Đặt vấn đề Gừng Zingiber offcinale (Willd.) Roscoe là loại cây rất có giá trị do có chứa nhiều thành phần có lợi cho sức khỏe con người. Các nghiên cứu cho thấy, ngoài các thành phần chính gồm protein (2,3%), chất béo (0,9%) chất khoáng (1,2%), chất xơ (2,4%), carbohydrate (12,3%), củ gừng tươi còn rất giàu các thành phần vi lượng như chất khoáng (sắt, calcium, phốt-pho), các vitamin (thiamine, riboflavin, niacin, acid ascorbic.) và các chất thơm. Do vậy, gừng được sử dụng làm gia vị trong bữa ăn tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra, gừng còn được sử dụng như một loại thảo dược để điều trị và hỗ trợ y học với nhiều công dụng tốt.
Để chế biến thức ăn hoặc chữa bệnh, gừng được sử dụng rất đa dạng bao gồm nguyên liệu tươi, bột hoặc lát sấy khô, tinh dầu và dịch nhựa gừng. Tinh dầu của gừng được sử dụng để bảo quản nhiều loại thực phẩm để chống lại sự gây hỏng tự nhiên của thức ăn và tác dụng gây hỏng của vi khuẩn vì tính chất chống oxy hóa và chống vi khuẩn của gừng. Các nghiên cứu invitro cho thấy khả năng kháng khuẩn của dịch chiết từ loài Zingiber đối với cả vi khuẩn Gram dương (Bacillus cereus, Staphylococcus aureus) và vi khuẩn Gram âm (Escherichia coli, Salmonella typhi, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella pneumonia). Mùi thơm của gừng chứa thành phần zingiberene và bisabolene, có vị cay nồng rất riêng.
Nhờ những đặc tính quý giá này nên tinh dầu gừng được sử dụng trong phòng trị bệnh và chăm sóc sắc đẹp rất công hiệu. Chất cay của gừng khi tiếp xúc với niêm mạc không gây phồng rộp. Nhựa gừng có nhiều hoạt tính dược lý và là thành phần phổ biến trong các loại thuốc truyền thống, có hiệu quả trong điều trị một số bệnh như dạ dày, buồn nôn, nôn mửa, động kinh, đau họng, ho, cảm lạnh thông thường, vết bầm tím, vết thương, viêm gan, thấp khớp, đau cơ, xơ vữa động mạch, đau 1 đầu migraine, cholesterol cao, viêm loét. Các hợp chất phenolic, đặc biệt là gingerols, trong củ gừng đã được chứng minh là có tác dụng chống lại sự oxy hoá và hoạt động chống viêm (Lê Thị Mỹ Châu, 2018).
Ngoài giá trị sử dụng, sản xuất gừng còn đem lại thu nhập cao cho người trồng. Những phân tích ở trên cho thấy, gừng là loại cây trồng mang lại nhiều giá trị to lớn về kinh tế và sức khỏe. Hiện nhu cầu tiêu thụ gừng khá lớn và không ngừng tăng. Tuy nhiên với xu hướng tiêu dùng hiện nay có yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm nông nghiệp thì những sản phẩm được sản xuất theo những quy trình an toàn như sản xuất hữu cơ hoặc hướng hữu cơ vẫn có giá trị cao hơn sản phẩm canh tác thông thường.
Ưu điểm nổi bật nhất của sản xuất hữu cơ hoặc hướng hữu cơ là việc nâng cao tính an toàn và chất lượng nông sản. Khi sản xuất theo hướng hữu cơ, người tiêu dùng yên tâm khi đảm bảo không có các sản phẩm hóa chất độc hại. Bên cạnh đó, việc kiểm soát chặt chẽ các yếu tố khi trồng, đảm bảo độ an toàn của sản phẩm và giúp cho nông sản nâng cao được hương vị đặc trưng. Vì vậy, nghiên cứu các biện pháp canh tác cây gừng để nâng cao chất lượng sản phẩm để phát triển sản xuất gừng là việc làm hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng và năng suất giống gừng Nghệ An trồng tại gia Lâm, Hà Nội”. Mục đích của đề tài Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu hữu cơ tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của gừng, từ đó góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng biện pháp canh tác hướng hữu cơ cho cây gừng. Yêu cầu của đề tài - Xác định được khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng hình thành năng suất của một giống gừng dưới ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ khác nhau. - Xác định được lượng phân hữu cơ tốt nhất cho sinh trưởng, phát triển tốt nhất và năng suất cao nhất ở cây gừng.
