mở đầu cho hoạt động cố định đạm khí trời để cung cấp cho cây. Đến thời kì cây chuẩn bị ra nụ, ra hoa thì tốc độ sinh trưởng của cây tăng lên nhanh. Chính lúc này là mấu chốt để tạo ra thân cây to, mập, các đốt ngắn. Giai đoạn này dài hay ngắn cũng tùy thuộc vào giống, thời vụ, điều kiện ngoại cảnh, nhưng nói chung vào khoảng 20 – 40 ngày.
8 Giai đoạn ra hoa: Giai đoạn này được bắt đầu kể từ khi ra hoa đầu tiên cho đến khi ra hoa cuối cùng. Cây đậu tương khi đã ra hoa thì các bộ phận khác như rễ, thân, lá vẫn tiếp tục sinh trưởng và phát triển. Giai đoạn này sinh trưởng dài hay ngắn tùy thuộc vào đặc tính của giống là chín sớm hay muộn. Thời kì này cây đậu tương rất mẫn cảm với điều kiện khí hậu thời tiết bất thuận như mưa to, gió lớn, khô, nóng…lúc đó mặc dù số hoa của mỗi cây có rất nhiều nhưng kết quả cuối cùng là số hoa được thụ phấn và kết quả sẽ rất ít, vì thông thường 75% số hoa thường bị thui và rụng.
Giai đoạn hình thành quả và hạt: Thời kì có quả non được bắt đầu từ giai đoạn ra hoa. Quả đầu tiên được hình thành trong vòng 7 – 8 ngày kể từ lúc hoa nở. Trong điều kiện bình thường, sau khoảng 3 tuần lễ là quả phát triển đầy đủ. Lúc các chùm quả non đã xuất hiện thì các chất dinh dưỡng trong lá được vận chuyển về nuôi hạt làm cho hạt nảy mầm.
Vào thời kì này, sự sinh trưởng của cây chậm lại dần. Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm…trong giai đoạn này sẽ có tác dụng rất lớn đến tốc độ phát triển của quả và hạt. Giai đoạn chín: Khi hạt đã phát triển đạt đến kích thước tối đa, các khoang hạt đã kín, quả đã đủ mẩy thì cây ngừng sinh trưởng. Khi các hạt đã rắn dần và đạt đến độ chín sinh lý, vỏ hạt có màu sắc đặc trưng của giống, còn vỏ quả thì chuyển dần sang màu vàng, vàng tro, xám…Bộ lá của cây cũng chuyển dần sang úa vàng và rụng dần, lúc này là lúc trong hạt đang có sự chuyển hóa diễn ra mạnh mẽ.
Hàm lượng dầu trong hạt được ổn định sớm vào thời kì hạt đang phát triển nhưng hàm lượng protein thì vẫn còn chịu ảnh hưởng của điều kiện dinh dưỡng của cây cho đến cuối thời kì của quá trình chín. Do đó mà các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng…đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng protein. Thời kì này xảy ra ngắn hơn so với các thời kì trên và chịu tác động nhiều của các yếu tố môi trường. Khi trông bề ngoài thấy vỏ quả đã có màu vàng hoặc vàng nâu là thu hoạch được.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là một trong những cây trồng chủ lực, đứng vị trí thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô (Ngô Thế Dân & cs. Theo thống kê của tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thì tình hình sản xuất đậu tương trong những năm gần đây trên thế giới ngày càng được mở rộng và phát triển. Diện tích và sản lượng đậu tương trên thế giới tăng mạnh nhất trong những năm 1965 – 1980 và tương đối ổn định đến nay. Năm 1997 sản lượng đậu tương của thế giới đạt 146,700 ngàn tấn, trong đó bốn nước trồng đậu tương phổ biến nhất là Mỹ, Braxin, Trung Quốc, Achentina chiếm tới 90 – 95% sản lượng, đây là những nước có năng suất đậu tương cao như Mỹ: 2,6 tấn/ha; Braxin: 2,32 tấn/ha; Trung Quốc: 3,19 tấn/ha (Ngô Thế Dân & cs.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới từ năm 2012-2017 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2012 105,4 22,9 241,6 2013 111,6 24,9 278,1 2014 117,7 26,2 308,4 2015 120,8 26,8 323,2 2016 121,5 27,6 334,9 2017 123,5 28,5 352,6 (Nguồn: FAO Statistic Database 2018) Từ bảng 2.1 cho thấy từ năm 2012 đến năm 2017 thì xu hướng chung là tăng về diện tích, năng suất và sản lương, tuy nhiên, biến động cụ thể như sau: Về diện tích: Diện tích gieo trồng đậu tương có sự biến động qua các năm từ 2012 đến 2017. Diện tích trồng đậu tương tăng lên 16,1 triệu ha từ 105,4 triệu ha (năm 2012) lên 123,5 triệu ha (năm 2017). Về năng suất: Năng suất đậu tương có những thay đổi từ năm 2012 đến năm 2018. Nếu như năm 2012 năng suất đậu tương là 22,9 tạ/ha đến năm 2016 sản lượng tăng lên đạt 28,5 tạ/ha (tăng 5,4 tạ/ha).
10 Về sản lượng: Cùng với sự biến động về diện tích cũng như năng suất, sản lượng của đậu tương trên thế giới cũng có sự thay đổi. Từ năm 2012 đến năm 2017, sản lượng đậu tương tăng 111,0 triệu tấn (năm 2012 là 241,6 triệu tấn đến 2017 là 352,6 triệu tấn). Hiện nay đậu tương đã được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên chúng vẫn tập trung chủ yếu ở các nước như Hoa Kì, Braxin, Argentina và Trung Quốc, chiếm 90 – 95 % tổng sản lượng đậu tương trên thế giới (Ngô Thế Dân & cs. Những nước có diện tích trồng đậu tương đứng hàng đầu thế giới là Mỹ, Braxin, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Thái Lan và các nước thuộc Liên Xô cũ.
Mỹ đã trở thành khu vực sản xuất đậu tương đứng đầu thế giới cả về diện tích lẫn sản lượng (chiếm 1/3 diện tích trồng đậu tương trên thế giới). Để đạt được ví trí đó là nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, tập trung vào công tác chọn giống mà làm cho năng suất đậu tương cao. Năm 2017 diện tích của Mỹ là 33,48 triệu ha cao hơn so với Trung Quốc gần 5 lần (Trung Quốc chỉ với 6,64 triệu ha) và với sản lượng đạt 117,21 triệu tấn, năng suất của Mỹ khá cao dao động trong khoảng 26 – 31 tạ/ha (cao nhất là năm 2017 với 31,03 tạ/ha), cao hơn rất nhiều so với các nước, sự khác biệt đó là do sự khác biệt cơ bàn vể diện tích, và phần nào do năng suất gây nên. Tiếp sau Mỹ là Braxin, nước đứng thứ 2 trên thế giới về tổng diện tích và sản lượng đậu tương.
Năm 2017, Braxin có diện tích trồng đậu tương là 33,15 triệu ha với sản lượng thu được là 96,29 triệu tấn. Năng suất của Braxin cũng rất cao, cao nhất là năm 2016 với 30,28 tạ/ha. Sau Mỹ và Braxin thì Argentina là nước có diện tích và sản lượng đậu tương đứng thứ 3 thế giới với diện tích, năng suất và sản lượng tương ứng là 19,5 triệu ha, 30,14 tạ/ha và 58,79 triệu tấn vào năm 2017. Ở đây thì đậu tương được trồng luân canh với lúa mì.
