Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thu ngô sinh khối trong và ngoài nước 1.1 Tình hình ngô sinh khối ngoài nước Ngô sinh khối là cây ngô được thu hoạch ở giai đoạn bắp ngô chín sáp dé làm thức ăn cho gia súc ăn cỏ, cây ngô thu hoạch làm thức ăn cho gia súc ở giai đoạn ngô chín sáp sẽ đảm bảo độ mềm, giàu dinh dưỡng và sự ngon miệng cho vật nuôi. Trong nền kinh tế toàn cầu Ngô là cây lương thực quan trọng. Trên thế giới cây ngô đứng thứ ba về diện tích (sau lúa mì và lúa nước), nhưng có diện tích và sản lượng cao nhất trong các cây ngũ cốc. Năm 2012 tông diện tích trồng ngô lấy cây xanh phục vụ chăn nuôi đạt 1,152 triệu ha; sản lượng 108,748 triệu tấn; đến năm 2016 diện tích tăng lên là 1,416 triệu ha, sản lượng 170,911 triệu tấn, tăng 62,163 triệu tấn so với năm 2012.1 Diện tích và sản lượng ngô cây xanh (thân, lá, bắp non) phục vụ chăn nuôi trên thế giới giai đoạn 2012 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm - p.
z (triệu ha) (tân/ha) (triệu tân) 2012 1,152 94,40 108,748 2013 1,140 96,60 110,124 2014 1,202 99,10 119,118 2015 1,209 99,40 120,175 2016 1,416 120,70 170,911 Nguồn: FAOSTAT, 2017 Hiện nay, DuPont Pioneer là công ty hang đầu thé giới, chiếm giữ 26,36% thị phan hạt giống ngô sinh khối toàn cầu trong năm 2016. Tiêu thụ toan cầu đối với hat giống ngô sinh khối tăng từ 875,45 ngàn tan vào năm 2012 lên 1.070,06 ngàn tan vào năm 2016, với tốc độ tăng hàng năm hơn 5,15%. Thị trường hạt giống ngô sinh khối tăng lên chủ yếu đo nhu cầu tăng lên của việc trồng ngô sinh khối ở trang trại, chiếm gan 62,84% tông lượng tiêu thụ hạt giống ngô sinh khối trên toàn cầu (USDA, 2017). Tổng giá trị thị trường hạt giống ngô sinh khối toàn cầu là 5.749 triệu USD vào năm 2016, tăng lên 6.190 triệu USD vào năm 2017 va sẽ đạt 8.400 triệu USD vào cuối năm 2025, với tốc độ tăng trưởng hàng năm 3,9% trong giai đoạn 2018-2025 (USDA, 2018).
Theo kết quả điều tra, các nhà sản xuất tại Mỹ là một trong những nhà sản xuất chính của thị trường hạt giống ngô dé phục vụ sản xuất ngô sinh khối. Xu hướng thi trường hạt giống ngô sinh khối sẽ mở rộng, vì nhu cầu dùng ngô sinh khối tăng lên. Trong vài năm tới, tiêu thụ hạt giống ngô sinh khối sẽ có xu hướng tăng trưởng mạnh. Dự báo vào năm 2023, tiêu thụ hạt giống ngô sinh khối ước đạt 1.
Mỹ là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thé giới với 34,8 triệu ha ngô lay hạt và 2,4 triệu ha trồng ngô sinh khối, sản phẩm từ ngô sinh khối chủ yếu phục vụ cho nhu cầu làm nhiên liệu sinh học và làm thức ăn cho ngành chăn nuôi gia súc lớn (USDA-NASS, 2011). Năm 2016, Mỹ là thị trường hàng đầu tiêu thụ hạt giống ngô dé sản xuất ngô sinh khối, chiếm khoảng 54,7% lượng tiêu thụ hạt giống ngô dé sản xuất ngô sinh khối toàn cầu. Mỗi năm, An Độ cần 88,2 triệu tan thức ăn xanh cho chăn nuôi gia súc (40 kg thân lá xanh /đầu gia súc lớn mỗi ngày) (Kalra, 2018). Sản lượng thức ăn xanh không đủ cho nhu cầu chăn nuôi của Ấn Độ, vì tốc độ chăn nuôi tăng nhanh về số lượng gia súc, hơn nữa chất lượng chất xanh cho gia súc trở nên nghèo hơn.