3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, phân loại, giá trị của cây gừng 2. Nguồn gốc Lịch sử phát hiện cây gừng và giá trị sử dụng đầu tiên của nó cho tới nay vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời đáp. Tuy nhiên các nhà khoa học đã thừa nhận rằng gừng có nguồn gốc nhiệt đới thuộc vùng Ấn Độ-Malaixia từ thời cổ đại.
Nhiều giả thuyết cho rằng gừng được khai thác và sử dụng lần đầu tiên khi nó được trồng trong chậu, vại trên các con tàu du lịch và thương mại trong vùng Ấn Độ và Biển Đông vào đầu thế kỷ thứ 5. Hầu hết các nhà khoa học ngày nay cũng coi đây là một thời mốc lịch sử đánh dấu cho sự lan tỏa và phát triển của nó về các vùng nhiệt đới khác của châu Á. Đến đầu thế kỷ 16 gừng được chuyển đến châu Phi, vùng Caribê và sau đó là khắp các vùng nhiệt đới ẩm của thế giới. Cây gừng Zingiber officinale (Willd.) Roscoe thuộc ngành ngọc lan (Magnoliophyta), lớp hành (Liliopsida), phân lớp thài lài (Commelinidae), bộ gừng (Zingiberales), họ gừng (Zingiberaceae), chi Zingiber.
Chi gừng Zingiber Bochmer có khoảng 100 loài, trong đó loài Zingiber officinale Rosc được trồng phổ biến và có giá trị lớn nhất. Gừng là cây gia vị và là cây dược liệu cổ truyền được trồng ở khắp các vùng miền của nước ta, từ vùng núi cao đến đồng bằng và hải đảo. Trên thế giới, gừng xuất hiện ít nhất là từ 2000 năm trước, thế kỷ 18, 19 nhiều quốc gia Châu Âu đã đánh thuế và bán gừng với giá cao. Ở Anh, vào thế kỷ 19 người ta bảo quản những thùng rượu vang và bia bằng gừng xay- đó là nguồn gốc của đồ uống gừng.
Bên cạnh đó chúng cũng được sử dụng trong phòng trị bệnh và thường được dân gian sử dụng để chống lạnh, chống nôn, chữa đau bụng, tiêu đờm, cảm ho, ăn không tiêu (Võ Văn Chi, 1999). Phân loại 4 Gừng (Zingiber officinale), thuộc ngành Ngọc Lan, lớp Hành, phân Lớp Hành, bộ Gừng, họ Gừng, chi Gừng. Theo hệ thống phân loại của APG III (2009) thì gừng được phân loại: Giới (kingdom) Thực vật (Plantae) Ngành (Phylum) Thực vật có hoa ( Angiosperms) Lớp (Class) Một lá mầm (Monocots) Phân lớp (Subclass) Thài lài (Commelinids) Bộ (Order) Gừng (Zingiberales) Họ (Family) Gừng (Zingiberaceae) Chi (Genus) Gừng (Zingiber) Loài (Species) Zingiber officinale Các chi quan trọng Họ gừng (Zingiberaceae) gồm có: - Phân họ Alpinioideae + Tông Alpinioieae • Chi Alpinia – Riềng • Chi Amomum – Đậu khấu • Chi Elettaria – (tiểu) đậu khấu - Phân họ Zingibereae + Tông Zingibereae • Chi Curcuma – Nghệ 5 • Chi Zinggiber – Gừng Họ Gừng (Zingiberaceae), là họ thực vật thân thảo, sống lâu năm với các thân rễ bò ngang hay tạo củ bảo gồm 47 chi và khảng 1.000 loài , phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới và chủ yếu là ở Nam và Đông Nam Châu Á. (Nguồn https://sites.com/site/raurungvietnam/rau-than-thao-dhung/gung ) Ở Việt Nam bộ Gừng (Zingiberales), họ Gừng (Zingiberaceae) là họ có số lượng loài nhiều nhất, bao gồm 47 chi và khoảng trên 1.
