ĐẶT VẤN ĐỀ Ngô (Zea mays L.) là cây lương thực có giá trị dinh dưỡng cao, trong thân, lá, nhất là hạt ngô có chứa tương đối đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho người và gia súc. Vì vậy ngô có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và trong chăn nuôi. Ngày nay nhiều nước ở Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi vẫn sử dụng ngô làm lương thực chính. Nếu như ở châu Âu khẩu phần ăn cơ bản là bánh mỳ, khoai tây, sữa; Châu Á là cơm (gạo), cá, rau (canh) thì ở Châu Mỹ Latinh là bánh ngô, đậu đõ và ớt.Vì vậy, trên phạm vi toàn thế giới có thể nói ngô vẫn mãi mãi là cây lương thực rất quan trọng, vì ngô rất phong phú về các chất dinh duỡng.
Việc sử dụng ngô làm lương thực rất da dạng, phụ thuộc vào vùng địa lý và tập quán của mỗi quốc gia. Một số nước Ðông Âu sử dụng ngô làm lương thực cho người dưới dạng bánh đúc ngô (mamaliga của Romania…). Một số nuớc Châu Á ăn ngô dưới dạng bánh hoặc bánh đúc như mèn mén của dân tộc vùng cao Việt Nam. Bên cạnh các dạng sử dụng ngô khác nhau, còn có những cách dùng rất giống nhau trên khắp thế giới như ngô luộc, ngô rang, bỏng ngô…(@2019Ngô sinh khối-Kỹ thuật canh tác, thu hoạch và chế biến phục vụ chăn nuôi(TS.Lê Quý Kha-TS.Lê Quý Tường) Ngô bản địa được trồng trọt lâu dài dưới điều keienj tự nhiên và chọn lọc của con người ở các môi trường khác nhau, văn hoá khác nhau.
Kết quả đã phát triển được các giống ngô bản địa thích nghi vói điều kiện đặc thù và phù hợp với sử dụng của con người. Tuy nhiên nguồn gen giống bản địa có những hạn chế là năng suất thấp, cao cây và thời gian sinh trưởng dài (Ruiz De Galarret and Alvarez, 2001). Lượng ngô tiêu dùng sẽ tăng 16% vào năm 2027 (FAO, 2018), trong đó ngô dùng làm thức ăn chăn nuôi sẽ tăng từ 56% lên 58% vào năm 2027, chủ yếu tăng do nhu cầu thức ăn chăn nuôi ở các nước đang phát triển. Riêng Châu Á, tỷ lệ ngô làm thức ăn chăn nuôi sẽ chiếm khoảng 70% ( Prasanna, 2018 ).
Trên thế 1 giới dùng ngô là thức ăn chăn nuôi, trong đó các nước phát triển có tỷ lệ dùng ngô làm thức ăn chăn nuôi cao, một số nước có tỷ lệ rất cao như: Mỹ, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan. Nhu cầu về thức ăn thô xanh cho ngành chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay rất lớn nhưng tổng diện tích đất giành để trồng thức ăn thô xanh (bao gồm các loại cỏ chăn nuôi, ngô sinh khối và các cây thức ăn thô xanh khác….) cho gia súc nhai lại chỉ chiếm khoảng 2,0% diện tích đất gieo trồng của cả nước. Theo ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi “Dựa trên định mức kinh tế kỹ thuật trong chăn nuôi gia súc ăn cỏ, các chuyên gia cho rằng cần phải có tổng diện tích trồng cây thức ăn thô xanh vào năm 2025 lên gần 500 ngàn ha mới đủ tổng lượng thức ăn thô xanh (khoảng 43 triệu tấn) cho đàn gia súc ăn cỏ và sản phẩm thịt, sữa của chúng như mục tiêu phát triển đàn gia súc lớn (2.445 ngàn con trâu, 6.254 ngàn con bò thịt, 514 ngàn con bò sữa và 3.400 ngàn con dê). Theo đánh giá của nhiều nhà chuyên môn và doanh nghiệp chăn nuôi, Việt Nam vẫn chưa thực sự có được giống ngô chuyên dụng để sản xuất sinh khối, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu cả về sinh trưởng và hàm lượng các chất dinh dưỡng.
Việc sử dụng giống ngô sản xuất sinh khối hiện nay ở nước ta theo đó mới chỉ dựa vào việc lựa chọn các giống ngô lấy hạt, đồng thời mang các đặc tính tốt để sản xuất sinh khối. Xuất phát từ những thực tiễn đó, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã và đang chú trọng đến nghiên cứu tạo giống ngô sinh khối năng suất, chất lượng phục vụ thị trường Việt Nam. Dưới sự hướng dẫn của GS.TS Vũ Văn Liết, chúng tôi thực hiện đề tài “ Đánh giá khả năng kết hợp của các dòng tự phối cho chọn tạo giống ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi gia súc nhai lại tại Gia Lâm – Hà Nội” nhằm xác định được các dòng ưu tú phục vụ cho công tác chọn tạo giống ngô sinh khối ưu thế lai.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1.1 Mục đích Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc dòng ngô sinh khối có khả năng kết hợp cao phục vụ cho công tác tạo giống ngô sinh khối ưu thế lai cho năng suất cao và chất lượng tốt.2 Yêu cầu Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển các dòng bố mẹ và tổ hợp lai trong điều kiện vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội. Đánh giá khả năng chống chịu đồng ruộng của các dòng và tổ hợp lai.
Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng và tổ hợp ngô sinh khối lai trong điều kiện vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của các tổ hợp ngô tẻ lai vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội. Xác định khả năng kết hợp riêng của 6 dòng ngô sinh khối. 3 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ NGÔ DÙNG TRONG CHĂN NUÔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngành sản xuấ t ngô trên thế giới tăng liên tu ̣c từ đầ u thế kỷ 20 đến nay, nhấ t là trong hơn 40 năm gầ n đây.
Ngô là cây trồ ng có tố c đô ̣ tăng trưởng về diện tích, năng suất và sản lượng, năm 2017 đã có tốc độ tăng vượt qua lúa mì và lúa nước bình quân toàn cầu như bảng sau: Bảng 1: Phân bố diê ̣n tích, sản lươṇ g, năng suấ t ngô trên thế giới từ năm 1990 - 2017 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn) 1990 131,04 3,69 483,62 2000 136,93 4,32 592,03 2010 164,02 5,19 851,67 2011 171,20 5,17 886,68 2012 179,80 4,86 875,03 2013 186,96 5,43 1.134,74 (Nguồ n: FAOSTAT 2019) Qua bảng 1 cho thấy kết quả sản xuất ngô trên thế giới có xu hướng tăng trưởng liên tục qua các năm cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 1990, năng suất ngô trung bình thế giới mới chỉ đạt 3,69 tấn/ha, sản lượng đạt 483,62 triệu tấn. Nhưng đến năm 2017, năng suất ngô đạt 5,75 tấn/ha, gấp 1,56 lần và sản lượng đạt 1.134,74 triệu tấn , gấp 2,35 lần so với năm 1990, trong khi diện 5 tích ngô tăng không đáng kể (1,5 lần), từ 131,04 triệu ha năm 1990 tăng lên 197,18 năm 2017. Năng suất ngô tăng nhanh trong những năm qua là thành quả của việc phát hiện ưu thế lai trong chọn tạo giống cây trồng mà ngô là đối tượng thành công điển hình trong số các cây trồng lương thực, đồng thời không ngừng cải tiến kỹ thuật canh tác (Phan Xuân Hào, 2008).