Tổng diện tích canh tác các loài cây trồng lay sinh khối ở An Độ là 8,4 triệu ha (5,23% điện tích các loài cây trồng), ôn định trong 2 thập kỷ qua. Hiện nay, toàn An Độ mới chỉ đáp ứng được 54% tổng chất xanh từ sản phẩm phụ sau thu hoạch cây trồng, trong đó chỉ 18% chất xanh được đáp ứng bởi các loại cỏ và 28% được đáp ứng bởi các cây trồng khác nhau. Như vậy, An Độ đang thiếu 33,10% lượng thức ăn xanh, thiếu 11,41% các phế phụ phẩm chất khô và thiếu 64% thức ăn chăn nuôi.2 Nhu cau và nguồn cung của thức ăn xanh, thức ăn khô cho chăn nuôi tại Ấn Độ (Đơn vị tính: triệu tấn) Nhu cầu Cung cấp Thiếu hụt (%) Năm Khô Xanh Khô Xanh Khô Xanh 2015 519,7 834,0 460,4 557,9 11,41 33,10 2020 530,5 851,3 467,6 590,4 11,85 30,65 2025 549,3 881,5 483,8 638,9 11,92 27,52 2030 568,1 911,6 500,0 687,4 11,98 24,59 Nguồn: Pawar, 2018 Số liệu khảo sát 75 trang trại của một cơ quan thống kê ở New Zealand (2016) cho thấy sản xuất ngô sinh khối đang được đây mạnh hơn ngô lấy hạt (AIMI, New Zealand, 2016). Theo Lee-Jones (2018), để tồn tại và phát triển ngành sữa ở News Zealand, hệ thống trang trại ở nước này phải đủ sức cạnh tranh và cây ngô sinh khối phải cần được chú ý đặc biệt.
Điều này có thể đúng với nhiều nước khác khi chăn nuôi bò sữa được coi trọng như là ngành kinh tế quan trọng. Cây ngô sản xuất theo hướng năng suất sinh khối cao ngoài mục đích làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc còn có thê dùng nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học. Theo báo cáo của QY Research về thị trường thương mại hạt giống ngô sinh khối toàn cầu 2018 (Pioneer và cs., 2018), căn cứ các tiêu chí về giá trị & khối lượng hạt giống thương mại, dựa trên số liệu loại sử dụng và khu vực của các công ty tham gia chính. Đó là các công ty quan trọng hàng đầu ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam A, An Độ và các khu vực khác (Trung Đông va Châu Phi, Trung & Nam Mỹ).
Cụ thé là các công ty như DuPont Pioneer, Monsanto, Syngenta, KWS (KWS UK. Ltd, 2017) và Limagram. Hiện nay, DuPont Pioneer là công ty hàng dau thế giới, chiếm giữ 26,36% thị phan hat giống ngô sinh khối toàn cầu trong năm 2016. Tiêu thụ toàn cầu đối với hạt giống ngô sinh khối tăng từ 875,45 ngàn tấn vào năm 2012 lên 1.070,06 ngàn tấn vào năm 2016, với tốc độ tăng hàng năm hơn 5,15%.
Thị trường hạt giống ngô sinh khối tăng lên chủ yếu do nhu cầu tăng lên của việc trồng ngô sinh khối 6 trang trại, chiếm gần 62,84% tổng lượng tiêu thụ hạt giống ngô sinh khối trên toàn cầu (USDA, 2018).3 Sản xuất ngô ngô sinh khối tại New Zealand năm 2016 Chỉ tiêu Đơn vị Ngô sinh khối Tổng sản lượng, thu hoạch vào 2015 nghìn tấn 985,848 Tổng san lượng, thu hoạch vào 2016 nghìn tấn 865,673 Năng suất ở New Zealand, 2015 tan/ha 19,7 Năng suất ở New Zealand, 2016 tan/ha 21,0 Nguon: Lee-Jones, 2018 Hạt giống ngô sinh khối chủ yếu gồm 2 loại: ngô biến đổi gen (GMO) va ngô không biến đổi gen, trong đó GMO chiếm khoảng 67,74% thị trường hạt giống ngô sinh khối trong năm 2016. Theo kết quả điều tra, các nhà sản xuất tại Mỹ là một trong những nhà sản xuất chính của thị trường hạt giống ngô dé phục vụ sản xuất ngô sinh khối. Xu hướng thị trường hạt giống ngô sinh khối sẽ mở rộng, vì nhu cầu dùng ngô sinh khối tăng lên. Trong vài năm tới, tiêu thụ hạt giống ngô sinh khối sẽ có xu hướng tăng trưởng mạnh.
