Đặt vấn đề Măng tây (Asparagus officinalis) là loại cây trồng lâu năm và là loại rau có dinh dưỡng cao. Trong 100g măng tây xanh chứa tới 93g nước, 26 năng lượng calo, 22g protein, 21mg canxi, 700 IU Vitamin A, 30mg axit ascorbic, 0,20mg thiamine, 0,16mg riboflavin và l,0mg nỉacỉn trong 100g măng tây (USDA FoodData Central, 2017). Trong những năm gần đây, diện tích trồng măng tây tăng mạnh, năm 2017 diện tích trồng măng cho thu hoạch là 1,58 triệu ha tăng mạnh lên 1,62 triệu ha năm 2019 và tổng sản lượng măng trên toàn thế giới cũng đều tăng qua các năm (FAOSTAT, 2021). Để đáp ứng sản lượng và chất lượng theo nhu cầu, mục đích của người sản xuất và người tiêu dùng, việc nghiên cứu các biện pháp về kỹ thuật, dinh dưỡng, giống… càng ngày được chú trọng.
Dinh dưỡng đạm (N) được xem là vấn đề then chốt để đạt năng suất cao vì nó tham gia vào chức năng sinh lý, sinh hoá của thực vật, nhiều nhà khoa học đã chú trọng nghiên cứu về quản lý dinh dưỡng đạm bởi vì nó mang lại hiệu quả cao hơn trong đầu tư phân bón (Dawson và cs, 2008). Nhiều nghiên cứu cho thấy khi tăng nồng độ Nito bón cho măng làm cho số lượng chồi, khối lượng chồi, khối lượng chất khô và rễ tăng đáng kể (Hỉkasa ,2000; Nicola ,2000). Magiê (Mg) là lõi trung tâm của phân tử diệp lục trong mô thực vật, thiếu magiê (Mg) ở thực vật là một vấn đề phổ biến ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây trồng. Mặc dù nhiều nghiên cứu đã đề cập đến ảnh hưởng của sự thiếu hụt Mg đối với sinh khối và sự hấp thụ CO2 trong quang hợp.
Tuy nhiên đánh giá về ảnh hưởng của việc cung cấp N và Mg đối với sinh trưởng, phát triển triển của cây măng tây còn ít (Hauer-Jákli and Merle Tränkner, 2019). Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “ Ảnh hưởng của các mức phân đạm và Magiê bón đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống măng tây xanh Atlas trong điều kiện nhà lưới tại Gia Lâm-Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Từ việc đánh giá ảnh hưởng của các mức phân đạm và magie bón đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống măng tây xanh Atlas, từ đó tìm ra được mức phân đạm và magie bón phù hợp cho sinh trưởng, năng suất và chất lượng măng tốt nhất trồng trong điều kiện nhà lưới.
Yêu cầu - Theo dõi sự thay đổi đặc tính lý hóa học của đất trồng măng tây xanh Atlas và một số yếu tố sinh thái trong nhà lưới. - Ảnh hưởng của các mức phân đạm và magie bón đến sinh trưởng của cây măng - Ảnh hưởng của các mức phân đạm và magie bón đến năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của cây măng tây xanh Atlas. 10 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 2. Giới thiệu chung về cây măng tây 2.
Nguồn gôc cây măng tây Măng tây là thuộc họ Asparagaceae, gồm khoảng 300 loài, hầu hết là cây lâu năm, dạng cây bụi hoặc cây leo. Loài được biết đến rộng rãi nhất có thể ăn được là Asparagus officinalis, còn các loài khác được trồng làm cảnh. Măng tây có nguồn gốc ở Châu Âu, Bắc Phi và Tây Á, và được trồng rộng rãi như một loại cây rau. Hiện nay, có 3 loại măng tây được trồng để ăn là măng tây xanh, trắng và tím.
Măng tây có thể được trồng từ hạt, nhưng phổ biến hơn là được trồng bằng bộ rễ một năm tuổi. Các mầm măng được được thu hoạch vào đầu mùa xuân và sau đó tiếp tục chu kỳ phát triển của chúng qua mùa hè và mùa thu. Măng là cây lâu năm nên nếu được chăm sóc tốt có thể cho năng suất từ 12-15 năm (VRIC, 2006). Măng tây xanh được trồng phổ biến nhất ở Hoa Kỳ và nhiều nước khác.