Có thể thấy, việc chọn tạo ra các giống ngô mới và những bước tiến cao trong kỹ thuật canh tác của nửa cuối thế kỷ trước dến nay đã làm thay đổi căn bản ngành sản xuất ngô trên thế giới. Đồng thời góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Hiện nay, tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới cũng đã có nhiều thay đổi, được thể hiện cụ thể qua bảng 2. 6 Bảng 2: Tình hình sản xuất ngô của 1 số nước trên thế giới năm 2017 Nước Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) ( tấn/ha) (triệu tấn) Mỹ 33,46 11,08 370,96 Trung Quốc 42,42 6,10 259,23 Brazil 17,39 5,61 97,72 Mexico 7,32 3,78 27,76 Indonesia 5,37 5,20 27,95 Ấn Độ 9,21 3,11 28,72 Thái Lan 1,10 4,48 4,96 Argentina 6,53 7,57 49,47 Canada 1.33 10,52 14,09 Chile 0,94 11,22 1,06 (Nguồ n: FAOSTAT 2019) Qua bảng trên ta thấy, Mỹ là nước dẫn đầu thế giới về sản lượng ngô năm 2017, với diện tích 33,46 triệu ha chiếm khoảng 16,90% tổng diện tích canh tác ngô trên thế giới.
Đứng thứ hai là Trung Quốc với diện tích trồng ngô là 42,42 triệu ha, chiếm khoảng 21,51% diện tích trồng ngô trên thế giới, đứng thứ 3 là Brazil với 17,39 triệu ha, chiếm khoảng 8,81% diện tích thế giới. Đây là ba nước đứng đầu về diện tích gieo trồng nhưng về năng suất thì Chile là nước đạt 7 năng suất bình quân cao nhất thế giới với 11,22 tấn/ha, gấp khoảng 2,01 lần so với năng suất ngô trung bình trên toàn thế giới.2 Tiêu thụ ngô trên thế giới Sản xuất và tiêu thụ ngô sinh khối dùng trong chăn nuôi trên thế giới được trình bày ở Bảng 3. Năm 2012, trên thế giới, diện tích trồng ngô lấy cây xanh phục vụ chăn nuôi đạt 1,152 triệu ha, sản lượng 108,748 triệu tấn; đến năm 2016 diện tích tăng lên là 1,416 triệu ha, sản lượng 170,911 triệu tấn, tăng 62,163 triệu tấn so với năm 2012. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô cây xanh (thân, lá, bắp non) phục vụ chăn nuôi trên thế giới giai đoạn 2012 – 2016 Năm Diện tích (triệu ha) Sản lượng (triệu tấn) 2012 1,152 108,748 2013 1,140 110,124 2014 1,202 119,118 2015 1,209 120,175 2016 1,416 170,911 Nguồn: FAOSTAT,2017.
Theo báo cáo của QY Research về thị trường thương mại hạt giống ngô sinh khối toàn cầu 2018 (Pioneer et al., 2018), căn cứ các tiêu chí về giá trị & khối lượng hạt giống thương mại, dựa trên số liệu loại sử dụng và khu vực của các công ty tham gia chính. Ðó là các công ty quan trọng hàng đầu ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Ðông Nam Á, Ấn Ðộ và các khu vực khác (Trung Ðông và Châu Phi, Trung & Nam Mỹ). Cụ thể là các công ty như DuPont Pioneer, Monsanto, Syngenta, KWS (KWS UK. Ltd, 2017) và 8 Limagrain.
Hiện nay, DuPont Pioneer là công ty hàng đầu thế giới, chiếm giữ 26,36% thị phần hạt giống ngô sinh khối toàn cầu trong năm 2016. Tiêu thụ toàn cầu đối với hạt giống ngô sinh khối tăng từ 875,45 ngàn tấn vào năm 2012 lên 1.070,06 ngàn tấn vào năm 2016, với tốc dộ tăng hàng năm hơn 5,15%. Thị truờng hạt giống ngô sinh khối tăng lên chủ yếu do nhu cầu tăng lên của việc trồng ngô sinh khối ở trang trại, chiếm gần 62,84% tổng lượng tiêu thụ hạt giống ngô sinh khối trên toàn cầu (USDA, 2018). Hạt giống ngô sinh khối chủ yếu gồm 2 loại: ngô biến đổi gen (GMO) và ngô không biến đổi gen, trong đó GMO chiếm khoảng 67,74% thị trường hạt giống ngô sinh khối trong năm 2016.