Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycine max(L)Merrill) còn gọi là cây đậu nành là một loại cây trồng có từ lâu đời được xem là loại “cây kỳ lạ”, “vàng mọc từ đất”, “cây thần diệu”, “cây đỗ Thần”… sở dĩ cây đậu tương được đánh giá như vậy chủ yếu là do giá trị kinh tế của nó. Các phân tích sinh hóa cho thấy rằng hạt đậu tương chứa từ 38 - 45% Protein, 18 - 22% Lipit, nhiều vitamin và khoáng chất. Hiện nay đậu tương đang cung cấp 10 - 20% nhu cầu dinh dưỡng đạm cho người và 50% thức ăn gia súc trên toàn thế giới với sản lượng 245 triệu tấn/năm (năm 2002) (Hội thảo đậu tương quốc gia, 2003) [10]. Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các loại axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Valin, Izovalin, Leuxin, Methionin, Triptophan có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của cơ thể trẻ em và gia súc.
Ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [20]. Đậu tương có khả năng tích lũy đạm của khí trời để làm giàu đạm cho đất nhờ vào sự cộng sinh vi khuẩn nốt sần ở bộ rễ trong điều kiện thuận lợi, các vi khuẩn nốt sần Rhizolium Japonicum có thể tích lũy được một lượng đạm tương đương từ 20 - 25kg Urê/ha. Bởi vậy trồng đậu tương có tác dụng cải tạo đất tốt lên và bổ sung nhiều dinh dưỡng hơn cho đất. Nhờ những ưu điểm nổi bật trên mà cây đậu tương đã trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và trong đời sống xã hội nhiều nước trên thế giới.
Hạt đậu tương là mặt hàng xuất khẩu đem lại nguồn thu đáng kể cho nhiều quốc gia. Nhiều nước đã tập trung n 2 nghiên cứu và sản xuất đậu tương với số lượng lớn như Mỹ, Brazil, Achentina. Ở Việt Nam diện tích và sản lượng đậu tương trong những năm gần đây liên tục tăng. Đến nay cây đậu tương đã trở thành cây trồng chính trong cơ cấu cây trồng của nhiều vùng sản xuất ở nước ta.
Thái Nguyên là tỉnh thuộc trung du miền núi phía Bắc với tổng diện tích đất tự nhiên 353318,91 ha; trong đó diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp chiếm trên 30% (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2013) [4]. Đậu tương là một trong nhóm cây trồng hàng năm được tỉnh quan tâm chỉ đạo sản xuất. Vì đậu tương là cây trồng ngắn ngày, có giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao; không quá kén đất; có thể gieo trồng cả 3 vụ; có khả năng cải tạo đất. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trong tỉnh luôn giảm ( Năm 2005 diện tích là 3389ha; năm 2010 là 1567ha; năm 2011 là 1039ha; năm 2012 là 1418ha; năm 2013 là 1309ha; đến năm 2014 diện tích trồng đậu tương của tỉnh chỉ còn hơn 1,2 nghìn ha) (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2014) [5] không đủ đậu tương cung cấp cho ngay cả thị trường trong tỉnh.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên”. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2. Mục tiêu Xác định được loại phân bón hữu cơ sinh học phù hợp với sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu tại Thái Nguyên. Yêu cầu - Xác định loại phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên.
- Xác định lọai phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên. - Xác định loại phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến khả năng chống chịu của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên. - Xác định loại phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 4.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả của đề tài là cơ sở để xác định biện pháp kỹ thuật phù hợp cho giống đậu tương ĐT51 tại Thái Nguyên. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài Để có đủ nguồn lương thực, thực phẩm chất lượng nuôi sống người dân trong bối cảnh khí hậu, môi trường sinh thái có nhiều biến đổi, người nông dân phải tiến hành một nền thâm canh hiện đại.
Nền sản xuất này đòi hỏi phải dựa trên việc áp dụng một cách khoa học các yếu tố giống, nước, phân bón và kỹ thuật chăm sóc,. đồng thời phải bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường. Nước ta đã có nhiều hướng đầu tư nghiên cứu phát triển cây đậu tương như: Nghiên cứu về giống nhằm chọn tạo và nhập nội các loại giống mới phù hợp với điều kiện nước ta. Nghiên cứu các biện pháp thâm canh, các chế độ phân bón thích hợp cho từng giống, từng vùng.
đã đem lại những hiệu quả nhất định. Để góp phần làm tăng năng suất đậu tương, đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu. Bên cạnh việc nghiên cứu về giống, thời vụ thì nghiên cứu về phân bón lót là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất đậu tương. Bón lót nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho sự sinh trưởng ban đầu của cây đậu tương.
Phân dùng bón lót là những loại phân mà cây đậu tương không thể hấp thu ngay từ khi còn nhỏ, mà cần có một thời gian phân giải trong đất thành các chất dễ hấp thu. Phân dùng bón lót chủ yếu là phân hữu cơ. Phần lớn là phân chuồng đã ủ hoai mục và phân hữu cơ chế biến. Ngoài việc cung cấp chất dinh dưỡng, phân hữu cơ còn làm cho đất tơi xốp, giúp tăng cường hoạt động cho hệ sinh vật có lợi ích trong đất, để phát huy tác dụng này cần bón lót sớm, trước hoặc ngay khi chuẩn bị gieo trồng.
Việc chọn được loại phân hữu cơ bón lót thích hợp sẽ giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, tăng năng suất tốt hơn. Tình hình sản xuất, nghiên cứu phân bón đậu tương trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương giữ vai trò quan trọng trong các cây lấy dầu của thế giới, tiếp sau đó là lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ, trên toàn bộ cây lấy dầu trên thế giới đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% năm 1980. Ngược lại sản lượng của cây lạc lại giảm xuống từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời kỳ (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [6], đồng thời đậu tương cũng là cây đứng thứ tư trong các cây làm lương thực, thực phẩm (sau lúa mì, lúc nước và ngô) (Chu Văn Tiệp, 1981) [19].
Hiện nay đậu tương được trồng ở 78 nước trên thế giới, trong đó trồng tập trung nhiều nhất ở các nước Châu Mỹ (chiếm tới 73%), tiếp theo là các nước thuộc khu vực Châu Á với 23,15% (Lê Độ Hoàng và cs, 1977) [11]. Tình hình sản xuất đậu tương của thế giới trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Năm Diện Tích Năng Suất Sản Lượng (ha) (tạ/ha) (tấn) 2010 102,79 25,78 264,91 2011 103,82 25,20 261,60 2012 105,37 22,93 241,58 2013 111,63 24,91 278,09 2014 117,72 26,20 308,44 (Nguồn: FAOSTAT Browse Data,2016) [26] Diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương có xu hướng tăng lên. Từ năm 2010 - 2014, trong 5 năm diện tích trồng đậu tương tăng lên khoảng 14,93 triệu ha tăng 14,51% so với năm 2010.
Diện tích trồng đậu tương của thế giới cao nhất đạt 117,72 triệu ha vào năm 2014. n 6 Năng suất: Năng suất đậu tương của thế giới những năm gần đây tương đối ổn định dao động từ 22,93 tạ/ha đến 26,2 tạ/ha. Năm 2012, năng suất đậu tương là thấp nhất 22,93 tạ/ha. Năm 2014, năng suất đậu tương tăng cao nhất là 26,2 tạ/ha.
Sản lượng: Sản lượng đậu tương của thế giới trong những năm gần đây đã có sự biến động nhưng biến động không đáng kể. Trong 5 năm trở lại đây 2010 - 2014 sản lượng đậu tương tăng 43,53 tấn tương đương với 16,43%. Năm 2014 sản lượng đậu tương lớn nhất đạt 308,44 triệu tấn. Hiện nay khoảng 90 - 95 % sản lượng đậu tương trên thế giới tập trung ở 4 quốc gia là: Mỹ, Brazil, Trung Quốc và Achentina(Phạm Văn Thiều, 2006) [20].
Sản lượng của các nước này chiếm khoản 90 - 95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới và được thể hiện rõ ở bảng 2. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương ở 4 quốc gia đứng đầu thế giới Năm 2013 Năm 2014 Sản Sản Năng Năng Diện tích lượng Diện tích lượng suất suất Tên nước (triệu/ha) (triệu (triệu/ha) (triệu (tạ/ha) (tạ/ha) tấn) tấn) Mỹ 85,79 28,34 243,09 91,86 29,53 271,21 Brazil 27,91 29,29 81,72 30,27 28,99 86,76 Achentina 19,42 25,39 49,31 19,25 27,74 53,4 Trung 6,79 17,6 11,95 6,73 18,13 12,2 quốc (Nguồn: FAOSTAT Browse Data, 2016)[26] n 7 Mỹ là nước sản xuất, tiêu thụ và nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới. Mỹ coi đậu tương là sản phẩm chiến lược trong ngành nông nghiệp nên đã liên tục mở rộng diện tích trồng đậu tương bằng cách thay thế các cây trồng khác bằng đậu tương. Để đạt lợi nhuận cao nhất, các nhà sản xuất đậu tương ở Mỹ đã đầu tư mạnh và nghiên cứu mở rộng thị trường.
Đến nay, Mỹ đã hỗ trợ trên 18 chương trình và mở rộng thị trường tại 70 nước, nghiên cứu giảm giá thành phẩm, nâng cao chất lượng hạt và tạo nhiều sản phẩm mới từ đậu tương. Hiệp hội đậu tương Hoa Kỳ ASA được thành lập từ năm 1920 và có 52000 hội viên tham gia. Hiện nay, ở Mỹ cây đậu tương đang đứng thứ 3 về diện tích sau lúa mì và ngô đứng thứ hai về giá trị kinh tế. Đậu tương đối với Mỹ được coi là mặt hàng có giá trị chiến lược trong xuất khẩu và thu ngoại tệ.
Tiếp sau Mỹ phải kể đến Brazil là nước đứng thứ hai trên thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương.