩu. Quốc gia đứng thứ 3 về sản xuất đậu tương sau Mỹ, Brazil là Acgentina.
Tại quốc gia này đậu tương thường được trồng luân canh với lúa mì. Chính phủ nước này đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương do đó mà cây đậu tương phát triển khá mạnh đưa nước này lên xếp thứ 3 về sản xuất đậu tương trên thế giới. Từ năm 1961 - 1962 chính phủ đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương, nên cây đậu tương phát triển khá mạnh. Trung Quốc là nước đứng thứ 4 về cây trồng này.
Ở Trung Quốc, đậu tương được trồng chủ yếu ở vùng Đông Bắc, nơi có những điển hình năng suất cao, đạt 83,93 tạ/ha trên diện tích 0,4 ha và 49,6 tạ/ha trên diện tích là 0,14 ha. Tuy sản xuất đậu tương của Trung Quốc còn đứng sau Mỹ, Braxin và Argentina nhưng đây vẫn là nước có diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương lớn nhất châu Á. Năng suất đậu tương của Trung Quốc thấp hơn năng suất bình quân thế giới khoảng 7 tạ/ha. Sản lượng thì giảm gần 3 tấn do diện tích sản xuất giảm, sản lượng không đáp ứng c 7 được nhu cầu trong nước.
Hàng năm, Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương từ châu Mỹ; Trung Quốc là nước phải nhập đậu tương lớn nhất trên thế giới. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam Đậu tương là cây trồng lâu đời ở Việt Nam, nhân dân ta đã biết trồng và sử dụng đậu tương từ hàng nghìn năm nay. Tuy nhiên trước đây việc sản xuất đậu tương chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn.
Sau năm 1973, sản xuất đậu tương nước ta mới có bước phát triển đáng kể. Diện tích bình quân thời kỳ 1985 - 1993 đạt 106 nghìn ha, tăng gấp 2 lần so với thời kỳ 1975 - 1980, năng suất bình quân tăng từ 500 kg/ha lên 780 - 900 kg/ha (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, (1996) [10]. Trong thời gian gần đây, dưới áp lực nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn có giá thành thấp và thuận lợi trong vận chuyển, diện tích đậu tương của Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng, mặc dù Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành nhiều chủ trương để phát triển cây trồng này. Năm 2016, diện tích đậu tương Việt Nam chỉ đạt 94 nghìn ha, năng suất 1,57 tấn/ha, sản lượng 147,5 nghìn tấn; so với năm 2011 diện tích gieo trồng cả nước bị giảm trên 87 nghìn ha và sản lượng giảm 119,4 nghìn tấn.
Với số liệu này thì chỉ đạt 23,5% so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra cho năm 2010 (400 nghìn ha) và khó đạt chỉ tiêu kế hoạch đến 2020 (500 nghìn ha) theo chủ trương phát triển của Bộ Nông nghiệp và PTNT nếu không có giải pháp phù hợp. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam 2011 - 2016 Năm 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Diện tích trồng (nghìn ha) 181,1 119,6 117,2 109,4 100,8 94,0 Năng suất (tấn/ha) 1,47 1,45 1,44 1,43 1,45 1,57 Tổng sản lượng (nghìn tấn) 266,9 173,5 168,2 156,5 146,4 147,5 Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) 2017 [22] Theo số liệu thống kê chính thức của Chính phủ thì đậu tương được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam. Khoảng c 8 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ; và 35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Đậu tương được trồng ở nhiều địa phương trên khắp cả nước vào từng thời điểm khác nhau nên có cả vụ Xuân, vụ hè và vụ Đông.
* Tình hình nhập khẩu đậu tương của Việt Nam Do sản xuất đậu tương trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu nên hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu một lượng lớn hạt đậu tương từ các thị trường lớn trên thế giới. Tình hình nhập khẩu đậu tương Việt Nam (2014-2016) Năm 2014 2015 2016 Số lượng (nghìn tấn) 1.546 Giá trị (triệu USD) 873 765 661 Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) 2017[22] Việt Nam nhập khẩu khối lượng đậu tương lớn nhất vào năm 2015 với 1.707 nghìn tấn, giá trị 765 triệu USD, đến năm 2016 giảm còn 1.546 nghìn tấn, giá trị 661 triệu USD. Trong đó khoảng 45% nhập khẩu từ từ Hoa Kỳ, 35% từ Brazil và phần còn lại từ Argentina, Canada, Paraguay và các nước khác. * Định hướng sản xuất đậu tương ở nước ta.
Hiện nay, chính phủ đang có những ưu tiên để nghiên cứu phát triển cây đậu tương thông qua Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, nhằm cải thiện nhanh hơn đời sống của nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo bảo vệ môi trường sinh thái, phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Nhiều giải pháp được đặt ra, trước mắt tập trung giải quyết các sản phẩm trọng điểm chủ lực để tăng cường kim ngạch xuất khẩu và hạn chế kim ngạch nhập khẩu. Với chủ trương đó, hiện nay, đậu tương đang được khuyến khích phát triển trong cơ cấu 2 lúa - 1 màu chuyển đổi trên c 9 đất trồng lúa kém hiệu quả và luân canh cây trồng ở những vùng có truyền thống sản xuất và điều kiện thời tiết thuận lợi. Cần thống nhất quan điểm phát triển cây đậu đỗ trong chuyển dịch kinh tế của từng vùng.
Xây dựng các vùng sản xuất tập trung mang tính hàng hóa, đầu tư thâm canh, phát huy lợi thế vùng nhiệt đới có thể trồng được đậu đỗ nhiều vụ trong năm. Tăng cường cơ sở vật chất cho nghiên cứu và sản xuất chế biến. Tăng cường nguồn vốn trong nước, đẩy mạnh thu hút nguồn vốn nước ngoài.000 ha (Đậu tương 500.000 ha, đậu xanh 70. Năng suất đậu tương đạt trung bình 1,8-2,0 tấn/ha.
Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, diện tích đất quy hoạch khoảng 100 nghìn ha, tận dụng tăng vụ trên đất lúa để năm 2020 diện tích gieo trồng khoảng 350 nghìn ha, sản lượng 700 nghìn tấn; vùng sản xuất chính là đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên.