CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở Tam Kỳ 1. Vị trí địa lý Thành phố Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, có tọa độ địa lý từ 15056’ vĩ độ Bắc đến 108048’ kinh độ Đông với tổng diện tích tự nhiên là 9.
Nằm cách thành phố Đà Nẵng 70 km về phía Nam, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà 25 km, cách khu công nghiệp và nhà máy lọc dầu Dung Quất khoảng 40 km về phía Bắc. - Phía Bắc: Giáp huyện Thăng Bình và Phú Ninh. - Phía Nam: Giáp huyện Núi Thành. - Phía Đông: Giáp biển Đông.
- Phía Tây: Giáp huyện Phú Ninh. Thành phố Tam Kỳ có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Với tiềm năng địa thế đặc thù, gần các vùng kinh tế trọng điểm và sân bay Chu Lai, Tam Kỳ có được các điều kiện thuận lợi để phát triển một đô thị lớn với vai trò là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam. Hiện nay, thành phố Tam Kỳ gồm 13 đơn vị xã, phường (9 phường, 4 xã: Phường Tân Thạnh, Hòa Thuận, An Mỹ, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Phước Hòa, An Phú, Trường Xuân và xã Tam Ngọc, Tam Phú, Tam Thăng, Tam Thanh) với diện tích tự nhiên là 9.263,56 ha, dân số 109.
Đặc điểm địa hình Thành phố Tam Kỳ nằm trên vùng đồng bằng có độ dốc nhỏ, nằm cách khu vực bờ biển khoảng 5 km. Thành phố có địa hình nhìn chung nghiêng theo hướng Tây Nam và Đông Bắc. Khu vực đô thị của Thành phố có địa hình tương đối bằng phẳng ở phía Bắc, phía Đông, phía Nam và có nhiều đồi núi ở phía Tây. Độ dốc trung bình của nội thị từ 2% - 4%.
Cao độ trung bình của các khu vực ven sông và khu trung tâm thay đổi từ 2,0m – 4,0m. Địa hình khu vực phía Tây của Thành phố có cao độ lớn hơn 6,0m và có những quả đồi nằm tách biệt có đỉnh ở độ cao lên tới 40m. Thành phố Tam Kỳ có dạng địa hình vùng đồng bằng 3 duyên hải Nam Trung Bộ. Là vùng chuyển tiếp từ dạng đồi núi cao phía Tây, thấp dần xuống vùng đồng bằng, thềm bồi của các con sông trước khi đổ ra biển Đông.
[27] Đất đai có dạng đồi thấp, và đồng bằng được tạo thành do bồi tích sông, biển và quá trình rửa trôi. Hướng dốc chung của địa hình là từ Tây sang Đông. Nhìn chung địa hình toàn khu vực bị chia cắt nhiều bởi các sông, suối thuộc lưu vực của sông Trường Giang. Chế độ khí hậu thời tiết Thành phố Tam Kỳ nằm trong phân vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa.
Trong năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ và độ ẩm Nhiệt độ Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng trong việc trồng dưa. Giúp dưa sinh trưởng và phát triển bình thường. - Nhiệt độ trung bình năm: 25,90C.
+ Nhiệt độ trung bình cao nhất: 28 – 29,70C (tháng 5 – 8). + Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 21 – 220C. + Biên độ nhiệt trung bình tháng: 70C. - Nhiệt độ các tháng của vụ Đông Xuân như sau: + Tháng 12 có nhiệt độ trung bình: 22,6 ºC.
+ Tháng 1 có nhiệt độ trung bình: 25,5 ºC. + Tháng 2 có nhiệt độ trung bình: 23,1 ºC. [28] Độ ẩm Độ ẩm là lượng hơi nước tồn tại trong không khí. Độ ẩm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển đối với cây trồng.
- Độ ẩm trung bình trong năm: 86%. + Mùa Đông (tháng 9 đến tháng 10): độ ẩm trung bình tháng 82%. + Mùa hè (tháng 4 đến tháng 9): độ ẩm trung bình 75 – 81%. - Độ ẩm các tháng của vụ Đông Xuân: 4 + Tháng 12 có độ ẩm trung bình là 96%.
