Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất đậu tương giống dt2008 vụ hè thu 2022 tại xã minh tân huyện phú xuyên hà nội khoán luận tốt nghiệp

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sinh lý và năng suất đậu tương giống DT2008 vụ hè thu 2022 tại Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Nội.

Chuyên ngành

Sinh lý thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

76
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và yêu cầu

2. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Nghiên cứu về nguồn gốc, phân loại đậu tương

2.1.1. Nguồn gốc cây đậu tương

2.1.2. Phân loại

2.2. Giá trị cây đậu tương

2.3. Đặc điểm thực vật học của cây đậu tương

2.3.1. Rễ

2.3.2. Thân

2.3.3.

2.3.4. Hoa

3. PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.4.2. Kỹ thuật chăm sóc

3.4.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.4.4. Phương pháp thu thập và xử lí số liệu

4. PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính cây đậu tương giống DT2008

4.2. Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến động thái ra lá cây đậu tương giống DT2008

4.3. Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI) cây đậu tương giống DT2008

4.4. Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sự hình thành nốt sần hữu hiệu cây đậu tương giống DT2008

4.5. Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số SPAD của đậu tương giống DT2008

4.6. Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng tích lũy chất khô của đậu tương giống DT2008

4.7. Ảnh hưởng của phân bón lá đến hiệu suất quang hợp thuần của đậu tương giống DT2008

4.8. Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất của đậu tương giống DT2008

4.9. Ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất của đậu tương giống DT2008

4.10. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón qua lá cho cây đậu tương giống DT2008

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC ẢNH

PHỤ LỤC CHI PHÍ

PHỤC LỤC IRRISTAT

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh lý đậu tương DT2008

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá đến các chỉ tiêu sinh lý đậu tương giống DT2008 trong vụ hè thu 2022 tại Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Nội. Kết quả cho thấy, việc sử dụng phân bón lá như SEAWEED, Ferti Amino và Super 10-8-8 đã cải thiện đáng kể các chỉ số sinh lý như chiều cao cây, số lá, diện tích lá và chỉ số SPAD. Phân bón lá giúp tăng khả năng tích lũy chất khô và hiệu suất quang hợp thuần, đặc biệt là Ferti Amino, cho kết quả vượt trội. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của phân bón lá trong việc tối ưu hóa sinh lý cây trồng.

1.1. Tăng trưởng chiều cao và số lá

Phân bón lá đã thúc đẩy tăng trưởng chiều cao thân chính và số lá của cây đậu tương DT2008. So với đối chứng, các công thức phun phân bón lá cho thấy sự gia tăng đáng kể về chiều cao và số lá, đặc biệt là Ferti Amino. Điều này chứng minh hiệu quả của phân bón lá trong việc hỗ trợ sinh lý đậu tương ở giai đoạn sinh trưởng.

1.2. Diện tích lá và chỉ số SPAD

Diện tích lá và chỉ số SPAD của đậu tương DT2008 được cải thiện rõ rệt khi sử dụng phân bón lá. Ferti Amino cho kết quả cao nhất, giúp tăng khả năng quang hợp và tích lũy chất khô. Điều này khẳng định tác động tích cực của phân bón lá đến sinh lý cây trồng, góp phần nâng cao năng suất.

II. Ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất đậu tương DT2008

Nghiên cứu chỉ ra rằng phân bón lá có ảnh hưởng tích cực đến năng suất đậu tương giống DT2008. Các yếu tố cấu thành năng suất như số quả, số hạt và khối lượng hạt đều được cải thiện đáng kể. Ferti Amino cho năng suất thực thu cao nhất, đạt 25,47 tạ/ha, cùng với lãi thuần 19,64 triệu đồng/ha. Kết quả này khẳng định hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá trong canh tác đậu tương.

2.1. Các yếu tố cấu thành năng suất

Phân bón lá đã làm tăng số quả, số hạt và khối lượng hạt của đậu tương DT2008. Ferti Amino cho kết quả vượt trội, giúp cải thiện các yếu tố cấu thành năng suất. Điều này chứng minh vai trò quan trọng của phân bón lá trong việc tăng năng suất cây trồng.

2.2. Hiệu quả kinh tế

Sử dụng phân bón lá Ferti Amino mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, với lãi thuần đạt 19,64 triệu đồng/ha. Kết quả này khẳng định tính khả thi của việc áp dụng phân bón lá trong nông nghiệp bền vững, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân.

III. Kỹ thuật canh tác và ứng dụng phân bón lá

Nghiên cứu đề xuất kỹ thuật canh tác đậu tương kết hợp với phân bón lá để tối ưu hóa năng suất và chất lượng. Việc sử dụng phân bón hữu cơphân bón hóa học qua lá giúp cung cấp dinh dưỡng trực tiếp, tăng hiệu suất hấp thụ. Ferti Amino được khuyến nghị là loại phân bón lá phù hợp nhất cho đậu tương DT2008 tại Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Nội.

3.1. Phương pháp bón phân qua lá

Phân bón lá được phun trực tiếp lên lá, giúp cây hấp thụ dinh dưỡng nhanh chóng. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả trong việc bổ sung các nguyên tố vi lượng và trung lượng, hỗ trợ sinh lý cây trồngtăng năng suất cây trồng.

3.2. Khuyến nghị sử dụng phân bón lá

Ferti Amino được khuyến nghị là loại phân bón lá hiệu quả nhất cho đậu tương DT2008. Việc áp dụng phân bón lá trong kỹ thuật canh tác đậu tương giúp nâng cao năng suất và chất lượng, đồng thời góp phần vào nông nghiệp bền vững.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho hoạt động cố định đạm khí trời để cung cấp cho cây. Đến thời kì cây chuẩn bị ra nụ, ra hoa thì tốc độ sinh trưởng của cây tăng lên nhanh. Chính lúc này là mấu chốt để tạo ra thân cây to, mập, các đốt ngắn. Giai đoạn này dài hay ngắn cũng tùy thuộc vào giống, thời vụ, điều kiện ngoại cảnh, nhưng nói chung vào khoảng 20 – 40 ngày.

8 Giai đoạn ra hoa: Giai đoạn này được bắt đầu kể từ khi ra hoa đầu tiên cho đến khi ra hoa cuối cùng. Cây đậu tương khi đã ra hoa thì các bộ phận khác như rễ, thân, lá vẫn tiếp tục sinh trưởng và phát triển. Giai đoạn này sinh trưởng dài hay ngắn tùy thuộc vào đặc tính của giống là chín sớm hay muộn. Thời kì này cây đậu tương rất mẫn cảm với điều kiện khí hậu thời tiết bất thuận như mưa to, gió lớn, khô, nóng…lúc đó mặc dù số hoa của mỗi cây có rất nhiều nhưng kết quả cuối cùng là số hoa được thụ phấn và kết quả sẽ rất ít, vì thông thường 75% số hoa thường bị thui và rụng.

Giai đoạn hình thành quả và hạt: Thời kì có quả non được bắt đầu từ giai đoạn ra hoa. Quả đầu tiên được hình thành trong vòng 7 – 8 ngày kể từ lúc hoa nở. Trong điều kiện bình thường, sau khoảng 3 tuần lễ là quả phát triển đầy đủ. Lúc các chùm quả non đã xuất hiện thì các chất dinh dưỡng trong lá được vận chuyển về nuôi hạt làm cho hạt nảy mầm.

Vào thời kì này, sự sinh trưởng của cây chậm lại dần. Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm…trong giai đoạn này sẽ có tác dụng rất lớn đến tốc độ phát triển của quả và hạt. Giai đoạn chín: Khi hạt đã phát triển đạt đến kích thước tối đa, các khoang hạt đã kín, quả đã đủ mẩy thì cây ngừng sinh trưởng. Khi các hạt đã rắn dần và đạt đến độ chín sinh lý, vỏ hạt có màu sắc đặc trưng của giống, còn vỏ quả thì chuyển dần sang màu vàng, vàng tro, xám…Bộ lá của cây cũng chuyển dần sang úa vàng và rụng dần, lúc này là lúc trong hạt đang có sự chuyển hóa diễn ra mạnh mẽ.

Hàm lượng dầu trong hạt được ổn định sớm vào thời kì hạt đang phát triển nhưng hàm lượng protein thì vẫn còn chịu ảnh hưởng của điều kiện dinh dưỡng của cây cho đến cuối thời kì của quá trình chín. Do đó mà các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng…đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng protein. Thời kì này xảy ra ngắn hơn so với các thời kì trên và chịu tác động nhiều của các yếu tố môi trường. Khi trông bề ngoài thấy vỏ quả đã có màu vàng hoặc vàng nâu là thu hoạch được.

Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là một trong những cây trồng chủ lực, đứng vị trí thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô (Ngô Thế Dân & cs. Theo thống kê của tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thì tình hình sản xuất đậu tương trong những năm gần đây trên thế giới ngày càng được mở rộng và phát triển. Diện tích và sản lượng đậu tương trên thế giới tăng mạnh nhất trong những năm 1965 – 1980 và tương đối ổn định đến nay. Năm 1997 sản lượng đậu tương của thế giới đạt 146,700 ngàn tấn, trong đó bốn nước trồng đậu tương phổ biến nhất là Mỹ, Braxin, Trung Quốc, Achentina chiếm tới 90 – 95% sản lượng, đây là những nước có năng suất đậu tương cao như Mỹ: 2,6 tấn/ha; Braxin: 2,32 tấn/ha; Trung Quốc: 3,19 tấn/ha (Ngô Thế Dân & cs.

Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới từ năm 2012-2017 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2012 105,4 22,9 241,6 2013 111,6 24,9 278,1 2014 117,7 26,2 308,4 2015 120,8 26,8 323,2 2016 121,5 27,6 334,9 2017 123,5 28,5 352,6 (Nguồn: FAO Statistic Database 2018) Từ bảng 2.1 cho thấy từ năm 2012 đến năm 2017 thì xu hướng chung là tăng về diện tích, năng suất và sản lương, tuy nhiên, biến động cụ thể như sau: Về diện tích: Diện tích gieo trồng đậu tương có sự biến động qua các năm từ 2012 đến 2017. Diện tích trồng đậu tương tăng lên 16,1 triệu ha từ 105,4 triệu ha (năm 2012) lên 123,5 triệu ha (năm 2017). Về năng suất: Năng suất đậu tương có những thay đổi từ năm 2012 đến năm 2018. Nếu như năm 2012 năng suất đậu tương là 22,9 tạ/ha đến năm 2016 sản lượng tăng lên đạt 28,5 tạ/ha (tăng 5,4 tạ/ha).

10 Về sản lượng: Cùng với sự biến động về diện tích cũng như năng suất, sản lượng của đậu tương trên thế giới cũng có sự thay đổi. Từ năm 2012 đến năm 2017, sản lượng đậu tương tăng 111,0 triệu tấn (năm 2012 là 241,6 triệu tấn đến 2017 là 352,6 triệu tấn). Hiện nay đậu tương đã được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên chúng vẫn tập trung chủ yếu ở các nước như Hoa Kì, Braxin, Argentina và Trung Quốc, chiếm 90 – 95 % tổng sản lượng đậu tương trên thế giới (Ngô Thế Dân & cs. Những nước có diện tích trồng đậu tương đứng hàng đầu thế giới là Mỹ, Braxin, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Thái Lan và các nước thuộc Liên Xô cũ.

Mỹ đã trở thành khu vực sản xuất đậu tương đứng đầu thế giới cả về diện tích lẫn sản lượng (chiếm 1/3 diện tích trồng đậu tương trên thế giới). Để đạt được ví trí đó là nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, tập trung vào công tác chọn giống mà làm cho năng suất đậu tương cao. Năm 2017 diện tích của Mỹ là 33,48 triệu ha cao hơn so với Trung Quốc gần 5 lần (Trung Quốc chỉ với 6,64 triệu ha) và với sản lượng đạt 117,21 triệu tấn, năng suất của Mỹ khá cao dao động trong khoảng 26 – 31 tạ/ha (cao nhất là năm 2017 với 31,03 tạ/ha), cao hơn rất nhiều so với các nước, sự khác biệt đó là do sự khác biệt cơ bàn vể diện tích, và phần nào do năng suất gây nên. Tiếp sau Mỹ là Braxin, nước đứng thứ 2 trên thế giới về tổng diện tích và sản lượng đậu tương.

Năm 2017, Braxin có diện tích trồng đậu tương là 33,15 triệu ha với sản lượng thu được là 96,29 triệu tấn. Năng suất của Braxin cũng rất cao, cao nhất là năm 2016 với 30,28 tạ/ha. Sau Mỹ và Braxin thì Argentina là nước có diện tích và sản lượng đậu tương đứng thứ 3 thế giới với diện tích, năng suất và sản lượng tương ứng là 19,5 triệu ha, 30,14 tạ/ha và 58,79 triệu tấn vào năm 2017. Ở đây thì đậu tương được trồng luân canh với lúa mì.

