Luận văn thạc sĩ về chuyển gen astaxanthin vào giống đậu tương bằng Agrobacterium tumefaciens

Nghiên cứu chuyển gen astaxanthin vào giống đậu tương qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens, mở ra tiềm năng mới trong công nghệ sinh học.

Trường đại học

Trường Đại Học Bách Khoa

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

70
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu chuyển gen

Nghiên cứu chuyển gen astaxanthin vào cây đậu tương thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens là một bước tiến quan trọng trong công nghệ sinh học. Chuyển gen là quá trình đưa gen từ một sinh vật vào một sinh vật khác, nhằm tạo ra các đặc tính mong muốn. Astaxanthin là một carotenoid có khả năng chống oxy hóa mạnh, có giá trị dinh dưỡng cao. Việc tạo ra giống đậu tương mang gen tổng hợp astaxanthin không chỉ giúp cải thiện giá trị dinh dưỡng của thực phẩm mà còn có thể ứng dụng trong ngành chăn nuôi. Nghiên cứu này nhằm khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình biến đổi gen và xây dựng quy trình chuyển gen hiệu quả.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Cây đậu tương là một trong những cây trồng quan trọng nhất trên thế giới, cung cấp nguồn thực phẩm và nguyên liệu cho ngành công nghiệp. Tuy nhiên, sản lượng đậu tương tại Việt Nam vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Việc nghiên cứu và phát triển giống đậu tương mang gen tổng hợp astaxanthin sẽ giúp tăng cường giá trị dinh dưỡng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Công nghệ sinh học cho phép cải thiện giống cây trồng một cách nhanh chóng và hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Agrobacterium tumefaciens để chuyển gen astaxanthin vào giống đậu tương MTĐ 176. Các bước thực hiện bao gồm: khử trùng hạt giống, nuôi cấy mô, và kiểm tra sự hiện diện của gen thông qua phương pháp sinh học phân tử. Agrobacterium tumefaciens là một vi khuẩn có khả năng tự nhiên trong việc chuyển gen vào thực vật, nhờ vào khả năng tích hợp DNA vào bộ gen của cây. Quá trình này bao gồm việc tối ưu hóa các điều kiện như nồng độ chất điều hòa sinh trưởng và chất chọn lọc để đạt được tỷ lệ thành công cao nhất trong việc tạo ra cây chuyển gen.

2.1. Khảo sát điều kiện chuyển gen

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển gen được khảo sát bao gồm: thời gian khử trùng hạt, nồng độ benzyl adenine (BA) và phosphinothricin (PPT). Kết quả cho thấy, khử trùng hạt bằng khí clo trong 16 giờ, nồng độ BA 2 mg/L và PPT 5 mg/L là các điều kiện tối ưu cho quá trình tái sinh chồi. Việc xác định các điều kiện này là rất quan trọng để đảm bảo tỷ lệ thành công trong việc tạo ra cây đậu tương chuyển gen. Những kết quả này không chỉ có giá trị trong nghiên cứu mà còn có thể áp dụng trong sản xuất thực tiễn.

III. Kết quả và thảo luận

Nghiên cứu đã tạo ra hai dòng đậu tương chuyển gen là MTĐ 176-CG01 và MTĐ 176-CG02. Kết quả kiểm tra bằng phương pháp PCR cho thấy sự hiện diện của các gen cbfd2, hbfd2 và bar, chứng tỏ rằng quá trình chuyển gen đã thành công. Việc tạo ra giống đậu tương mang gen tổng hợp astaxanthin không chỉ mở ra cơ hội mới cho ngành nông nghiệp mà còn có thể cải thiện chế độ dinh dưỡng cho con người và động vật. Astaxanthin có tiềm năng lớn trong việc nâng cao sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật, do đó, nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn cao.

3.1. Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ đóng góp vào kho tàng kiến thức về công nghệ di truyền mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển giống cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao. Việc tạo ra giống đậu tương mang gen tổng hợp astaxanthin có thể giúp giảm thiểu tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của con người, đồng thời nâng cao giá trị kinh tế cho nông dân. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng góp phần vào việc phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Đậu tƣơng [Glycine max (L.] còn gọi là đậu nành là một cây trồng cạn ngắn ngày có gi trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó làm thực phẩm cho con ngƣời thức n cho gia súc nguyên liệu cho công nghiệp và hàng xuất khẩu. Vì thế cây đậu tƣơng đợc gọi là "Ông Hoàng trong các loại cây họ đậu".

Đậu tƣơng còn là một cây trồng cạn ngắn ngày có gi trị kinh tế cao là một nguồn quan trọng của dầu thực vật và protein. Những yêu cầu dành cho dầu đậu tƣơng và protein đƣợc t ng lên sự cải thiện về chất lƣợng và sản xuất đậu tƣơng thông qua sự biến nạp gen và chức n ng di truyền học đã trở thành một vấn đề quan trọng trên khắp thế giới. Ngoài ra đậu tƣơng là cây trồng lý tƣởng trong hệ thống luân canh do khả n ng cải tạo đất tốt. Diện tích đậu tƣơng ở nƣớc ta đạt khoảng 200.000 ha với n ng suất bình quân 1 5 tấn/ha (FAO Statistic Database 2007) và hiện nay ở mức 94.000 ha với tổng sản lƣợng 147 5 ngàn tấn (Ngô Thế Hiển B o c o kết quả thực hiện kế hoạch th ng 12/2016 ngành nông nghiệp và ph t triển nông thôn)[3].

Trong khi đó theo số liệu từ tổng cục Hải Quan Việt Nam cho thấy, nửa đầu n m 2016 nhập khẩu đậu tƣơng của cả nƣớc tƣơng ứng với 764,4 nghìn tấn, trị giá 308,8 triệu USD. Việt Nam nhập khẩu đậu tƣơng chủ yếu từ các thị trƣờng nhƣ Hoa Kỳ, Brazil và Canada trong đó Hoa Kỳ là thị trƣờng cung cấp chính. Trong khi nƣớc ta có đủ điều kiện để canh tác phát triển cây đậu tƣơng phục vụ nhu cầu trong nƣớc. Để t ng sản lƣợng đậu tƣơng ngoài mở rộng thêm diện tích trong cơ cấu luân canh cải thiện kỹ thuật canh t c thì công t c tạo giống mới cũng là một nhiệm vụ hàng đầu.

Sử dụng đậu tƣơng biến đổi gen là một tiến bộ quan trọng trong ngành trồng đậu tƣơng của trên toàn thế giới hiện nay. C c nƣớc có nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới đặc biệt là Hoa Kỳ đã tiến hành tạo giống đậu tƣơng biến đổi gen trồng thƣơng mại từ hàng thập kỉ qua. Qua đó trở thành một trong những quốc gia hàng đầu xuất khẩu đậu tƣơng cho thị trƣờng thế giới. 2 Astaxanthin là một hợp chất chống oxy hóa có trong c c sinh vật có màu đỏ nhƣ nhuyễn thể c hồi… Astaxanthin đƣơc xem là chất bổ sung trong thức n ch n nuôi hiệu quả đối với c hồi tôm gà vịt sản xuất trứng.

Astaxanthin cũng đƣợc bổ sung trong chế độ n của con ngƣời có t c dụng chống oxy hóa có ích trong c c bệnh tim mạch miễn dịch kháng viêm và tho i hóa thần kinh. [5],[6] Tạo giống đậu tƣơng mang gen tổng hợp astaxanthin có gi trị lớn trong thức n ch n nuôi và cải thiện chế độ dinh dƣỡng con ngƣời. Mục tiêu của đề tài - Khảo sát các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình chuyển gen tổng hợp astaxanthin vào cây đậu tƣơng thông qua Agrobacterium tumefaciens. - Xây dựng quy trình chuyển gen tổng hợp astaxanthin vào đậu tƣơng thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens.

- Tạo cây chuyển gen và kiểm tra kết quả bằng phƣơng ph p sinh học phân tử. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Thực hiện đề tài giúp học viên có thêm kinh nghiệm kiến thức bổ ích và tiếp cận với công t c nghiên cứu khoa học để phục vụ cho nghiên cứu và công t c sau này. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình chuyển gen tạo giống cây đậu tƣơng tổng hợp astaxanthin có gi trị trong thức n ch n nuôi và dinh dƣỡng cho con ngƣời. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Tạo giống đậu tƣơng có khả n ng tổng hợp astaxanthin có thể khai th c sử dụng trong thức n ch n nuôi và bổ sung dinh dƣỡng cho chế độ n con ngƣời.