Dự báo vào năm 2023, tiêu thụ hạt giống ngô sinh khối ước đạt 1. Tổng giá trị thị trường hạt giống ngô sinh khối toàn cầu là 5.749 triệu USD vào năm 2016, tăng lên 6.190 triệu USD vào năm 2017 và sẽ dat 8.400 triệu USD vào cuối năm 2025, với tốc độ tăng trưởng hàng năm 3,9% trong giai đoạn 2018-2025 (USDA, 2018).2 Tình hình sản xuất ngô sinh khối trong nước Trong những năm gần đây, khi kinh tế xã hội có những thay đôi lớn, nhu cầu thực phẩm, trứng sữa tăng cao dẫn đến sự phát triển nhanh của ngành chăn nuôi. Ngoài nhu cầu ngô hạt, nhu cầu ngô thu sinh khối dùng cho chăn nuôi gia súc, nhất là chăn nuôi bò sữa tăng mạnh. Điêu này góp phân làm cho cây ngô càng thêm có vai trò quan trọng trong nên kinh tế nông nghiệp ở nước ta.
Một số doanh nghiệp sữa như Vinamilk, Truemilk cũng có trồng ngô làm thức ăn xanh cho bò sữa trong trang trại. Các doanh nghiệp này cũng như một số nông dân khác chủ yếu dùng các giống ngô lai lay hat phổ biến trong sản xuất như NK67, NK7328 (là những giống dé trồng lay hạt phổ biến trong sản xuất hiện nay, chưa có nghiên cứu chính thức nao về tiềm năng của các giống này khi trồng làm thức ăn xanh), để trồng làm thức ăn chăn nuôi. Việt Nam có nghề chăn nuôi gia súc khá phát triển, số lượng trang trại bò thịt, bò sữa tăng cao (trên 2,5 triệu con trâu, gần 5,5 triệu con bò, trong đó bò sữa trên 285 nghìn con), nên nhu cầu lượng thức ăn xanh từ việc trồng cỏ và trồng ngô sinh khối làm thức ăn cho gia súc là rất lớn, tập trung chủ yếu ở các vùng: Mộc Châu (Sơn La), Ba Vì (Hà Nội), Yên Bái, Hà Nam, Nghĩa Đàn, Đô Lương, Anh Sơn, Diễn Châu, Con Cuông (Nghệ An), Cam Thủy, Tho Xuân, Như Thanh (Thanh Hóa), Đồng Nai, Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh), Bình Dương, Tây Ninh, Long An.
Ở Việt Nam xu hướng nhóm các hộ nông dân sản xuất gia công ngô sinh khối theo hợp đồng cho các nhà máy như Nhà máy chế biến ngô sinh khối Việt Nông Lâm (Trảng Bom - Đồng Nai) hoặc Công ty TH Milk (Nghia Đàn - Nghệ An), Công ty Vina Milk (Don Dương - Lâm Đồng). Sáu tháng đầu năm 2017, toàn xã Đĩnh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An có 298 ha trồng ngô lấy sinh khối, chủ yếu cung cấp cho các trang trại bò sữa, bò Uc, Công ty CP chăn nuôi Bình Hà (Tập đoàn Hoang Anh Gia Lai). Giống ngô cung cấp thức ăn cho bò được ba con trồng là các giống CT919, NK67, NK7328 có ưu điểm nổi trội là thời gian sinh trưởng ngắn (2 tháng), ngắn hơn ngô hat 1 tháng, mật độ cây cao hơn, năng suất sinh khối cao. Đồng Nai là tỉnh có điện tích trồng ngô lớn nhất các tỉnh Nam Bộ với hơn 60.
Cây ngô có vai trò chủ lực đối với địa phương cũng như nông dân khu vực, năm 2017 toàn tinh đã chuyên đôi hơn 40% diện tích sang trồng ngô thu sinh khối (Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đồng Nai, 2017).4 Diện tích, năng suất ngô sinh khối LCH9 tại các tinh từ 2010 đến 2017 Diện tích Năng suất sinh : Năm đx. cử? Địa diém (ha) khôi (tân/ha) 2010 50 45 — 50 Mộc Châu - Sơn La 2011 105 46 — 49 Mộc Châu - Sơn La 2012 500 50 - 55 Mộc Châu - Sơn La 2013 1007 45 - 50 Mộc Châu - Sơn La 2014 1550 45 - 55 Sơn La, Đồng Nai, TP.