Trung Quốc là nước có diện tích trồng cũng không nhỏ, tuy nhiên, năng suất đậu tương ở quốc gia này lại thấp nhất so với các nước nêu trên, năng suất 11 đậu tương ở Trung Quốc chỉ đạt trong khoảng 18 – 19 tạ/ha, thấp hơn rất nhiều so với các nước khác, đặc biệt là so với Braxin với năng suất trung bình đạt 30 tạ/ha. Ở quốc gia này đậu tương được trồng chủ yếu ở vùng Đông Bắc, nơi có nhiều mô hình trồng đậu tương năng suất cao. Do đậu tương ở đây vẫn chưa được đầu tư cao, họ trồng đậu tương với mục đích chủ yếu là cải tạo đất, nên năng suất và sản lượng đậu tương thấp. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của một số nước trên thế giới (2014 - 2017) Năm Argentina Brazin Trung Quốc Mỹ 2014 19,42 29,32 6,60 30,70 Diện tích 2015 19,25 30,27 6,80 31,87 (triệu ha) 2016 19,33 32,18 6,5 33,12 2017 19,5 33,15 6,64 33,48 2014 25,39 22,31 18,94 29,14 2015 27,73 28,65 17,87 29,52 Năng suất 2016 31,75 30,28 18,11 30,08 (tạ/ha) 2017 30,14 29,04 18,01 31,03 2014 49,31 81,70 12,50 89,46 2015 53,39 86,76 12,20 94,08 Sản lượng 2016 61,39 97,46 11,78 106,95 (triệu tấn) 2017 58,79 96,29 11,96 117,21 Nguồn: FAO Statistic Database (2018) Ngoài 4 nước nói trên thì Pháp, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản là những nước sản xuất đậu tương lâu đời.

Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 100 nước trồng đậu tương nhưng không phải nước nào cũng tự túc được nhu cầu đậu tương trong nước. Phần lớn các nước đều phải nhập khẩu đậu tương. Đối với các nước ở Châu Á thì diện tích trồng đậu tương vẫn còn nhỏ, năng suất đậu tương còn thấp, sản lượng đậu tương thu được tại Châu Á mới chỉ tạm đáp ứng được gần ½ nhu cầu tiêu dùng của khu vực. Hàng năm, châu Á phải nhập 12 khẩu 8 triệu tấn hạt đậu tương; 1,5 triệu tấn dầu và 1,8 triệu tấn sữa đậu nành.

Những nước nhập khẩu đậu tương nhiều là: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Triều Tiên, Indonexia, Malaysia. Nhìn chung tình hình sản xuất đậu tương hiện nay trên thế giới có nhiều biến đổi do việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, thâm canh trong sản xuất và sử dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương. Do đó, diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương đang tăng dần qua các năm nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống hiện tại. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam Hiện nay, cây đậu tương là một trong những cây công nghiệp đang được chú trọng phát triển nhất của nền nông nghiệp nước ta.

Với những lợi ích to lớn mà nó mang lại thì các nhà chọn tạo giống đã tạo ra được nhiều loại giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt. Bởi vậy mà việc sản xuất đậu tương có những biến đổi rõ rệt và nó được thể hiện ở bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2011 181,1 14,7 266,9 2012 120,8 14,5 175,3 2013 180,0 15,0 270,0 2014 200,0 15,0 300,0 2015 100,8 14,5 146,4 2016 94,0 15,7 147,5 2017 100,0 15,7 157,0 Nguồn: FAOSTAT.ORG, 2018 Qua bảng 2.3 cho thấy diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của Việt Nam có biến động khá lớn. Từ năm 2011 đến năm 2014 diện tích trồng đậu tương không ổn định, năm 2011 diên tích trồng là 181,1 nghìn ha nhưng sang năm sau 13 là năm 2012 diện tích trồng đậu tương chỉ còn 120,8 nghìn ha.

Năm 2013, 2014 diện tích trồng lại tăng lên cao đến đỉnh điểm là 200 nghìn ha đến năm 2015 diện tích trồng chỉ còn một nửa diện tích so với năm 2014.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh lý và năng suất đậu tương DT2008 vụ hè thu 2022 tại Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Nội là một nghiên cứu chuyên sâu về tác động của phân bón lá lên quá trình sinh lý và năng suất của giống đậu tương DT2008. Kết quả cho thấy việc sử dụng phân bón lá đã cải thiện đáng kể các chỉ số sinh trưởng, quang hợp và năng suất của cây đậu tương, đặc biệt trong điều kiện thời tiết vụ hè thu. Nghiên cứu này cung cấp thông tin hữu ích cho nông dân và nhà khoa học trong việc tối ưu hóa quy trình canh tác, nâng cao hiệu quả sản xuất đậu tương.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng phát triển và năng suất giống đậu tương đt 51 vụ xuân 2017 tại thái nguyên, hoặc Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sự sinh trưởng và phát triển của giống sắn bka900 và km419 năm 2017 tại huyện văn yên tỉnh yên bái. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các phương pháp cải tiến giống cây trồng, bạn có thể đọc thêm Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học chuyển gen tổng hợp astaxanthin vào giống đậu tương thông qua vi khuẩn agrobacterium tumefaciens. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn sâu sắc và bổ sung kiến thức chuyên môn về lĩnh vực nông nghiệp.