Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của thành phố Tam kỳ 1. Vị trí địa lí Tam kỳ là thành phố trung tâm tỉnh lị và nằm phía Nam của tỉnh Quảng Nam.
Tọa độ địa lí: 15º34’30’’ vĩ độ Bắc, 108º28’30’’ kinh độ Đông. Phía Nam giáp huyện Núi Thành, phía Bắc giáp huyện Phú Ninh và Thăng Bình, phía Tây giáp huyện Phú Ninh, phía Đông giáp biển Đông. Tam kỳ là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học của tỉnh Quảng Nam, là địa phương có bề dày truyền thống yêu nước và phong trào cách mạng. Hiện nay thành phố Tam kỳ có 13 đơn vị xã, phường (9 phường, 4 xã đó là: Phường Tân Thạnh, Hòa Thuận, An Mỹ, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Phước Hòa, An Phú, Trường Xuân và các xã Tam Ngọc, Tam Thăng, Tam Thanh) với diện tích tự nhiên là 9.263,56 ha; dân số 109.
Điều kiện tự nhiên 1. Địa hình Thành phố có địa hình nhìn chung nghiêng theo hướng Tây Nam và Đông Bắc. Khu vực đô thị của thành phố có địa hình tương đối bằng phẳng ở phía Bắc, phía Đông, phía Nam và có nhiều đồ núi ở phía Tây. Độ dốc trung bình của nội thị từ 2% đến 4%/.
Cao độ trung bình của các khu vực ven sông và khu vực trung tâm thay đổi từ +2,0m đến +4,0m. Điạ hình khu vực phía Tây của thành phố có cao độ > +6,0m và những quả đồi nằm tách biệt có đỉnh ở độ cao đến tới 40m. Thành phố Tam Kỳ có địa hình vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ. Là vùng chuyển tiếp từ dạng đồi núi cao phía Tây, thấp dần xuống vùng đồng bằng, thêm bồi của các con sông trước khi đổ ra biển Đông.
Đất đai có dạng đồi thấp, đồng bằng được tạo thành do bồi tích của sông, biển và quá trình rửa trôi. Hướng dốc chung của địa hình từ Tây sang Đông. Hình chung địa hình từng khu vực bị chia cắt nhiều bởi các sông, suối thuộc lưu vực của sông Trường Giang[18] 1. Khí hậu 3 Thành phố Tam Kỳ nằm trong phân vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa.
Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm: 26ºC, nhiệt dộ trung bình cao nhất: 28-29,7ºC, nhiệt độ trung bình thấp nhất: 21-22ºC, biên độ nhiệt trung bình tháng: 7ºC, độ ẩm trung bình năm: 86%, mùa mưa (tháng 10 đến tháng 12), độ ẩm trung bình tháng 82%. Mùa khô (tháng 2 đến tháng 8), độ ẩm trung bình 75-81%, lượng mưa chỉ chiếm 25-30% lượng mưa cả năm. Lượng mưa tháng trong thời kỳ này chi đạt 25mm, tháng 3 có lượng mưa nhỏ nhất trong năm 12mm.
Mùa mưa chủ yếu tập trung nhiều vào các tháng 10 đến tháng 12, lượng mưa chiếm 70-75% lượng mưa cả năm. Lượng mưa tháng trong thời kỳ này đạt 400mm, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất 434mm. Lượng mưa trung bình năm: 2.010mm, lượng mưa lớn nhất trung bình năm: 3.307mm, lượng mưa nhỏ nhất trung bình năm: 1. Giới thiệu về cây hoa cẩm chướng 1.
Nguồn gốc và phân loại của cây hoa cẩm chướng 1. Nguồn gốc Cẩm chướng là một loài hoa có nhiều màu sắc đẹp, hoa có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải và chuyển vào Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ 20. Thế kỷ III hoa cẩm chướng xuất hiện nhiều ở Châu Âu và sau đó phát triển rộng ra các nước Châu Á và châu Mỹ. Cây được trồng đầu tiên ở miền Bắc châu Âu vào thế kỷ XVI, rồi sau đó được trồng rộng rãi đến miền Bắc nước Mỹ và nhiều nơi khác.
