Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngô (Zea mays L.) là cây lương thực và thức ăn chăn nuôi quan trọng trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Theo dự báo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO, 2018), nhu cầu tiêu dùng ngô toàn cầu sẽ tăng 16% vào năm 2027, trong đó tỷ lệ ngô sử dụng làm thức ăn chăn nuôi tăng từ 56% lên 58%, riêng khu vực Châu Á chiếm khoảng 70% (Prasanna, 2018). Tại Việt Nam, nhu cầu thức ăn thô xanh phục vụ ngành chăn nuôi gia súc nhai lại rất lớn, tuy nhiên tổng diện tích đất dành để trồng cây thức ăn thô xanh (bao gồm các loại cỏ chăn nuôi, ngô sinh khối và các cây thức ăn thô xanh khác) chỉ chiếm khoảng 2,0% tổng diện tích đất gieo trồng cả nước. Theo định hướng phát triển của Cục Chăn nuôi, đến năm 2025 cần khoảng 500 ngàn ha diện tích trồng cây thức ăn thô xanh mới đáp ứng đủ nhu cầu 43 triệu tấn thức ăn thô xanh cho tổng đàn gia súc ăn cỏ (2.445 ngàn con trâu, 6.254 ngàn con bò thịt, 514 ngàn con bò sữa và 3.400 ngàn con dê).

Mặc dù nhu cầu rất cấp thiết, sản xuất trong nước vẫn chưa có nhiều giống ngô chuyên dụng cho mục đích thu nhận sinh khối đáp ứng đồng thời các tiêu chí về tốc độ sinh trưởng, sinh khối thân lá và hàm lượng dinh dưỡng. Việc sản xuất ngô sinh khối thực tế chủ yếu vẫn dựa trên việc tuyển chọn từ các giống ngô lấy hạt hiện có. Trước thực trạng đó, đề tài “Đánh giá khả năng kết hợp của các dòng tự phối cho chọn tạo giống ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi gia súc nhai lại tại Gia Lâm, Hà Nội” được thực hiện nhằm xác định các dòng bố mẹ ưu tú phục vụ công tác chọn tạo giống ngô lai sinh khối năng suất cao và chất lượng tốt.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá khả năng kết hợp và chọn lọc dòng ngô sinh khối có khả năng kết hợp cao phục vụ cho công tác tạo giống ngô sinh khối ưu thế lai cho năng suất cao và chất lượng tốt.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng bố mẹ và tổ hợp lai trong điều kiện vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội.
    2. Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận trên đồng ruộng của các dòng bố mẹ và tổ hợp lai trong điều kiện vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội.
    3. Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng bố mẹ và tổ hợp lai trong điều kiện vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội.
    4. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của các tổ hợp ngô lai sinh khối trong phòng thí nghiệm.
    5. Xác định khả năng kết hợp (khả năng kết hợp chung và khả năng kết hợp riêng) của 6 dòng ngô sinh khối.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Vật liệu nghiên cứu:
    • 06 dòng ngô bố mẹ tự phối đời S7 (ký hiệu từ D1 đến D6) do Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng – Học viện Nông nghiệp Việt Nam cung cấp.
    • 15 tổ hợp ngô lai (THL1 đến THL15) thu được từ phép lai luân giao diallel không thuận nghịch giữa 6 dòng bố mẹ.
    • 01 giống đối chứng: giống ngô sinh khối SSC586 của Công ty Cổ phần Giống cây trồng Miền Nam (ký hiệu THL16).
  • Phạm vi không gian: Khu thí nghiệm đồng ruộng thuộc Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Vụ Xuân 2021 (từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2021; ngày gieo hạt thí nghiệm: 19/02/2021).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở di truyền học số lượng và lý thuyết chọn giống cây trồng ưu thế lai:

  • Khung lý thuyết và quy chuẩn kỹ thuật:
    • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô: QCVN 01-56:2011/BNNPTNT và QCVN 01:66-2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
    • Phép phân tích luân giao diallel theo Mô hình 2 của Griffing (1956) (gồm các dòng bố mẹ và các con lai F1 không xét lai thuận nghịch) và mô hình toán học Gardner - Eberhart (1966): $Y_{ijk} = \mu + g_i + g_j + s_{ij} + e_{ijk}$, trong đó $\mu$ là trung bình chung, $g_i, g_j$ là hiệu ứng khả năng kết hợp chung (GCA) của dòng bố mẹ thứ $i$ và thứ $j$, $s_{ij}$ là hiệu ứng khả năng kết hợp riêng (SCA) của tổ hợp lai giữa dòng $i$ và $j$, $e_{ijk}$ là sai số thực nghiệm.
    • Lý thuyết ưu thế lai (Heterosis) của G.H. Shull (1913) và phân loại biểu hiện ưu thế lai theo Trần Hồng Uy (1985). Đánh giá ưu thế lai trung bình ($H_{MP}$), ưu thế lai thực ($H_B$) và ưu thế lai tiêu chuẩn ($H_S$).
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng:
    • Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại (Gomez, 1984).
    • Quy mô gồm 66 ô thí nghiệm; diện tích mỗi ô là 14 m² (kích thước 5 m x 2,8 m), gồm 4 hàng gieo liên tiếp dài 5 m. Mật độ gieo trồng: hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 25 cm, tương đương 5,7 vạn cây/ha. Tổng diện tích khu vực thí nghiệm là 2,5 sào Bắc Bộ.
    • Kỹ thuật chăm sóc và phân bón: Mức phân bón cho 1 ha gồm 160 kg N + 80 kg P₂O₅ + 80 kg K₂O. Đối với 1 sào Bắc Bộ (360 m²), phân bón được phân bổ: bón lót 15 kg Supe lân + 3 kg đạm Urê; bón thúc đợt 1 khi cây đạt 5 lá gồm 5 kg Urê + 2,5 kg Kali clorua; bón thúc đợt 2 khi cây xoắn nõn gồm 5 kg Urê + 3,5 kg Kali clorua.
    • Phòng trừ dịch hại: Sử dụng thuốc hạt hoạt chất Diazinon (1 kg/sào) trừ sâu hại trong đất; Chlorantraniliprole, Lufenuron, Emamectin, Spinetoram phòng trừ sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda); Metalaxyl, Mancozeb, Hexaconazole phòng trừ bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani) và gỉ sắt.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
    • Hàm lượng vật chất khô (VCK %): Sấy mẫu thức ăn thô xanh ở nhiệt độ 105°C đến khối lượng không đổi, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sau sấy và trước sấy.
    • Hàm lượng protein thô: Phân tích theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4328-2:2011 (ISO 5983-2:2009).
  • Phương pháp xử lý thống kê sinh học:
    • Phân tích phương sai (ANOVA) bằng phần mềm Cropstat 7.2 và IRRISTAT 5.0.
    • Tính toán các giá trị khả năng kết hợp và ưu thế lai bằng chương trình thống kê sinh học của Nguyễn Đình Hiền (1995, 2000).
    • Phân tích khoảng cách di truyền bằng phần mềm NTSYS-pc phiên bản 2.1 (F.J. Rohlf, 2000).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi đại gia súc tại Việt Nam đang phát triển mạnh nhưng thiếu hụt trầm trọng nguồn thức ăn thô xanh chất lượng cao. Khóa luận xác lập mục đích đánh giá khả năng kết hợp của 6 dòng ngô tự phối S7 và 15 tổ hợp lai nhằm tạo vật liệu cho chọn giống ngô sinh khối ưu thế lai, đồng thời cụ thể hóa thành 5 nội dung nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng và phân tích trong phòng thí nghiệm.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hệ thống số liệu sản xuất và nghiên cứu chọn giống ngô trong nước và quốc tế:

  • Tình hình thế giới: Diện tích sản xuất ngô toàn cầu tăng từ 131,04 triệu ha (năm 1990) lên 197,18 triệu ha (năm 2017), năng suất bình quân tăng từ 3,69 tấn/ha lên 5,75 tấn/ha, đưa sản lượng từ 483,62 triệu tấn lên 1.134,74 triệu tấn (FAOSTAT, 2019). Mỹ dẫn đầu thế giới năm 2017 với sản lượng 370,96 triệu tấn (diện tích 33,46 triệu ha, năng suất 11,08 tấn/ha), Trung Quốc đạt 259,23 triệu tấn (42,42 triệu ha), trong khi Chile có năng suất bình quân cao nhất đạt 11,22 tấn/ha. Diện tích trồng ngô sinh khối toàn cầu giai đoạn 2012–2016 tăng từ 1,152 triệu ha lên 1,416 triệu ha, sản lượng tăng từ 108,748 triệu tấn lên 170,911 triệu tấn (FAOSTAT, 2017). Giá trị thị trường hạt giống ngô sinh khối đạt 5.749 triệu USD năm 2016 và ước tính đạt 8.400 triệu USD vào năm 2025 (USDA, 2018).
  • Tình hình tại Việt Nam: Giai đoạn 1990–2017, diện tích ngô tăng 2,6 lần, năng suất tăng 3,0 lần và sản lượng tăng 7,6 lần; tỷ lệ diện tích trồng bằng giống ngô lai tăng từ 0,1% (năm 1991) lên 95% (năm 2017). Tổng lượng ngô tiêu thụ tăng từ 6.700 nghìn tấn năm 2010 lên hơn 14.000 nghìn tấn năm 2017. Giống ngô sinh khối LCH9 đã phát triển hơn 10.712 ha tại các vùng Sơn La, Lâm Đồng, Đồng Nai với năng suất sinh khối đạt 45–60 tấn/ha và hàm lượng protein thô đạt 11,3%/VCK.
  • Nghiên cứu về khả năng kết hợp: Tổng quan các công trình chọn giống ngô lai của Reza Divan và cs. (2013), Wende Abera Mengesha (2013), Zoran và cs. (2012), Nguyễn Việt Long và cs. (2008), Vũ Văn Liết và cs. (2011), Ngô Minh Tâm và cs. (2017) về việc sử dụng mô hình Griffing để xác định hiệu ứng GCA và SCA trên các tính trạng năng suất hạt, năng suất chất xanh và chất lượng dinh dưỡng.

Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết danh mục 6 dòng tự phối đời S7 (D1 đến D6), 15 tổ hợp lai F1 và đối chứng SSC586. Thiết kế thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 3 lần nhắc lại, 66 ô thí nghiệm, mật độ 5,7 vạn cây/ha. Quy định phương pháp theo dõi 22 nhóm chỉ tiêu nông sinh học, thời gian sinh trưởng, sâu bệnh hại (sâu đục thân Chilo partellus, sâu đục bắp Heliothis zea, rệp cờ Rhopalosiphum maidis, bệnh đốm lá lớn Helminthosporium turcicum, bệnh khô vằn Rhizoctonia solani...), các chỉ tiêu cấu thành năng suất và chất lượng sinh khối theo QCVN 01-56:2011/BNNPTNT và TCVN 4328-2:2011.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương này tập hợp các kết quả thực nghiệm đạt được trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội:

  • Thời gian sinh trưởng: Toàn bộ vật liệu mọc đều sau 7–8 ngày gieo. 6 dòng bố mẹ có thời gian sinh trưởng 94–102 ngày (D3 dài nhất 102 ngày, D6 ngắn nhất 94 ngày). 15 tổ hợp lai có thời gian sinh trưởng 98–105 ngày, thuộc nhóm chín sớm, ngắn hơn hoặc tương đương đối chứng SSC586 (106 ngày). THL12 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (98 ngày), THL3 dài nhất (105 ngày).
  • Thời gian thu hoạch sinh khối (chín sáp): Các tổ hợp lai bắt đầu chín sáp từ 83–90 ngày sau gieo, sớm hơn giống đối chứng SSC586 (91 ngày). THL12 chín sáp sớm nhất (83 ngày), THL3 đạt 90 ngày. Thu hoạch sinh khối ở giai đoạn chín sáp giúp rút ngắn chu kỳ canh tác từ 14 đến 15 ngày so với thu hoạch hạt khô.
  • Động thái tăng trưởng và chiều cao cây: Giai đoạn 30 ngày đầu sau gieo, cây tăng trưởng chiều cao chậm (đo đạt 30–45 cm ở ngày thứ 20); từ sau 30 ngày cây vươn lóng nhanh, đạt trên 140 cm ở các tổ hợp lai và trên 100 cm ở dòng bố mẹ vào ngày thứ 50. Chiều cao cây cuối cùng của 6 dòng bố mẹ đạt 146,6–170,8 cm (D6 thấp nhất 146,6 cm, D3 cao nhất 170,8 cm). Chiều cao thân của 15 tổ hợp lai dao động từ 172,0–202,3 cm (đối chứng SSC586 đạt 185,3 cm). THL3 đạt chiều cao cao nhất (202,3 cm; cao đóng bắp 100,2 cm; trạng thái cây điểm 1 - tốt). Có 4 tổ hợp lai (THL3, THL8, THL10, THL11) đạt tổng chiều cao cây trên 220 cm (tính cả bông cờ), đạt chuẩn hình thái của giống ngô sinh khối.
  • Đánh giá khả năng kết hợp: Phân tích phương sai ANOVA cho thấy sự sai khác có ý nghĩa thống kê về hiệu ứng GCA và SCA đối với các chỉ tiêu năng suất chất xanh (NSCX), hàm lượng vật chất khô (HLVCK), năng suất chất khô (NSCK) và năng suất hạt khô (NSHK).

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về đặc tính sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất sinh khối và giá trị khả năng kết hợp của 6 dòng tự phối; đề xuất các dòng bố mẹ có hiệu ứng GCA cao và các tổ hợp lai ưu tú (tiêu biểu như THL3) để tiếp tục khảo nghiệm diện rộng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã thu thập và xử lý hệ thống dữ liệu thực nghiệm về thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái thân lá và các chỉ tiêu năng suất của 6 dòng bố mẹ và 15 tổ hợp lai trong vụ Xuân 2021:

Ký hiệu vật liệu Thời gian từ gieo đến mọc (ngày) Thời gian trỗ cờ (ngày) Thời gian phun râu (ngày) Chênh lệch trỗ cờ - phun râu (ngày) Thời gian bắt đầu chín sáp (ngày) Thời gian sinh trưởng (ngày) Chiều cao cây (cm) Chiều cao đóng bắp (cm) Trạng thái cây (điểm)
THL1 7 66 68 2 85 100 177,0 83,3 2
THL2 7 67 69 2 87 102 183,5 94,1 2
THL3 7 72 72 0 90 105 202,3 100,2 1
THL4 7 67 68 1 87 102 176,3 82,9 2
THL5 7 66 68 2 86 101 172,0 80,1 2
THL6 7 72 72 0 88 103 176,4 78,6 2
THL7 7 66 67 1 87 102 - - -
THL8 7 68 69 1 87 102 - - -
THL9 7 66 66 0 88 103 - - -
THL10 7 72 72 0 88 103 - - -
THL11 7 70 72 2 88 103 - - -
THL12 7 63 63 0 83 98 - - -
THL13 7 67 69 2 86 101 - - -
THL14 7 67 67 0 85 100 - - -
THL15 7 67 71 4 86 101 - - -
SSC586 (đ/c) 8 75 75 0 91 106 185,3 - -
D1 7 67 69 2 84 99 - - -
D2 7 66 66 0 80 96 - - -
D3 7 72 72 0 87 102 170,8 - -
D4 7 66 66 0 80 96 - - -
D5 7 66 66 0 80 96 154,1 - -
D6 7 64 63 -1 80 94 146,6 - -
CV (%) - 4,3 4,4 - 2,0 1,4 - - -
LSD₀.₀₅ - 3,2 3,3 - 2,3 2,0 - - -

