TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM KHOA: LÝ – HÓA - SINH ---------- NGUYỄN THỊ THU TRINH NGHIÊN CỨU ẢNH HỬỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN DAP ĐẾN NĂNG SUẤT CÂY LẠC (ARACHIS HYPOGAEA) ĐƯỢC TRỒNG TẠI XÃ TAM XUÂN I, HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Quảng Nam, tháng 4 năm 2015 M CL C I. Lý do chon đề tài. Mục tiêu nghiên cứu. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Phương pháp bố trí thí nghiệm. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu. Quy trình canh tác cây lạc.
Qúa trình thực hiện. Phương pháp xử lý số liệu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Vật liệu nghiên cứu.
Cơ sở khoa học của đề tài. Những nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Những nghiên cứu ngoài nước. Những nghiên cứu trong nước.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI V T NH H NH TH I TIẾT VỤ Đ NG XU N 2015 TẠI XÃ TAM XUÂN I, HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại xã Tam Xuân I, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Điều kiện tự nhiên. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội.
Dân số, lao động, việc làm và thu nhập. Điều kiện khí hậu thời tiết vụ Đông Xuân năm 2015. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN. Ảnh hƣởng của DAP đến thời gian phát dục qua các giai đoạn.
Ảnh hƣởng của liều lƣợng DAP đến chiều cao cây và số lá của cây lạc qua các giai đoạn. Ảnh hƣởng của liều lƣợng DAP đến số cành cấp 1 và chiều dài cành cấp 1 của cây lạc qua các giai đoạn. Ảnh hƣởng của liều lƣợng bón phân DAP đến chỉ số diện tích lá và nốt sần hữu hiệu giai đoạn trƣớc thu hoạch. Ảnh hƣởng của phân DAP đến tình hình sâu bệnh hại.
Ảnh hƣởng của liều lƣợng bón phân DAP đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất. Hiệu quả kinh tế. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Lý do chon đề tài. Cây lạc (Arachis hypogaea) là loại cây trồng có ý nghĩa với nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt với các nƣớc nghèo, vùng nhiệt đới. Lạc hay còn gọi là đậu phộng, lạc hoa… thuộc họ cánh bƣớm Fabaceae Papilionnacea. Cây lạc thích hợp với những loại đất có thành phần cơ giới nhẹ và thoát hơi nƣớc tốt nên đƣợc trồng rất phổ biến ở nƣớc ta.
Là một loại thực phẩm có giá trị dinh dƣỡng cao, nên từ lâu đời loài ngƣời đã sử dụng nhƣ một nguồn thực phẩm quan trọng. Từ lạc có thể chế biến ra nhiều loại thực phẩm nhƣ: sữa, bơ đậu phộng, kẹo,.Trong lạc còn chứa nhiều lipid, Protein…và các axitamin cần thiết giúp tăng cƣờng trí nhớ, chống lão hóa, cầm máu, giúp thai nhi khỏe mạnh, … Dầu lạc đƣợc dung làm thực phẩm và chế biến dùng cho các ngành khác nhƣ (chất dẻo, dầu diesel, làm dung môi cho thuốc bảo vệ thực vật …), khô dầu lạc đƣợc dùng làm thức ăn gia súc hoặc làm phân bón. Bên cạnh sản phẩm chính là củ lạc thì thân lá của lạc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành chăn nuôi. Bằng biện pháp phơi khô, ủ chua…thì đây là cách tạo ra nguồn thức ăn cung cấp nhiều chất dinh dƣỡng cho gia súc.
Ngoài ra có thể ủ hoai làm phân xanh dung để bón lót và bón thúc cho cây trồng giúp giảm thiểu việc sử dụng các loại phân hóa học. Đặc biệt hơn hết rễ lạc có thể tạo ra nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm hình thành đó là vi khuẩn Rhizobium. Khả năng tạo nốt sần lớn và cố định đạm của cây lạc cao hơn cả so với các loại cây họ đậu khác. Chính vì thế trồng lạc còn có thể giúp cải tạo đất, giúp đất trở nên màu mỡ và rất giàu đạm Cây lạc có thời gian sinh trƣởng ngắn, dễ luân xen canh với nhiều loại cây trồng vì thế diện tích năng suất và sản lƣợng của các cây trồng này ngày càng tăng lên nhanh chóng.
Năm 2005, diện tích lạc tại Quảng Nam là 8960 ha với sản lƣợng 12.760 tấn; năm 2010, diện tích lạc khoảng 10.000 ha với sản lƣợng khoảng 16. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm tại địa phƣơng. 1 Trong những năm qua, nhiều nghiên cứu về giống, BVTV, kỹ thuật canh tác đã đƣợc thực hiện và có nhiều thành tựu đáng kể. Diện tích ngày càng tăng nhƣng năng suất vẫn không tăng nhiều so với tiềm năng của nó.
Cây lạc cần có một lƣợng dinh dƣỡng rất lớn, nhất là đạm. Tuy nhiên, trên thực tế nhu cầu bón đạm cho cây lại rất thấp vì nghĩ rằng cây có vi khuẩn cộng sinh trong nốt sần ở rễ, có khả năng đồng hóa đƣợc đạm khí trời để cung cấp cho cây. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu sản lƣợng thu hoạch khoảng 3 tấn quả (củ)/ha, cây lạc lấy đi cho cả quả và thân lá là 192 kg N, 48 kg P2O5, 80 kg K2O, 79 kg Cao. Do đó, để đạt đƣợc năng suất cao thì việc bón đầy đủ phân cho lạc là cần thiết, trong đó việc bón đạm và lân sẽ giúp tăng cƣờng sự hình thành nốt sần ở rễ và rễ phát triển mạnh hơn góp phần vào việc tăng năng suất lạc.
