Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ cà phê trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới Thu thập và phân tích số liệu về diện tích, sản lượng và năng suất cà phê trên toàn thế giới trong 3 năm gần đây cho thấy: từ năm 2011 đến năm 2013 trên thế giới có khoảng 10,1 triệu ha cà phê đang cho thu hoạch, diện tích cà phê đang cho thu hoạch trên toàn thế giới tăng giảm theo từng năm do quá trình tái canh của người sản xuất cà phê.
Năm 2013, diện tích cà phê đang cho thu hoạch của toàn thế giới là 10,142 triệu ha nhiều hơn so với năm 2012 (10,102 triệu ha) nhưng ít hơn so với năm 2011 (10,143 triệu ha) bằng 1/10 so với diện tích lúa gạo trên toàn thế giới (163 triệu ha). Về sản lượng, năm 2012 sản lượng cà phê của toàn thế giới là 9,209 triệu tấn nhân cao hơn so với năm 2011 và năm 2013 do đặc điểm ra quả cách năm của cây cà phê và tình trạng mất mùa ở một số nước sản xuất cà phê nêm sản lượng cà phê năm 2013 giảm 0,032 triệu tấn nhân so với năm 2012. Diện tích, sản lượng, năng suất cà phê của thế giới niên vụ 2011 – 2013 Diện tích Sản lượng Năng suất Năm (1.org, 2013 [33] Phân tích số liệu của 5 khu vực trồng cà phê chủ yếu trên thế giới trong năm 2013 (bảng 1.2) cho thấy: các châu lục có diện tích trồng cà phê không đều nhau, khu vực Châu Mỹ có diện tích lớn nhất đạt gần 5,5 triệu ha (chủ yếu là cà phê chè) gấp 2 lần Châu Á (cà phê chè và cà phê vối) và Châu Phi (cà phê vối). Khu vực Châu Âu có điều kiện khí hậu, đất đai, địa hình không phù hợp đối với cây cà phê nên không có diện tích đất trồng cà phê.
Sản lượng cà phê của các Châu lục cũng biến động và không đồng đều, Châu Mỹ có sản lượng cà phê đạt cao nhất (khoảng 5,0 triệu tấn nhân) gấp 5 lần so với Châu Phi (0,977 triệu tấn nhân) và gấp 2 lần so với Châu Á (2,873 triệu tấn nhân). Năng suất cà phê nhân của các Châu lục cũng chênh lệch nhau khá lớn, Châu Á có diện tích cà phê thu hoạch nhỏ hơn và sản lượng cà phê nhân thấp hơn so với Châu Mỹ nhưng năng suất đạt cao nhất (1,106 tấn nhân/ha), đây là khu vực có điều kiện khí PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 hậu, đất đai và địa hình thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của cây cà phê, đặc biệt là cà phê vối. Như vậy, hàng năm tổng sản lượng cà phê trên toàn thế giới và giá thành sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào sự ổn định về năng suất cà phê của các nước thuộc khu vực Châu Mỹ và Châu Á. Diện tích, sản lượng và năng suất cà phê của các khu vực năm 2013 Diện tích Sản lượng Năng suất STT Khu vực (1.000 tấn nhân) (tấn nhân/ha) 1 Châu Mỹ 5.094 977 0,466 4 Châu Âu - - - 5 Châu Đại Dương 70 60 0,858 Tổng cộng 10.org, 2013 [33] Phân tích số liệu về diện tích, sản lượng và năng suất của 5 nước xuất khẩu cà phê nhân đứng đầu thế giới năm 2013 bao gồm Brazil, Việt Nam, Indonesia, Colombia và Ấn Độ (bảng 1.3) cho thấy: Về diện tích, Brazil là nước đứng đầu thế giới với diện tích đạt gần 2,1 triệu ha chiếm 20,55 % diện tích cà phê của thế giới, kế đến là Colombia với 0,771 triệu ha chiếm 7,60 % và 70 nước khác chiếm 71,85% diện tích cà phê của thế giới.
Như vậy, xét về diện tích đối với 5 quốc gia đứng đầu về xuất khẩu cà phê nhân trên thế giới nếu giảm hoặc tăng diện tích cà phê ở các quốc gia này ở những mức độ khác nhau sẽ ảnh hưởng lớn đến nguồn cung sản phẩm cà phê trên thế giới. Về sản lượng, sản lượng cà phê nhân của 5 nước đúng đầu thế giới không đều nhau và chia làm 2 nhóm, nhóm có sản lượng cà phê nhân cao gồm Brazil và Việt Nam, sản lượng cà phê của 2 quốc gia này đạt trên 1 triệu tấn nhân/năm. Nhóm có sản lượng cà phê thấp hơn 1 triệu tấn nhân bao gồm Indonesia, Ấn Độ và Colombia. Về năng suất, Việt Nam là nước có năng suất cà phê cao nhất thế giới đạt 2,499 tấn nhân/ha, cao gấp 3 lần so với Colombia và Ấn Độ, cao gấp 5 lần so với Indonesia, đây chính là lý do Việt Nam có diện tích trồng cà phê nhỏ hơn so với Colombia nhưng đã trở thành nước có sản lượng cà phê xuất khẩu đứng thứ 2 thế giới đem lại nguồn ngoại tệ lớn có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 nay.
Nguyên nhân là do Việt Nam có điều kiện khí hậu, đất đai và địa hình thuận lợi để phát triển cây cà phê vối và đầu tư thâm canh cao nên năng suất cao nhưng thiếu bền vững. Diện tích, sản lượng, năng suất cà phê của 5 quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu cà phê năm 2013 Diện tích Sản lượng Năng suất STT Nước (1.000 tấn nhân) (tấn nhân/ha) 1 Brazil 2.461 2,499 3 Indonesia 124 698 0,563 4 Colombia 771 653 0,846 5 India 367 318 0,845 Tổng cộng 3.org, 2013 [33] Phân tích số liệu về tình hình tiêu thụ cà phê chè của 5 quốc gia đứng đầu thế giới (bảng 1.4) cho thấy: tổng sản lượng cà phê chè xuất khẩu của 5 quốc gia đứng đầu thế giới đạt gần 3,5 triệu tấn chiếm 39,56% tổng sản lượng cà phê xuất khẩu của thế giới. Brazil là quốc gia có sản lượng cà phê chè xuất khẩu lớn nhất thế giới trong nhiều năm gần đây, sản lượng cà phê chè xuất khẩu nhiều nhất trong năm 2011 (2,58 triệu tấn), năm 2013 là 2,37 triệu tấn nhân, chiếm 26,94% sản lượng cà phê của thế giới, do giá bán cà phê chè cao hơn so với cà phê vối nên giá trị kim ngạch xuất khẩu cà phê chè đem lại cho Brazil cao hơn so với các quốc gia khác và chi phối giá cà phê trên thị trường thế giới. Việt Nam có sản lượng cà phê chè xuất khẩu thấp nhất trong những năm gần đây, sản lượng cà phê chè xuất khẩu nhiều nhất trong năm 2013 là 70 ngàn tấn do diện tích trồng cà phê chè ở nước ta ít hơn rất nhiều so với các nước khác (31 ngàn ha).
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Bảng 1. Sản lượng cà phê chè xuất khẩu của 5 quốc gia đứng đầu thế giới niên vụ (2009 – 2013) (Đơn vị: 1.000 tấn) STT Quốc gia 2009/10 2010/11 2011/12 2012/13 1 Brazil 2.370 2 Indonesia 82 78 102 99 3 Mexico 228 246 267 216 4 Colombia 511 459 595 724 5 Việt Nam 39 48 54 70 Tổng cộng 3.org, 2013 [34] Như vậy, với tốc độ phát triển mạnh mẽ, cà phê không còn đơn thuần là một sản phẩm nông nghiệp thuần túy, cà phê đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Trên thế giới đã công nhận rộng rãi thuật ngữ “coffee industry” – ngành cà phê; với tổng giá trị giao dịch toàn cầu là khoảng 100 tỷ đô la chỉ đứng sau dầu hỏa trong danh sách các loại hàng hóa cơ bản có giá trị giao dịch toàn cầu cao nhất. Không chỉ đóng góp về giá trị nông sản chế biến mà cà phê còn là yếu tố có tác động lớn đến các lĩnh vực: tài chính, thương mại, đầu tư, du lịch, văn hóa… Cho đến nay, cà phê vẫn là một thức uống phổ biến, được con người sản xuất và tiêu thụ nhiều hơn so với Chè và Coca cola.
Đặc biệt là giới trẻ có xu hướng sử dụng nhiều hơn so với trước đây. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm và có diện tích đất đỏ Bazan khá lớn nên có thể xem là quốc gia có điều kiện thuận lợi để sản xuất cà phê, đặc biệt là cà phê vối. Trong những năm gần đây, cà phê trở thành mặt hàng xuất khẩu chính, có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội của nước ta. Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những vùng chuyên canh cây cà phê góp phần xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội cho hàng chục triệu người tại Việt Nam (Đoàn Triệu Nhạn, 1999) [9].
Đầu thế kỷ 20, cây cà phê đã được trồng ở một số đồn điền người Pháp tại Phủ Quỳ (Nghệ An) và một số nơi ở Tây Nguyên với diện tích không quá vài nghìn ha. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Năm 1930, Việt Nam có khoảng 7.000 ha cà phê. Trong giai đoạn 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh phía Bắc, khi cao nhất (năm 1964 - 1966) đã đạt tới hơn 20. Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, tổng diện tích cà phê Việt Nam chỉ còn khoảng 19.
Giai đoạn 1995 - 1999 giá cà phê ở mức cao trên 1.200 đô la/tấn, đặc biệt năm 2005 đạt đỉnh cao bình quân 2.640 đô la/tấn đã kích thích người dân mở rộng diện tích rất nhanh từ 186 ngàn ha năm 1995 lên gần 400 ngàn ha năm 1999 (tăng 2,1 lần). Riêng năm 1997 đạt 24,1 tạ/ha, sản lượng bình quân đạt 387 ngàn tấn/năm. Sản lượng xuất khẩu bình quân đạt 406 ngàn tấn và giá trị xuất khẩu đạt bình quân là 432 triệu đô la/năm. Giai đoạn 2000 - 2005 giá cà phê giảm và ở mức thấp dưới 1.000 đô la/tấn, thậm chí các năm 2001, 2002 chỉ đạt bình quân dưới 500 đô la/tấn, diện tích cà phê giảm dần từ 562 ngàn ha năm 2000 xuống 488 ngàn ha năm 2006, giảm 73 ngàn ha, bình quân giảm 12 ngàn ha/năm.
Người sản xuất hạn chế đầu tư thâm canh nên năng suất giảm mạnh bình quân chỉ đạt 16,7 tạ/ha, giảm 5,3 tạ/ha, sản lượng bình quân đạt 784 ngàn tấn, tăng 400 ngàn tấn gấp 2 lần so bình quân giai đoạn 1995-1999. Sản lượng xuất khẩu bình quân đạt 814 ngàn tấn, giá trị xuất khẩu đạt bình quân 485 triệu đô la/năm tăng 12% so với giai đoạn trước. Giai đoạn 2006 - 2009, mặc dù Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo giữ ổn định diện tích nhưng do giá cà phê tăng trở lại và đạt mức trên 2.