Phân bố chủ yếu ở vùng núi phía Nam châu Âu từ phía Đông Pyrenees đến Carpathians và Balkans, với các giống cây đa dạng ở phía Đông Bắc Trung Quốc, Hàn Quốc và ở hầu hết phía Đông Bắc của nước Nga (Gender, 1994).[8] Những năm gần đây, cẩm chướng được trồng rải rác ở khắp các địa phương trong cả nước. Tất cả giống hoa Cẩm chướng có mặt tại Việt Nam đều nhập từ Hà Lan, Pháp, Đức, Italia, Trung Quốc…(Nguyễn Xuân Linh, 1998). 4 Hoa thường được trồng trong các chậu cảnh đẹp và thường được trồng nhiều ở các công viên, cẩm chướng thích hợp ở nhiều vùng sinh thái khác nhau. Phân loại thực vật Tên khoa học : Dianthus barbatus mixed.
Cây cẩm chướng chùm trồng chậu (Dianthus barbatus mix) 1. Đặc điểm sinh học của cây hoa cẩm chướng Hoa cẩm chướng thuộc họ Caryophyllaceae, đặc điểm là cây có dạng thân thảo, nhỏ, mảnh mai, có màu xanh nhạt, có các đốt ngắn mang lá kép, bé, thân gẫy khúc nhiều, trên mặt lá có ít phấn trắng, hoa nhiều màu sắc. Thân phân nhánh nhiều, có đốt dễ gãy giòn, lá cẩm chướng mọc đối diện với nhau từ các đốt thân. Phiến lá hình lưỡi mác, nhỏ dày, dài, không có răng cưa.
Mặt lá thường nhẵn không có độ bóng. Cây hoa cẩm chướng có bộ rễ chùm phát triển mạnh. Rễ chủ yếu phân bố ở tầng đất mặt có chiều dài từ 15- 20cm, khi vun gốc cây Cẩm chướng sẽ ra rễ phụ ở các đốt.[16] Cây cẩm chướng ưa đất thịt nhẹ, tơi xốp, có nhiều mùn, giàu dinh dưỡng, đất thoát khí, giữ ẩm tốt , đạt yêu cầu sau cơn mưa nước rút nhanh, trời nắng hạn đất không chóng khô. Độ chua đất thích hợp 6 – 7, mùa hè thích hợp những nơi dãi nắng, mát, độ ẩm 60 – 70%, mùa hè yêu cầu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp 10- 25°C.
Hoa có hai dạng là hoa đơn và hoa kép (hoa chùm), hoa đơn mọc riêng lẻ thành từng bông, hoa cẩm chướng đẹp tự nhiên và có mùi thơm thoang thoảng. Quả nang mở, quả hình trụ có một đầu nhọn, trong quả có 5 ngăn hạt, mỗi quả có 300-600 hạt. Hạt nhỏ và nằm bên trong quả có màu đen, hình dẹt và hơi cong, phôi thành vòng bao lấy phôi nhũ. Giá trị của cây hoa Cẩm chướng Hoa Cẩm chướng có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao, có vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng và có những đóng góp to lớn đối với đời sống xã hội.
Cẩm chướng là loại hoa đang được ưa chuộng ở Việt Nam và là cây hoa có hiệu quả kinh tế cao. Trong những năm gần đây thị trường cẩm chướng có sức tiêu thụ lớn bởi sự đa dạng về màu sắc, kiểu dáng, hoa đẹp và rất lâu tàn. Hoa cẩm chướng trồng chậu có nhiều ưu điểm là sản lượng cao, cành hoa nhỏ gọn, hoa có nhiều màu sắc, bắt mắt, dễ vận chuyển. Hoa có thể trồng trong chậu làm hoa cảnh hoặc làm hoa cắt cành tùy theo yêu cầu của người sử dụng.
Đặc biệt hoa Cẩm chướng là loại cây trồng có năng suất cao và giá trị xuất khẩu lớn do vậy cây Cẩm chướng nằm trong cơ cấu chuyển dịch cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, xoa đói giảm nghèo.[20] Ở Châu Á, hoa Cẩm chướng được trồng nhiều ở Trung Quốc, Malaysia. Srilanka…Ở Trung Quốc: Theo Yang Xiaohan, Liugangshu và Zhu Lu (1999) thì ở Trung Quốc hoa Cẩm chướng cùng hoa Hồng là hai loại hoa phổ biến nhất. Cẩm chướng chiếm khoảng 25% tổng sản lượng hoa trên thị trường tại Bắc Kinh, Côn Minh và Thượng Hải. Hầu hết các giống hoa của Trung Quốc được nhập từ Irael, Hà Lan và Đức.