Trong khi đó, măng tây trắng được trồng bằng cách tránh cho ánh sáng chiếu vào cây khi chúng đang ra mầm, có hương vị nhẹ, mềm hơn măng tây xanh và ít xơ. Măng tây trắng được ưa chuộng và phổ biến hơn ở Châu Âu. Măng tây tím khác với măng tây xanh và trắng, là có lượng đường cao và ít chất xơ, nhưng năng suất thấp. Giá trị của măng tây * Giá trị dinh dưỡng Măng tây là loại rau cao cấp có thành phần dinh dưỡng cao, rất được ưa chuộng ở các nước phương Tây cũng như phương Đông.
Giá trị dinh dưỡng trong 100 g măng tây được thể hiện trong bảng 1.1: Giá trị dinh dƣỡng của măng tây Giá trị dinh dƣỡng trong 100g Hàm Thành Hàm Thành Hàm Thành phần lƣợng phần lƣợng phần lƣợng Năng lƣợng 85kJ Vitamin A 38µg Chất khoáng Carbohydrate 4g Vitamin B1 0,143mg Canxi 24mg Đƣờng 1,88g Vitamin B2 0,141mg Sắt 2,14mg Chất xơ 2,1g Vitamin B3 0,978mg Magie 14mg Chất béo 0,12g Vitamin B5 0,274mg Mn 0,158mg Protein 2,2g Vitamin B6 0,09mg P 52mg Vitamin E 1,1mg Vitamin B9 52 µg K 202mg Vitamin K 41,6µg Vitamin C 5,6mg Na 2mg Chlorine 16mg Zn 0,54mg (Nguồn: USDA FoodData Central,2017) Măng tây xanh được coi là một trong những loại rau bổ dưỡng nhất nhờ hàm lượng cao các hợp chất sinh hoá, chất chống oxy hóa cao, hàm lượng protein, hàm lượng chất xơ và các loại axit amin thiết yếu (Guo et al. Khả năng chống oxy hóa của măng tây xanh chủ yếu là do rutin (quercetin-3-O- rutinoside), một dẫn xuất flavonoid của quercetin (Siomos, 2018), có hoạt tính sinh học và dược học như chống viêm, chống ung thư, và đặc tính chống vi khuẩn/virus cùng với hiệu lực hoạt động của các gốc tự do, cũng như tác dụng bảo vệ bảo vệ chống xơ vữa động mạch (Calabro et al. Các chất chống oxy hóa đã được xác định trong ngọn măng tây bao gồm anthocyanins, axit caffeic, axit ferulic và axit hydroxycinnamic, vitamin E (α-tocopherol), vitamin C (axit ascorbic) và glutathione (Rodkiewicz, 2008). Trong những năm gần đây, sự quan tâm của con người vào thực phẩm chức năng được sinh tổng hợp từ thực vật ngày càng tăng nên nhu cầu măng tây cho tiêu dùng cũng có xu hướng 12 tăng.
Đặc biệt, măng tây xanh - giống chủ yếu trồng ở các nước nhiệt đới chứa một lượng lớn rutin (Sun et al., 2007; Maeda et al., 2012; Motoki et al. Cũng theo Le Hồng Triều (2009) thì ma ng tay xanh là mọt loại thực phẩm giàu dinh duỡng đuợc nguời tieu dùng sử dụng phổ biến nhu rau xanh trong bữa a n hàng ngày, ngoài ra mầm măng tươi có thể đóng họp xuất khẩu. Hiẹn nay, nhu cầu tieu thụ mang tay xanh ở nuớc ta ngày càng tang, đạc biẹt ở các nhà hàng, sieu thị. * Giá trị sử dụng Ở nước ta, măng tây được trồng với mục đích thu hoạch để - Lấy chồi non làm rau thực phẩm dinh dưỡng cao cấp - Cành lá làm trang trí hoa cắt cành - Thân, rễ, lá làm dược liệu và nước giải khát - Phế liệu làm thức ăn gia súc.