Qua đó ph t triển diện tích trồng đậu tƣơng cung cấp cho thị trƣờng trong nƣớc. 3 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, vai trò và vị trí của cây đậu tƣơng trong hệ thống cây trồng 2. Nguồn gốc và phân loại Đậu tƣơng có tên khoa học là Glycine max (L.) Merrill là loại cây trồng thuộc họ đậu (Fabaceae) họ phụ c nh bƣớm (Papilionoi dea) có nguồn gốc từ Trung Quốc là loại cây trồng hàng n m không thấy xuất hiện ở loài hoang dại.

C c giống đậu tƣơng địa ph- ơng của nƣớc ta hiện nay đợc du nhập từ Trung Quốc đã từ lâu (FAO Statistic Database 2007). Cây đậu tƣơng là cây thân thảo ít phân cành dạng bụi l đậu tƣơng là l kép với 3 lá chét, nhƣng đôi khi còn có 4-5 l chét. Hoa màu trắng hay tím quả thẳng hay quả cong có nhiều lông. Vỏ của hạt đậu tƣơng có màu nâu đen vàng xanh.

Khối lƣợng hạt rất đa dạng từ 20-400 mg/hạt. Cây đậu tƣơng có 2 đặc tính sinh trƣởng: sinh trƣởng hữu hạn và sinh trƣởng vô hạn thời gian sinh trƣởng có 3 loại: chín sớm (75-85 ngày), trung bình (80-100 ngày) muộn (110-120 ngày). Thời gian sinh trƣởng là một yếu tố rất quan trọng để lựa chọn cây trồng luân canh xen vụ. Một đặc điểm nổi bật là ở rễ cây đậu tƣơng thƣờng có nốt sần chứa vi khuẩn có khả n ng cố định nitơ tự do cho nên trồng cây đậu tƣơng còn có t c dụng cải tạo[1].

C c công trình nghiên cứu cho thấy những giống có khả n ng cộng sinh và có đủ nốt sần thƣờng làm cho hàm lƣợng protein cao. Đậu tƣơng là cây tƣơng đối mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh. Trong các giống đậu tƣơng có những giống chỉ trồng vào vụ hè có những giống chỉ trồng vào vụ đông.[1] Hệ thống phân loại đã c n cứ vào đặc điểm về hình th i sự phân bố địa lý và số lƣợng nhiễm sắc thể. Theo hệ thống này ngoài chi Glycine còn có thêm chi phụ Soja.

Chi Glycine đợc chia thành 7 loài hoang dại lâu n m bao gồm: Glycine clandestina wendl; Glycine falcata Benth; Glycine latifolia (Benth) Newell và Hymowitz; Glycine tatrobeana (Meissn) Benth; Glycine tabacina; Glycine canescens F.Ham ; Glycine tomentella Hyayata và chi phụ Soja đợc chia ra làm 2 loài: loài đậu tƣơng trồng Glycine (L) Merr và loài hoang dại hàng n m G. Soja Sieb và Zucc [1]. Tầm quan trọng của cây đậu tƣơng 4 Cây đậu tƣơng là nguồn thực phẩm có gi trị kinh tế cao giàu đạm giàu chất béo giàu c c chất kho ng và c c vitamin. Ngoài ra đậu tƣơng còn là nguyên liệu tốt cho ngành công nghiệp thực phẩm công nghệ ép dầu thức n gia súc và cây làm tốt đất (nhờ hoạt động cố định N2 của loại vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ đậu) đồng thời cũng là những loài xuất khẩu có gi trị đối với nhiều thị trờng trên thế giới.

Giá trị về mặt thực phẩm Trong hạt đậu tƣơng chứa 38-40% protein trong khi đó sắn gạo ngô chỉ chứa từ 2-14 9% và hydrat cacbon từ 15-16%. Hơn nữa đậu tƣơng còn chứa nhiều amino acid cơ bản cần thiết nh: isoleucin, leucin, metionin, lysin, phenylamin, tryptophan, valin nhiều loại vitamin A B1, B2 C …và chất kho ng [2][7]. Hạt đậu tƣơng đƣợc coi là nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh vì chứa một lƣợng đ ng kể c c amino acid không thay thế. Khi thiếu protein trong thành phần thức n thì sẽ hạn chế sự sinh trƣởng và ph t triển trí tuệ của trẻ em và giảm mức độ đề kh ng đối với c c bệnh truyền nhiễm.

