Đặt vấn đề Cây sắn (Manihot esculenta crantz) là một trong những cây lƣơng thực dễ trồng, có khả năng thích ứng rộng, và trồng đƣợc trên những vùng đất nghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc. Sắn đƣợc trồng rộng rãi ở 300 Bắc đến 300 Nam và đƣợc trồng ở trên 100 nƣớc nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á. Trên thế giới sắn là cây lƣơng thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệu ngƣời đồng thời là cây thức ăn gia súc và cũng là cây hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao. Sắn là cây lƣơng thực rất quan trọng bởi có giá trị lớn trên nhiều mặt: Sắn là nguồn lƣơng thực đáng kể cho con ngƣời, hiện nay nhiều nƣớc trên thế giới đã sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lƣơng thực chính, nhất là các nƣớc của Châu Phi.
Tinh bột sắn còn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ ngƣời trên thế giới. Sắn cũng là thức ăn cho gia súc. Gia cầm quan trọng tại nhiều nƣớc trên thế giới, ngoài ra sắn còn là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dƣợc phẩm… Đặc biệt trong thời gian tới việc nghiên cứu phát triển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang đƣợc các quốc gia trên thế giới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà sắn là một cây nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Chƣơng trình sản xuất ethanol của chính phủ Braxin đã tạo ra gần 1 triệu việc làm cho ngƣời lao động.
Ở Việt Nam, sắn là cây lƣơng thực quan trọng sau lúa và ngô. Cả nƣớc hiện có hơn 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn, nhà máy với n 2 tổng công suất 2,2 - 3,8 triệu tấn sắn củ tƣơi/năm. Tổng sản lƣợng tinh bột sắn của Việt Nam hiện đạt 600 - 800 nghìn tấn, trong đó có khoảng 70% dành cho xuất khẩu và 30% tiêu thụ trong nƣớc. Cây sắn ở Việt Nam ngày càng có nhu cầu cao trong công nghiệp chế biến tinh bột, thức ăn gia súc, thực phẩm, dƣợc liệu và trở thành cây hàng hóa xuất khẩu của nhiều tỉnh, công nghiệp chế biến ngày càng đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của ngƣời dân ngày càng tốt hơn.
Hiện nay ở nƣớc ta cây sắn đang đƣợc chuyển đổi nhanh chóng từ vai trò cây lƣơng thực thành cây nguyên liệu cho công nghiệp với tốc độ phát triển cao ở những năm đầu thế kỷ XXI. Sắn đã có thị trƣờng tiêu thụ, hình thành nhiều vùng nguyên liệu và trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều hộ nông dân. Tuy nhiên, năng suất sắn của Việt nam còn thấp, do thực hiện chƣa đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh nhƣ trồng chƣa đúng thời vụ mật độ khoảng cách trồng, cũng nhƣ phân bón chƣa phù hợp với đúng vùng sinh thái khác nhau. Để nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả sản xuất sắn, góp phần ổn định nguồn nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến trong hiện tại và tƣơng lai; việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa hoc, kỹ thuật và công nghệ mới nhƣ: Giống, các biện pháp kỹ thuật canh tác trong đó có sử dụng phân hữu cơ vi sinh bón cho sắn tại các vùng sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng và giá trị kinh tế của cây sắn là một yêu cầu bức thiết.
Xuất phát từ những thực tế trên em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh Glutathione đến năng suất và chất lượng giống sắn KM98 -7 tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích yêu cầu nghiên cứu của đề tài Xác định lƣợng phân bón hữu cơ vi sinh Glutathione thích hợp đối với giống sắn mới KM98-7 để đạt đƣợc năng suất cao, chất lƣợng tốt nhất trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho ngƣời nông dân. Yêu cầu nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hƣởng của lƣợng phân bón hữu cơ vi sinh đến sinh trƣởng, phát triển của giống sắn mới KM98 - 7. - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng phân bón hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống sắn mới KM98 - 7.
- Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng phân bón hữu cơ vi sinh đến chất lƣợng của giống sắn mới KM98 - 7. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm kiến thức cũng nhƣ kinh nghiệm trong sản xuất. - Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao đƣợc chuyên môn, có phƣơng pháp và tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới hiện nay.
Ý nghĩa trong sản xuất Là cơ sở khuyến cáo kĩ thuật cho nông dân lựa chọn và bổ sung thêm lƣợng vi sinh cho cây sắn phù hợp nhằm đạt đƣợc năng suất cao, chất lƣợng tốt để đƣa vào áp dụng trong sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nói chung. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu sắn trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất trên thế giới và Việt Nam.
Tình hình sản xuất sắn trên thế giới Theo số liệu thống kê của FAO, tính đến năm 2013 diện tích trồng sắn trên thế giới đạt 20,73 triệu ha với năng suất bình quân 13,35 tấn/ha, tổng sản lƣợng đạt đƣợc là 276,72 triệu tấn.1: Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn trên thế giới từ năm 2006 - 2013 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2006 18,56 12,06 223,85 2007 18,62 12,15 226,30 2008 18,77 12,44 233,50 2009 18,75 12,50 234,55 2010 19,29 12,47 240,66 2011 20,06 12,78 256,40 2012 20,39 12,88 262,59 2013 20,73 13,35 276,72 (Nguồn: FAOSTAT, 2014 ) Qua bảng số liệu 2.1 ta thấy: Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn trên thế giới có xu hƣớng tăng dần từ năm 2006 đến năm 2013. Trong đó, diện tích trồng sắn trên toàn thế giới năm 2013 tăng 11,69% (tƣơng ứng với 2,17 triệu ha), năng suất tăng 10,70% (tƣơng ứng với 1,29 triệu tấn) và sản lƣợng tăng 23,62% (tƣơng ứng với 52,87 triệu tấn) so với năm 2006. Có đƣợc kết quả đó là do chiến lƣợc n 5 phát triển lƣơng thực toàn cầu đã thực sự coi trọng giá trị của cây sắn. Mặt khác, sắn lại là cây lƣơng thực dễ trồng, có thể sinh trƣởng và cho năng suất cao khi đất nghèo dinh dƣỡng, là cây trồng công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao với nhiều cây công nghiệp khác.2: Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn của các Châu trên Thế giới năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Vùng trồng (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Toàn thế giới 20,73 13,35 276,72 Châu Phi 14,18 11,14 157,99 Nigeria 3,85 14,03 54,00 Cộng hòa Congo 0,16 7,81 1,25 Angola 1,17 14,05 16,41 Ghana 0,87 16,72 14,55 Mozambique 0,78 12,82 10,00 Châu Mỹ 2,35 12,86 30,25 Brazil 1,53 13,91 21,23 Paraguay 0,18 16,00 2,80 Colombia 0,23 10,72 2,48 Peru 0,10 12,10 1,18 Haiti 0,06 7,00 0,42 Châu Á 4,18 21,10 88,22 Indonesia 1,12 22,46 23,94 Thái Lan 1,39 21,82 30,23 Việt Nam 0,54 17,90 9,74 Ấn Độ 0,21 34,96 7,23 Trung Quốc 0,29 16,09 4,85 (Nguồn FAOSTAT 2014) n 6 Qua bảng số liệu cho ta thấy: Châu Phi đứng đầu thế giới về diện tích trồng sắn lên tới 14,18 triệu ha trong khi toàn thế giới 20,73 triệu ha.
Sắn là nguồn lƣơng thực chính của nhiều nƣớc thuộc Châu lục này. Một số nƣớc trồng nhiều sắn ở Châu Phi nhƣ: Nigeria (54 triệu tấn), Angola (16,41 triệu tấn), Ghana (14,55 triệu tấn). Châu Á cùng với Châu Phi và Châu Mỹ là một trong ba vùng sắn quan trọng của thế giới. Diện tích sắn Châu Á hiện là 4,18 triệu ha, sản lƣợng đạt 88,22 triệu tấn đứng thứ hai sau Châu Phi, năng suất sắn ở Châu Á hiện đạt bình quân 21,10 tấn/ha cao hơn Châu Phi 9,66 tấn/ha.
Nƣớc có diện tích trồng sắn lớn nhất Châu Á là Thái Lan với diện tích 1,39 triệu ha và có sản lƣợng cao nhất đạt 30,23 triệu tấn. Tình trạng suy dinh dƣỡng ở trẻ em của Châu Phi cao nhất trên thế giới nên cây sắn đƣợc coi là giải pháp an toàn lƣơng thực hàng đầu, sắn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lƣơng thực ở Châu Phi, bình quân khoảng 96kg/ngƣời/năm. Zaire là nƣớc sử dụng sắn nhiều nhất với 391kg/ngƣời/năm (hoặc 1123calor/ngày). Mức tiêu thụ sắn bình quân toàn thế giới khoảng 18 kg/ngƣời/năm.
Sản lƣợng sắn của thế giới đƣợc tiêu dùng trong nƣớc khoảng 85% (lƣơng thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại 15% đƣớc xuất khẩu dƣới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT, 1993). Nhu cầu sắn làm thức ăn gia súc trên toàn cầu đang giữ ở mức độ ổn định trong năm 2006 (FAO, 2007). Trung Quốc hiện là nƣớc nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm cồn sinh học (bio ethanol), tinh bột biến tính (mobify starch), thức ăn gia súc và dùng trong công nghiệp thực phẩm dƣợc liệu. Thái Lan chiếm trên 85% lƣợng xuất khẩu sắn toàn cầu, tiếp đến là Indonexia và Việt Nam.
Thị trƣờng xuất khẩu sắn của Thái Lan là Trung n 7 Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và thị trƣờng cộng đồng Châu Âu với tỷ trọng xuất khẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bột sắn, 25% là sắn lát và sắn viên (IITA, 2006; FAO, 2007). Viện nghiên cứu chính sách lƣơng thực thế giới (IFPRI), đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020. Năm 2020 sản lƣợng sắn toàn cầu ƣớc đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn ở các nƣớc đang phát triển là 274,7 triệu tấn, các nƣớc đã phát triển khoảng 0,40 triệu tấn. Mức tiêu thụ sắn ở các nƣớc đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nƣớc đã phát triển là 20,5 triệu tấn.
Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lƣợng sắn toàn cầu với dự báo sản lƣợng năm 2020 đạt 168,6 triệu tấn.