Nhìn chung, cây măng tây là cây trồng có rất nhiều giá trị về mặt dinh dưỡng, y học và giá trị kinh tế, là cây trồng có tiềm năng phát triển trên thế giới và trong nước. Vai trò của Đạm và Magie đối với cây măng tây * Đạm (N) Đạm là thành phần cơ bản của protein vì protein là chất cơ bản của sự sống. Đạm ở trong thành phần của diệp lục, không có đạm sẽ không có diệp lục quá trình quang họp không tiến hành được. Đạm còn nằm trong nhiều họp chất cơ bản cần thiết cho sự phát triển của cây như các axit nucleic, trong các AND, ARN của các nhân bào, nơi cư trú các thông tin dẫn truyền, đóng vai trò quan trọng trong việc tổng họp protein.
Đạm cũng là yếu tố cơ bản của quá trình quang họp, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác (Hoàng Thị Thái Hòa, 2011). Magiê tham gia trong thành phần của nhiều loại men, đặc biệt các men chuyển hóa năng lượng, đồng hóa lân, tổng hợp protein và lipit. Magiê giữ cho độ pH trong tế bào cây ở phạm vi thích họp, tăng sức trương của tế bào nên ổn định cân bằng nước, tạo điều kiện cho các quá trình sinh học trong tế bào xảy ra bình thường. Thiếu magiê lá cây sẽ mất màu xanh bình thường và xuất hiện các đốm vàng, mép lá cong lên, thiếu nặng cây có thể bị chết khô.
Thiếu Mg làm chậm quá trình ra hoa, cây thường bị vàng lá do thiếu diệp lục. Triệu chứng điển hình là các gân lá còn xanh trong khi phần thịt lá đã biến vàng. Xuất hiện các mô hoại tử thường từ các lá phía dưới, lá trưởng thành lên lá non, vì Mg là nguyên tố linh động, cây có thể dùng lại từ các lá già. Nếu dư thừa magiê sẽ làm thiếu kali.
Magiê có vai trò chi phối quá trình quang hợp và liên kết trong lục lạp, nơi chứa tới 35% Mg trong lá (Cakmak và Yazici, 2010). Siêu cấu trúc lục lạp, tức là, sự hình thành grana cần có Mg. Cation Mg2+ ngăn chặn các điện tích bề mặt âm trên màng thylakoid và do đó, cho phép các màng thylakoid xếp chồng lên nhau (Puthiyaveetil và cs, 2017). Magiê cần thiết cho quá trình tổng hợp chất diệp lục (Masuda, 2008) và tham gia vào cả quá trình hoạt hóa Ribulose 1,5-bisphosphat- carboxylase / -oxygenase (Rubisco) bằng cách tạo phức với Rubisco activase, và hoạt động của Rubisco bằng cách liên kết với carbamate nhóm Rubisco (Portis, 2003).
Là hệ quả trực tiếp (hoạt hóa / hoạt động Rubisco) hoặc gián tiếp (siêu cấu trúc lục lạp, tổng hợp chất diệp lục) của hoạt động của Mg, thực vật phản ứng với sự thiếu hụt Mg bằng cách giảm đáng kể tỷ lệ đồng hóa CO2 thực. Kết quả là, việc cung cấp không đủ Mg sẽ làm giảm tốc độ hình thành sinh khối. Tỷ lệ đồng hóa CO2 giảm đáng kể không đáp ứng được với sự thiếu hụt cung cấp Mg cho nhiều loại cây trồng như ngô (Jezek và cs, 2015), hướng dương (Lasa và cs, 2000), củ cải đường (Terry và Ulrich, 1974), rau bina (Ze et al., 2009a), cũng như trên các cây như Thông (Laing et al., 2000; Sun et al., 2001) và cam quýt 14 (Tang et al., 2012; Yang và cs, 2012). Hạn chế quang hợp dẫn đến giảm khả năng sử dụng sinh hóa của năng lượng ánh sáng hấp thụ, gây ra sự hình thành các loại oxy phản ứng (ROS) như các gốc superoxide và hydrogen peroxide (H2O2).
Vì ROS có độc tính cao và có thể gây chết người cho các thành phần tế bào, hoạt động của các enzym chống oxy hóa như ascorbate peroxidase (APX) và superoxide dismutase (SOD) dự kiến sẽ được điều chỉnh để giải độc ROS ở nồng độ không tới hạn.