Giá trị về mặt nông nghiệp Làm thức ăn cho gia súc: Đậu tƣơng là nguồn thức n tốt cho gia súc 1 kg hạt đậu tƣơng đơng với 1 38 đơn vị thức n ch n nuôi. Toàn cây đậu tƣơng (thân l quả hạt) có hàm lƣợng đạm kh cao cho nên c c sản phẩm phụ nh thân lá tơi có thể làm thức n cho gia súc rất tốt hoặc nghiền khô làm thức n tổng hợp của gia súc. Sản phẩm phụ công nghiệp nh khô dầu có thành phần dinh dỡng kh cao: N:6 2% P2O5: 0,7%, K2O: 2,4%, vì thế làm thức n cho gia súc rất tốt. [2][7] Cải tạo đất: Đậu tƣơng là cây luân canh cải tạo đất tốt.

1 ha trồng đậu tƣơng nếu sinh trƣởng ph t triển tốt để lại trong đất từ 30-60 kg N. Trong hệ thống luân canh nếu bố trí cây đậu tƣơng vào cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ có t c dụng tốt đối với cây trồng sau, góp phần t ng n ng suất cả hệ thống cây trồng mà giảm chi phí cho việc bón phân N. Thân l đậu tƣơng dùng bón ruộng thay phân hữu cơ rất tốt bởi lƣợng N trong thân chiếm 0 05% trong lá: 0,19%. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới và Việt Nam 2.

Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới Đậu tƣơng là cây trồng lấy hạt cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì lúa nƣớc và ngô. Do khả n ng thích ứng rộng nên nó đƣợc trồng ở khắp n m châu lục nhƣng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ (32%) Brazil (31%) Argentina (18%). [8] N m 2014 sản lƣợng đậu nành trung bình trên toàn thế giới là 2 6 tấn/ha. [9] Ba nƣớc có sản lƣợng lớn nhất là Th i Lan Thổ Nhĩ Kỳ và Italia với n ng suất đậu nành trên toàn quốc là 4 9 tấn/ha.

C c trang trại đậu nành đạt n ng suất nhất trên thế giới trong n m 2014 ở Th i Lan có sản lƣợng bình quân trên toàn quốc là 6.[9] Trong những n m 1960 Hoa Kỳ đã xuất khẩu trên 90% đậu nành trên thế giới. Tình hình sản xuất đậu tƣơng ở Việt Nam Theo kết quả điều tra của tổng cục thống kê Việt Nam về sản xuất đậu tƣơng trong 5 n m gần đây (từ n m 2005 đến 2014) cho thấy khuynh hƣớng giảm chậm về diện tích sản xuất n ng suất và sản lƣợng của đậu tƣơng tại Việt Nam. Số liệu thống kê sản xuất đậu tƣơng ở Việt Nam năm 2005-2014. Năm Sản lƣợng đậu tƣơng (nghìn tấn) 2005 292,7 2006 258,1 2007 275,2 2008 267,6 2009 215,2 2010 298,6 2011 266,9 2012 173,5 2013 168,2 2014 156,5 (Nguồn: Niêm giám thống kê 2014, Nhà Xuất Bản Thống Kê Hà Nội 2015)[11] Bảng 2.

Số liệu thống kê diện tích sản xuất đậu tƣơng ở Việt Nam năm 2010-2014.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu chuyển gen astaxanthin vào đậu tương qua Agrobacterium tumefaciens" trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc chuyển gen astaxanthin vào cây đậu tương, một loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu này không chỉ mở ra hướng đi mới trong việc cải thiện chất lượng dinh dưỡng của đậu tương mà còn góp phần vào việc phát triển các giống cây trồng có khả năng chống chịu tốt hơn với điều kiện môi trường khắc nghiệt. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp như vậy sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, từ đó mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến cải thiện giống cây trồng, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận án chọn tạo giống lúa hàm lượng amylose thấp bằng chỉ thị phân tử ssr trên quần thể lai hồi giao", nơi nghiên cứu về việc tạo ra giống lúa có hàm lượng amylose thấp. Ngoài ra, bài viết "Luận án nghiên cứu chuyển gen cry8db có tính kháng vào cây mía" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về việc ứng dụng công nghệ chuyển gen trong cây mía. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học khảo sát tác động của oligochitosan lên khả năng chịu mặn của cây mạ lúa oryza sativa l", một nghiên cứu khác về khả năng chịu đựng của cây trồng trong điều kiện khắc nghiệt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các ứng dụng của công nghệ sinh học trong nông nghiệp.