Ở Việt Nam, hoa Cẩm chướng được trồng rỗng rãi ở Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh. Trước đây vào mùa hè, hoa Cẩm chướng chủ yếu phải nhập từ Côn Minh (Trung Quốc) và Hà Lan nhưng vài năm trở lại đây cẩm chướng được trồng từ Đà Lạt, Lào Cai đang chiếm lĩnh thị trường trong nước. Kĩ thuật trồng và chăm sóc cây cẩm chướng 1. Giống và thời vụ - Giống: Hoa cẩm chướng chùm (Dianthus barbatus mixed) - Thời vụ: Cẩm chướng có thể trồng vào mùa hè, nhưng hoa xấu, thời vụ thích hợp chủ yếu là đông xuân, muốn trồng để cho hoa ngày tết thì thường gieo hạt vào khoảng tháng 8, 9 như các giống hoa khác[21] 1.
Gieo hạt 6 - Trộn đất, phân chuồng hoai, trấu hun theo tỉ lệ 1:1:1 - Đổ đất vào khay ươm có nhiều lỗ - Bỏ 2-3 hạt vào mỗi lỗ lấp đất nhẹ và tưới giữ ẩm - Sau khi gieo 4-5 ngày, hạt nảy mầm, Hoa cẩm chướng có bộ rễ dễ bị tổn thương nguyên nhân là do tưới nhiều nước và đất không thoát nước nên tùy theo điều kiện thời tiết mà tưới nhẹ đủ ẩm 1 hoặc 2 lần/ngày. Cấy cây - Cây con ở tại vườn ươm khoảng 25-27 ngày rồi mới được chọn để cấy vào chậu - Chọn những cây giông đạt tiêu chuẩn, đồng đều có bộ rễ tốt dài từ 2-3 cm - Số lá đạt 4-5 lá - Cấy cây cách cây 5-10cm, trồng lấp đất vừa ngang với cổ rễ. - Sau khi trồng phải tưới nước cho cây, thường xuyên kiểm tra để trồng dặm kịp thời - Nên tưới phân chuồng loãng; lượng N:P:K = 1:1:1, tưới thường xuyên 20 ngày/ lần. Chăm sóc cây hoa cẩm chướng - Tùy vào điều kiện thời tiết mà tưới 1-2 lần trên ngày vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối.
Rễ hoa cẩm chướng dễ bị tổn thương nên cần tưới lượng nước vừa phải, tránh bị úng gốc - Khi cây cao 5-7 cm, nếu cảm thấy cây mọc dày thì tỉa thưa để các cây trưởng thành sau có không gian phát triển - Sau khoảng 25-27 ngày cây non đã cứng cáp thì có thể tách ra trồng vào chậu. - Cây phát triển được 4 tuần thì tiến hành tỉa ngọn lần 1 (bẻ ngọn giúp cho các mầm hai bên phát triển và cho ra cành đồng đều) chỉ giữ lại 5-6 cặp lá. Tưới đẫm nước trước khi bẻ ngọn (ngọn giòn dễ bẻ, không làm thân cây bầm dập), sau bẻ ngọn 2 ngày thì tưới nước lại để vết thương khô mặt, hạn chế nhiễm nấm khuẩn. - Bẻ ngọn lần 2 khi cây được 8-9 tuần đối với ngọn lớn nhất, chỉ để lại 2 cặp lá.
Số ngọn còn giữ lại là 4-5 ngọn. 7 - Cần tỉa bỏ các nụ chính (chồi cuối cùng ở giữa), để lại những nụ phụ. Việc tỉa chồi và sửa cây vào ô lưới phải được thực hiện thường xuyên sẽ giúp cho cây có nhiều bông hơn và đều đẹp hơn. - Phun Auxin vào 3 đợt để kích thích cây mau sinh rễ, có bộ rễ khỏe mạnh, thân nhánh to khỏe và hoa nở đồng loạt.
Phòng trừ sâu bệnh hại cẩm chướng 1. Sâu xanh (Helicoverpa armigera) Sâu xanh thường phá lá non, ngọn non, nụ và hoa. Sâu tuổi 1 ăn phần thịt lá chừa lại biểu bì. Từ tuổi 2 trở đi đục vào nụ, ăn rỗng nụ và hoa, di chuyển từ nụ này sang nụ khác.
Khi đẫy sức chui xuống đất làm kén hoá nhộng.