Đây là họ có nhiều đại diện có giá trị làm thuốc chữa bệnh, nhiều loài được sử dụng làm gia vị, làm cảnh (Nguyễn Quốc Bình, 2009). Giá trị của cây gừng a) Giá trị dinh dưỡng Trong 100gam gừng có 8o kcal năng lượng,78,89 g nước, 1,82 g protein, 0,75 g chất béo, 17,77 g carbohy drate, 2,0g chất xơ, 1,70 g đường tổng số, 16mg canxi(Ca), 0,6mg sắt (Fe), 43mg Magie (Mg), 34mg Phốt pho (P) ,13mg Natri (Na), 5,0mg VitaminC… Trong cuộc sống con người dùng gừng làm gia vị trong một số món ăn hoặc dung làm chế biến mứt, kẹo ghừng hoặc trà gừng Gừng là một gia vị được sử dụng thường xuyên trong mỗi bữa ăn của gia đình, củ gừng có nhiều tác dụng cho sức khỏe như: giúp chữa sỏi mật, giải tỏa stress,. Trên thực tế , các văn bản cổ đại của Trung Quốc, La Mã, Hy Lạp, Ả Rập đều đã ghi nhận việc sử dụng rễ gừng (củ) để cải thiện sức khỏe. Mặt khác củ gừng còn chứa một hàm lượng vitamin và các khoáng chất quan trọng, đặc biệt trong củ gừng còn chứa gingerol (một hợp chất có đặc tính chống oxy hoá và chống viêm mạnh).
Ngoài ra, gừng còn được chiết xuất để lấy tinh dầu. Tinh dầu gừng ngoài việc có giá trị dược liệu được dùng để chữa bệnh còn có tác dụng dung để massage, giúp thư giãn thần kinh, làm dịu tinh thần, giải tỏa stress, giúp cho 6 giấc ngủ ngon, tạo cảm giác sảng khoái cho cơ thể nhờ chứa chất Cineole. b) Giá trị y học Trong y học cổ truyền Gừng có tác dụng phát tán phong hàn, chữa cảm mạo phong hàn, làm ấm dạ dày trong trường hợp bụng đầy trướng, không tiêu, khí huyết ngưng trệ, chân tay lạnh. Ngoài ra còn có tác dụng hoá đờm, chỉ ho, lợi niệu, giải độc, khử khuẩn… Cây gừng (Zingiber officinale) có thể tiêu diệt được các loài nhuyễn thể (molluscicidal) và sán máu (antischistosomal) mạnh mẽ, nên nó có ích cho việc điều trị bệnh sán máng (sán lá máu hoặc bilharzias) phổ biến ở nhiều quốc gia có nguồn nước không được xử lý.
Một trong những thành phần của gừng, gingerol, giúp lưu thông máu vì nó hoạt động như một anticlotting hoặc có thể chống kết tập tiểu cầu do ức chế sự hình thành thromboxane. Do đó, gừng có thể có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa các cơn đau tim và đột quỵ. Một chiết xuất ethanol của gừng đã được chứng minh là có tác dụng chống ung thư trên da của chuột Ngày nay, với sự phát triển của nền y học hiện đại, con người còn phát hiện thêm nhiều công dụng tuyệt vời mà cây gừng đã đem lại. Mới đây theo nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản cho biết : đã phát hiện thấy thành phần các chất có trong vị cay của gừng 6-Zingiberol, Ginger oil và 4 chất khác phân tách ra được, đều có tác dụng ức chế hợp thành Prostaglana – chất gây ra sỏi mật.
Khi lượng Prostaglandin (PG) trong cơ thể phân tiết quá nhiều, hàm lượng chất muxin (một loại protein) trong dịch mật có thể sẽ tăng lên. Chất xumin có thể kết hợp với các ion canxi và bilirubin trong dịch mật và tạo thành các hạt sỏi trong mật. Trong gừng, các loại tinh dầu thơm có tác dụng ức chế sự hợp thành Prostaglandin, do đó làm giảm bớt hàm lượng muxin trong dịch mật và có thể phòng ngừa bệnh sỏi mật.