Đặt vấn đề Từ lâu cây mía (Saccharum officinarum L) đã được loài người ưa thích vì giá trị sử dụng phong phú của nó. Cây mía là cây trồng chủ lực ở một số quốc gia như Braxin, Cu Ba mang lại thu nhập cao và là nguồn nguyên liệu quan trọng nhất trong công nghiệp đường của thế giới. Ở Việt Nam cây mía cũng là cây mang lại hiệu quả kinh tế cao và được trồng ở nhiều vùng như Thanh Hóa, Nghệ An và một số tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngành mía đường việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc kể từ khi thực hiện chương trình một triệu tấn đường do Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 8 đề ra.
Hơn 10 năm qua sản xuất mía đường đã góp phần phát triển kinh tế nước nhà, nhất là về nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đặc biệt nước ta được đánh giá có rất nhiều điều kiện thuận lợi để nâng cao năng suất và sản lượng mía, qua đó đáp ứng nhu cầu chế biến đường lớn phục vụ trong nước và xuất khẩu, đem lại một nguồn ngoại tệ đáng kể. Hiện nay, cây mía đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, thậm chí làm giàu, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường sinh thái và tạo việc làm cho nhiều lao động trong nông nghiệp. Cây mía là cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới có sức sống cao, khả năng thích ứng rộng.
So sánh với một số cây trồng khác, cây mía có khả năng sử dụng tới mức cao nhất ánh sáng mặt trời đồng hóa CO2. Tuy nhiên, để cây mía sinh trưởng và phát triển bình thường cũng cần phải có một số yêu cầu nhất định về khí hậu, đất đai, mùa vụ đặc biệt là dinh dưỡng. Cây mía có nhu cầu kali cao nhất sau đó đến đạm và lân, ngoài ra, mía còn có nhu cầu một số nguyên tố với lượng ít hơn, gọi là các chất trung và vi lượng. Các nguyên tố trung và vi lượng có ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây mía như magiê, kẽm, bo, canxi.
Khi cung cấp không đủ dinh dưỡng dẫn đến ảnh hưởng 1 tới sinh trưởng và năng suất của cây. Lân (P) có trong thành phần Protit tạo nên nhân tế bào, vì vậy nó là chất không thể thiếu cho sự sống của cây. Lân rất cần cho sự hình thành nên các bộ phận mới ra mầm non (tham gia tích cực trong quá trình kiến tạo nên hoạt chất hình thành mầm hoa, đẻ nhánh, phân cành, ra hoa, đậu quả và phát triển bộ rễ. Lân còn có tác dụng đệm, làm cho cây chịu được chua, kiềm.
Lân có trong thành phần hạt nhân tế bào, rất cần cho sự hình thành bộ phận mới của cây. Lân tham gia vào các thành phần enzim, các Protein, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin. Nhưng cũng cần chú ý bón lân cân đối và hợp lý vì bón quá nhiều lân có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng nên người ta thường bón phân lân kết hợp với bón bổ sung các nguyên tố vi lượng thiết yếu. Bên cạnh đó, Canxi là một trong những chất dinh dưỡng quan trọng trong sinh trưởng và phát triển của cây.
Canxi thực hiện các chức năng sinh lý quan trọng ở thực vật, như một chất điều hòa cân bằng nội môi tế bào, hoạt hóa enzyme và tham gia vào quá trình hấp thụ các ion, bên cạnh đó là thành phần cấu trúc của thành tế bào (Marschner, 2012). Do đó, đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng này là điều cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng (Silveria and Monteiro, 2010, 2011). Đối với cây mía canxi là một trong những yếu tố dinh dưỡng nâng cao năng suất, thiếu canxi cây thấp, dễ bị nứt vỏ và đổ ngã, dẫn đến năng suất thấp. Hiện nay, sử dụng bột vỏ trứng làm nguồn canxi bón cho cây đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.
Tác giả Faridi and Arabhosseini (2018) cũng cho rằng sẽ rất kinh tế khi chuyển đổ i chất thải vỏ trứng để tạo thành nguồn phân bón cung cấp canxi và các hợp chất khác cho cây trồng. Chúng ta đã biết thành phần hóa học của vỏ trứng gồm: N (0,00-1,16%), P (0,07-0,18%), K (0,08-0,10%), Ca (28,0-39,1) và Mg (0,16-0,41%) và đặc biệt là hàm lượng calcium carbonate (94-97%) rất cao, rất có lợi cho sự sinh trưởng và phát triển đặc biệt kích thích sự phát triển bộ rễ của cây trồng. Hơn nữa, sử 2 dụng vỏ trứng như một nguồn thay thế để điều chỉnh pH đất và cung cấp canxi hữu cơ cho đất có tác dụng bảo vệ môi trường môi trường. Từ những vấn đề trên việc nghiên cứu lượng phân bón phù hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển là rất cần thiết.
Mỗi loại giống mía trồng tại mỗi địa phương phù hợp với từng loại phân bón khác nhau, vì vậy để nâng cao hiệu quả năng suất, chất lượng và đảm bảo độ an toàn cần phụ thuộc và rất nhiều yếu tố. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng bón phân lân và bột vỏ trứng đến sinh trưởng của giống mía trắng Cao Phong – Hòa Bình trong điều kiện lưu gốc tại Gia Lâm – Hà Nội”. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân và bột vỏ trứng đến sinh trưởng của giống mía trắng Cao Phong - Hòa Bình trong điều kiện lưu gốc từ đó góp phần làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình canh tác cho cây mía trắng Cao Phong - Hòa Bình đạt năng suất và chất lượng cao. Yêu cầu Đánh giá được ảnh hưởng của lượng lân bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý của giống mía trắng Cao Phong- Hòa Bình.