(Ghi chú: Ký hiệu "-" biểu thị các ô số liệu chi tiết nằm ở các trang tiếp theo trong bảng gốc của văn bản).

Đóng góp và giải pháp kiến nghị của tác giả

  • Đóng góp khoa học: Xác định được các thông số di truyền định lượng về khả năng kết hợp chung (GCA) của 6 dòng thuần đời S7 và khả năng kết hợp riêng (SCA) của 15 tổ hợp lai luân giao theo mô hình Griffing 2 đối với các tính trạng sinh khối và hạt. Cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn cặp lai bố mẹ có hiệu ứng tương tác gen cộng tính và không cộng tính cao.
  • Đóng góp thực tiễn: Phát hiện các tổ hợp lai có thời gian sinh trưởng ngắn (83–90 ngày đến giai đoạn thu sinh khối), chiều cao cây vượt trội (>220 cm khi tính cả cờ ở THL3, THL8, THL10, THL11), sinh trưởng khỏe và khả năng chống chịu tốt. Đặc biệt, tổ hợp lai THL3 (D1 x D4) đạt chiều cao cây 202,3 cm và chiều cao đóng bắp 100,2 cm, cao hơn đối chứng SSC586 ở mức tin cậy 95%.
  • Kiến nghị: Tiếp tục sử dụng các dòng tự phối có KNKH chung cao trong các chương trình lai tạo giống; đưa các tổ hợp lai triển vọng vào khảo nghiệm sản xuất nhiều vụ và nhiều điểm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thí nghiệm đồng ruộng chỉ được thực hiện trong phạm vi một vụ gieo trồng duy nhất (vụ Xuân 2021) tại một địa điểm (Gia Lâm, Hà Nội). Dữ liệu thu được chưa phản ánh đầy đủ tác động tương tác giữa kiểu gen và môi trường (GEI) qua các mùa vụ có điều kiện khí hậu khác nhau (như vụ Thu Đông hoặc vụ Đông) và trên các vùng sinh thái đất đai khác nhau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo nghiệm mở rộng các tổ hợp lai có triển vọng (đặc biệt là THL3, THL8, THL10, THL11) qua nhiều vụ và tại nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau để đánh giá tính ổn định di truyền của năng suất sinh khối và năng suất hạt.
    • Phân tích chi tiết hơn các chỉ tiêu dinh dưỡng của sinh khối ủ chua (như tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô in vitro, hàm lượng xơ trung tính NDF, xơ axit ADF) và tiến hành thử nghiệm khẩu phần ăn thực tế trên đàn bò sữa, bò thịt.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học: Ngành Di truyền và Chọn giống cây trồng, Nông học, Khoa học cây trồng tại các trường đại học nông nghiệp tham khảo về phương pháp thiết kế thí nghiệm luân giao diallel (Griffing 2), phương pháp xử lý số liệu ANOVA, tính toán hiệu ứng GCA, SCA và các hệ số ưu thế lai ($H_{MP}, H_B, H_S$).
  • Cán bộ nghiên cứu và chọn tạo giống: Sử dụng thông tin về đặc tính nông sinh học và khả năng kết hợp của 6 dòng tự phối S7 (D1 đến D6) làm vật liệu khởi đầu cho các chương trình phát triển giống ngô sinh khối ưu thế lai ngắn ngày phục vụ cơ cấu luân canh.
  • Các tổ chức sản xuất và doanh nghiệp chăn nuôi: Tham khảo quy trình kỹ thuật canh tác ngô sinh khối (mật độ 5,7 vạn cây/ha, chế độ phân bón 160 N + 80 P₂O₅ + 80 K₂O, các loại thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ sâu keo mùa thu) và xác định thời điểm thu hoạch sinh khối tối ưu ở giai đoạn chín sáp (83–90 ngày sau gieo).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng mô hình di truyền nào để đánh giá khả năng kết hợp của các dòng bố mẹ?
Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích luân giao diallel theo Mô hình 2 của Griffing (1956), bao gồm 6 dòng bố mẹ tự phối S7 và 15 tổ hợp lai F1 (không xét phép lai thuận nghịch), kết hợp với mô hình toán học của Gardner và Eberhart (1966) nhằm ước lượng phương sai và hiệu ứng khả năng kết hợp chung (GCA) của dòng và khả năng kết hợp riêng (SCA) của từng cặp lai.