Trung Quốc là nước có diện tích trồng cũng không nhỏ, tuy nhiên, năng suất đậu tương ở quốc gia này lại thấp nhất so với các nước nêu trên, năng suất 11 đậu tương ở Trung Quốc chỉ đạt trong khoảng 18 – 19 tạ/ha, thấp hơn rất nhiều so với các nước khác, đặc biệt là so với Braxin với năng suất trung bình đạt 30 tạ/ha. Ở quốc gia này đậu tương được trồng chủ yếu ở vùng Đông Bắc, nơi có nhiều mô hình trồng đậu tương năng suất cao. Do đậu tương ở đây vẫn chưa được đầu tư cao, họ trồng đậu tương với mục đích chủ yếu là cải tạo đất, nên năng suất và sản lượng đậu tương thấp. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của một số nước trên thế giới (2014 - 2017) Năm Argentina Brazin Trung Quốc Mỹ 2014 19,42 29,32 6,60 30,70 Diện tích 2015 19,25 30,27 6,80 31,87 (triệu ha) 2016 19,33 32,18 6,5 33,12 2017 19,5 33,15 6,64 33,48 2014 25,39 22,31 18,94 29,14 2015 27,73 28,65 17,87 29,52 Năng suất 2016 31,75 30,28 18,11 30,08 (tạ/ha) 2017 30,14 29,04 18,01 31,03 2014 49,31 81,70 12,50 89,46 2015 53,39 86,76 12,20 94,08 Sản lượng 2016 61,39 97,46 11,78 106,95 (triệu tấn) 2017 58,79 96,29 11,96 117,21 Nguồn: FAO Statistic Database (2018) Ngoài 4 nước nói trên thì Pháp, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản là những nước sản xuất đậu tương lâu đời.
Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 100 nước trồng đậu tương nhưng không phải nước nào cũng tự túc được nhu cầu đậu tương trong nước. Phần lớn các nước đều phải nhập khẩu đậu tương. Đối với các nước ở Châu Á thì diện tích trồng đậu tương vẫn còn nhỏ, năng suất đậu tương còn thấp, sản lượng đậu tương thu được tại Châu Á mới chỉ tạm đáp ứng được gần ½ nhu cầu tiêu dùng của khu vực. Hàng năm, châu Á phải nhập 12 khẩu 8 triệu tấn hạt đậu tương; 1,5 triệu tấn dầu và 1,8 triệu tấn sữa đậu nành.
Những nước nhập khẩu đậu tương nhiều là: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Triều Tiên, Indonexia, Malaysia. Nhìn chung tình hình sản xuất đậu tương hiện nay trên thế giới có nhiều biến đổi do việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, thâm canh trong sản xuất và sử dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương. Do đó, diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương đang tăng dần qua các năm nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống hiện tại. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam Hiện nay, cây đậu tương là một trong những cây công nghiệp đang được chú trọng phát triển nhất của nền nông nghiệp nước ta.
Với những lợi ích to lớn mà nó mang lại thì các nhà chọn tạo giống đã tạo ra được nhiều loại giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt. Bởi vậy mà việc sản xuất đậu tương có những biến đổi rõ rệt và nó được thể hiện ở bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2011 181,1 14,7 266,9 2012 120,8 14,5 175,3 2013 180,0 15,0 270,0 2014 200,0 15,0 300,0 2015 100,8 14,5 146,4 2016 94,0 15,7 147,5 2017 100,0 15,7 157,0 Nguồn: FAOSTAT.ORG, 2018 Qua bảng 2.3 cho thấy diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của Việt Nam có biến động khá lớn. Từ năm 2011 đến năm 2014 diện tích trồng đậu tương không ổn định, năm 2011 diên tích trồng là 181,1 nghìn ha nhưng sang năm sau 13 là năm 2012 diện tích trồng đậu tương chỉ còn 120,8 nghìn ha.
Năm 2013, 2014 diện tích trồng lại tăng lên cao đến đỉnh điểm là 200 nghìn ha đến năm 2015 diện tích trồng chỉ còn một nửa diện tích so với năm 2014.