Đánh giá được ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến chỉ tiêu sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý của giống mía trắng Cao Phong- Hòa Bình. 3 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu chung về cây mía Nguồn gốc: Có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của cây mía. Có người cho rằng nó ở Ấn Độ, có người cho rằng ở Trung Quốc. Tuy nhiên, cho đến nay giả thuyết được nhiều người công nhận nhất đó là nguyên sản của cây mía ở đảo Tân Ghi Nê cách đây 8.000 năm trước công nguyên.
Sau đó, cây mía dần dần lan truyền sang Trung Quốc, Ấn Độ và các đảo ở Thái Bình Dương (Hồ Quang Đức, 1999). Sự phân bố: Ngày nay cây mía được trồng ở 70 nước trên thế giới, chủ yếu là vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, diện tích mía tập trung trong phạm vi từ 30 vĩ độ Bắc đến 30 vĩ độ Nam (Hồ Quang Đức, 1999). Mía là tên gọi chung của một số loài trong chi Mía (Saccharum), bên cạnh các loài lau, lách. Chúng là các loại cỏ sống lâu năm, thuộc tông Andropogoneae của họ Hòa thảo (Poaceae), bản địa khu vực nhiệt đới.
Chúng có thân to mập, chia đốt, chứa nhiều đường, cao từ 2 – 6 m. Tất cả các dạng mía đường được trồng ngày nay đều là các dạng lai ghép nội chi phức tạp. Chúng được trồng để thu hoạch nhằm sản xuất đường. Một số loài mía được liệt kê dưới đây: Saccharum barberi: Mía.
Saccharum bengalense: Mía Bengal. Saccharum sinense: Mía lau.2 Đặc điểm sinh hoá của cây mía Theo Nguyễn Ngộ (1984), đặc điểm sinh hoá của cây mía bao gồm các thành phần hóa học quan trọng và tỉ lệ phần trăm của các chất hóa học, nó tham 4 gia vào việc cấu thành phẩm chất của cây mía, các thành phần và tỉ lệ phần trăm này phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, việc tác động các biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến sự biến đổi thành phần và tỉ lệ các chất hóa học quan trọng trong cây mía. Thành phần hóa học của cây mía chứa đầy đủ các chất, gồm 5 nhóm cơ bản đó là: nhóm đường, chất xơ, chất chứa nitơ, chất vô cơ và nước với tỉ lệ khác nhau.
Tỉ lệ thành phần hóa học này của mía thay đổi tùy theo giống, đất đai, chế độ canh tác, điều kiện khí hậu ở từng vùng canh tác. Về cơ bản các thành phần hóa học chứa bên trong cây mía, bao gồm những chất với tỉ lệ cụ thể như sau: Bảng 2.1: Thành phần hóa học của cây mía Thành phần hóa học Tỉ lệ (%) Thành phần hóa học Tỉ lệ (%) (1) Đường 13.00 (3) Chất chứa nitơ 1.02 NH3 Vết MgO 0.01 Xantin Vết Fe2O3 Vết Chất béo và sáp 0.02 Axit tự do (Suxinic, Malic) 0.08 Cl Vết Axit kết hợp (Suxinic, Malic) 0.3 Sơ lược về các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây mía Chất dinh dưỡng của cây trồng là những nguyên tố cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây. Người ta xác định được khoảng 90 nguyên tố trong thực vật, nhưng chỉ có 16 nguyên tố thiết yếu đối với cây trồng và trong đó có cây mía (Naidu và cộng sự, 1987). Việc thừa và thiếu các nguyên tố thiết yếu này thì có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất, phẩm chất mía và nó có một số vai trò cụ thể sau: 2.1 Đạm Tuy chỉ chiếm 1% trọng lượng chất khô trong cây mía khi thu hoạch, nhưng N có vai trò vô cùng quan trọng đến năng suất và chất lượng mía.
N tham gia vào thành phần cấu tạo của các axit amin và protein trong mía. N thường nằm trong các phần non của mía như ngọn, đốt mía (cụ thể là mầm, đai rễ, đai sinh trưởng). Thiếu N lá mía có màu vàng nhạt, làm cho tốc độ hình thành lá và vươn lóng chậm, số lá xanh trên cây ít, thấp cây, trọng lượng cây nhỏ; Cây đẻ nhánh ít và chậm, số cây hữu hiện không cao, mía mau chín nhưng sản lượng đường không cao. Thừa N lá có màu xanh đậm, cây mọc yếu ớt, mọc vống, dễ đổ ngã, dễ bị sâu bệnh.
Hàm lượng đường thấp, mía chín chậm (Mohan Naidu và cộng sự, 1987).2 Lân Theo Nguyễn Huy Ước (1999), lân ảnh hưởng đến sự đẻ nhánh và phát triển bộ rễ, do đó nó làm tăng mật độ cây, tăng số cây hữu hiệu cũng như tăng khả năng chống chịu và tăng hiệu quả hấp thu nước và dinh dưỡng. Lá mía chứa nhiều lân sẽ gia tăng khả năng quang hợp. Lân có tác dụng gián tiếp đến hàm lượng đường và khả năng tích lũy đường. Thiếu lân mía giảm tốc độ tăng trưởng, chiều dài và đường kính thân giảm, giảm tốc độ hình thành lóng và lá mía.
Mía đẻ nhánh chậm, đẻ ít.