2. Thời điểm thu hoạch sinh khối của các tổ hợp ngô lai trong vụ Xuân 2021 được xác định khi nào?
Thời điểm thu hoạch sinh khối được xác định khi cây ngô chuyển từ giai đoạn chín sữa sang bắt đầu chín sáp. Trong thí nghiệm vụ Xuân 2021, các tổ hợp lai bắt đầu chín sáp sau khi gieo từ 83 đến 90 ngày (sớm hơn giống đối chứng SSC586 đạt 91 ngày), rút ngắn thời gian thu hoạch từ 14 đến 15 ngày so với thu hoạch lấy hạt khô (98–105 ngày).

3. Tổ hợp lai nào đạt chiều cao thân cây lớn nhất và vượt đối chứng trong thí nghiệm?
Tổ hợp lai THL3 (D1 x D4) đạt chiều cao thân trung bình 202,3 cm và chiều cao đóng bắp 100,2 cm, đạt trạng thái cây điểm 1 (tốt), cao hơn có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95% so với giống đối chứng SSC586 (đạt 185,3 cm).

4. Quy trình phân tích hàm lượng vật chất khô và protein thô trong phòng thí nghiệm được thực hiện ra sao?
Hàm lượng vật chất khô (VCK %) được xác định bằng phương pháp sấy khô mẫu thức ăn xanh thô trong tủ sấy ở nhiệt độ 105°C cho đến khối lượng không đổi. Hàm lượng protein thô được phân tích theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4328-2:2011 (tương đương ISO 5983-2:2009).

5. Mật độ và chế độ phân bón được áp dụng trong thí nghiệm đồng ruộng như thế nào?
Thí nghiệm gieo trồng với khoảng cách hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 25 cm, mật độ 5,7 vạn cây/ha. Liều lượng phân bón cho 1 ha là 160 kg N + 80 kg P₂O₅ + 80 kg K₂O; đối với 1 sào Bắc Bộ (360 m²) gồm 15 kg Supe lân + 3 kg Urê (bón lót), 5 kg Urê + 2,5 kg Kali clorua (thúc đợt 1 ở 5 lá), và 5 kg Urê + 3,5 kg Kali clorua (thúc đợt 2 khi xoắn nõn).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Công Minh đã thực hiện đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu và khả năng kết hợp của 6 dòng ngô tự phối đời S7 cùng 15 tổ hợp lai luân giao theo mô hình Griffing 2 trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu xác định được thời gian thu hoạch ngô sinh khối tối ưu ở giai đoạn chín sáp từ 83 đến 90 ngày sau gieo, đồng thời tuyển chọn được các tổ hợp lai có chiều cao cây và sinh trưởng vượt trội như THL3 (202,3 cm). Đây là công trình thực nghiệm có phương pháp chuẩn xác, cung cấp nguồn dữ liệu di truyền và vật liệu lai tạo có giá trị ứng dụng cao cho công tác chọn giống ngô sinh khối phục vụ ngành chăn nuôi gia súc nhai lại tại Việt Nam.