Và DAP (Diamon photphat) là loại phân phức hợp chứa 18% N và 46% P2O5 vừa cung cấp đạm vừa cung cấp lân cho cây. Trên thực tế, ngƣời ta thƣờng dùng phân NPK và phân lân nung chảy để bón cho lạc và ít quan tâm đến phân DAP. Núi Thành là một huyện thuần nông với phần lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Mặc dù vậy đất nông nghiệp ở đây thƣờng có chất lƣợng thấp mà phần lớn trong đó là đất cát nội đồng có hàm lƣợng dinh dƣỡng rất thấp, kết cấu rời rạc, dễ hạn vào mùa khô và úng vào mùa mƣa.
Nông dân trồng lạc thƣờng chỉ có tập quán bón vôi và lân, ít quan tâm đến phân đạm và đặc biệt là DAP. Vì vậy, năng suất lạc thƣờng thấp, năng suất lạc bình quân của huyện cũng chỉ đạt bình quân 12 tạ/ha. Trong những năm gần đây huyện cũng đã có nhiều hoạt động khuyến nông tích cực nhằm cải tạo hoặc giới thiệu những giống mới có năng suất và chất lƣợng cao hơn những giống cây trồng hiện hành. Trong số đó giống lạc L14 đã đƣợc bà con nông dân đánh giá cao và thị trƣờng nội địa tiêu thụ mạnh, giống lạc mới L14 đang đƣợc trồng khá phổ biến tại địa phƣơng này, việc xác định các yếu tố hạn chế và vai trò bổ sung tích cực của các yếu tố dinh dƣỡng cho cây lạc nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của giống lạc L14 là một nhu cầu hết sức cấp thiết trong việc mở rộng diện tích trồng lạc của huyện.
Với những tiềm năng rộng lớn về đất sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng giống lạc mới L14 trên những 2 chân đất có mức độ dinh dƣỡng thấp đã đƣa đến việc cần phải xác định vai trò và ảnh hƣởng của những yếu tố dinh dƣỡng, trong đó có phân đạm, lân là hết sức cần thiết. Xuất từ những vấn đề trên, cùng với sự hƣớng dẫn của TS. Trần Thanh Dũng, em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng phân DAP đến năng suất lạc (Arachis Hypogaea) tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam”. Với mục đích nhằm xác định hiệu quả của phân DAP đối với năng suất lạc, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho ngƣời trồng lạc.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc liều lƣợng bón DAP phù hợp cho cây lạc vừa tăng năng suất vừa có hiệu quả kinh tế. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng bón DAP đến năng suất giống lạc L14 ở vụ Đông xuân năm 2015 tại xã Tam Xuân I, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam 1. Phƣơng pháp nghiên cứu 1. Phương pháp bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng phân DAP đến năng suất của cây lạc (Arachis hypogaea).
Thí nghiệm gồm có 5 công thức tƣơng ứng với 5 liều lƣợng bón DAP nhƣ sau: 1/ Không bón DAP (Đối chứng) 2/ Bón 20 kg/ha 3/ Bón 30 kg/ha 4/ Bón 40 kg/ha 5/ Bón 50 kg/ha Với mật độ 26,66 vạn cây/ha (25cm x15cm x 1 cây) Tất cả các công thức thí nghiệm đều đƣợc bón với nền phân 20 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O và 400 kg vôi bột/ha. Tƣơng đƣơng 100 kg SA + 600 kg Lân nung chảy + 120 kg/ha KCl + 400 kg vôi bột/ha. 3 Quy trình canh tác lạc đƣợc thực hiện theo quy trình chuẩn của Bộ NN&PTNT cho vùng Trung trung Bộ. Thí nghiệm đƣợc bố trí theo kiểu Khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) với 3 lần nhắc lại theo sơ đồ sau: R1 5 4 3 2 1 R2 1 2 4 3 5 R3 4 3 5 1 2 Diện tích ô: 2,5 m x 3 m = 7,5 m2 (Mỗi ô gieo 10 hàng, mỗi hàng dài 4 m) Diện tích thí nghiệm: 15 ô x 7,5 m2 = 112,5 m2 Diện tích mƣơng (giữa các lần nhắc): 0,5 m x 12,5 m = 6,25 m2 Tổng diện tích thí nghiệm: 2 đƣờng mƣơng x 6,25 m2 + 112,5 m2 = 125 m2 1.
Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu + Điều kiện khí hậu thời tiết vụ Đông xuân 2015 + Thời gian phát dục qua các giai đoạn ở các công thức: 50% hoa, 50% đâm tia và thu hoạch + Theo dõi số ngày từ lúc gieo đến lúc có 50% số cây có hoa, 50% số cây đâm tia và trƣớc lúc thu hoạch ở các ô thí nghiệm + Tình hình sinh trƣởng qua các giai đoạn: 50% hoa, 50% đâm tia và thu hoạch. Số cành cấp 1, chiều dài cành cấp 1, số lá/thân chính, số cành/cây + Đo chiều cao thân chính lúc có 50% cây có hoa, 50% cây đâm tia và trƣớc lúc thu hoạch. Đo từ vết 2 lá mầm đến đỉnh sinh trƣởng. + Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu: Đếm số nốt sần hữu hiệu/cây + Chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất) + Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu, LAI và khả năng tích lũy chất khô đƣợc thu thập khi có 50% số cây có cũ vào chắc.
LAI (m2 lá/m2 đất) = Diện tích lá của 1 cây (m2 ) x số cây/m2. + Tình hình bệnh héo rũ: - Đếm toàn bộ số cây bệnh ở 2 hàng giữa ô thí nghiệm, sau đó tính tỷ lệ bệnh. 4 - Sau khi gieo 40 ngày, tiến hành điều tra bệnh héo rũ ở các công thức thí nghiệm.