+ Tháng 1 có độ ẩm trung bình là 76%. + Tháng 2 có độ ẩm trung bình là 83%. [28] Qua số liệu trên cho ta thấy độ ẩm của các tháng là khác nhau. Độ ẩm này các VSV rất dễ phát sinh nhất là nấm và sâu bệnh hại.
Mưa Lượng mưa là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình trồng trọt. Mùa mưa chủ yếu tập trung nhiều vào các tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa chiếm 70 – 75% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chỉ chiếm 25 – 30% lượng mưa cả năm. Cuối năm 2016 đến đầu năm 2017, với nước ta nói chung và TP Tam Kỳ nói riêng thì trong khoảng thời gian này có lượng mưa nhiều.
Cụ thể như sau: - Tháng 12: Có lượng mưa trung bình đo dược là 1205,3 mm. - Tháng 1: Có lượng mưa trung bình đo được là 495,4 mm. - Tháng 2: Có lượng mưa trung bình đo được là 167,5 mm. Chế độ nắng Giờ nắng trung bình trong ngày 5 – 9 giờ.
Chế độ gió Trong năm thường có các hướng gió chính như sau: - Hướng Đông Bắc đến Bắc: Thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 3 với tốc độ trung bình 4 – 5m/s. - Hướng Đông đến Đông Nam sau đó chuyển sang Tây đến Tây Nam trong những tháng từ 4 – 8, tốc độ gió trung bình 4 – 6m/s. Vận tốc gió trung bình năm 2,9m/s, lớn nhất trung bình từ 18 – 20m/s, vận tốc gió cực đại khi có bão lên tới 40m/s. Chế độ thời tiết đặc biệt Bão: Xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12.
Trung bình hằng năm có 0,5 cơn bão đổ bộ trực tiếp và 2 – 3 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến khu vực. Gió Tây khô nóng: Gió Tây Nam khô nóng xuất hiện vào khoảng tháng 5 5 đến tháng 8, mỗi tháng có từ 10 – 15 ngày khô nóng. Chế độ thủy văn Do nằm trong vùng có lượng mưa lớn, hệ thống sông ngòi trong tỉnh khá phát triển. Hệ thống sông Thu Bồn là một trong những hệ thống sông lớn của Việt Nam với tổng diện tích lưu vực khoảng 9.
Sông Tam Kỳ với diện tích lưu vực 800 km2 là sông lớn thứ hai. Ngoài ra, còn có các sông có diện tích nhỏ hơn như sông Cu Đê 400 km2, Túy Loan 300 km2, Lili 280 km2… Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm, lưu lượng dòng chảy sông Vu Gia 400m3/s, Thu Bồn 200m3/s có giá trị thủy điện, giao thông và thủy nông lớn. Hiện tại trên hệ thống sông Thu Bồn, nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh 1 và 2, Sông A Vương, Sông Bung… đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước. Sơ lược về cây dưa lưới 1.
Nguồn gốc và phân loại cây dưa lưới 1. Nguồn gốc Dưa lưới có nguồn gốc từ Ấn Độ và Châu Phi. Người Ai Cập là những người đầu tiên trồng loài cây này, sau đó là người Hy Lạp và La Mã. Và ngày nay dưa được trồng nhiều nơi trên thế giới.
[15] Hồ sơ rộng rãi cũng được tìm thấy trong các tác phẩm Trung Quốc cổ đại từ khoảng năm 2000 trước CN (WALTERS 1989) và các văn bản Hy Lạp và La Mã từ thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, Pangalo (1929) cho rằng các loại dưa ngọt được nhập khẩu từ Ba Tư hoặc hành lý của khách du lịch làm cho chúng xuất hiện ở Châu Âu chỉ khoảng thế kỷ XIII. [25] Theo một số tài liệu nghiên cứu, cây dưa có nguồn gốc ở Châu Phi, người Ai Cập đã sử dụng dưa ít nhất 4000 năm. Nhà truyền giáo David Livingstone (1857) đã phát hiện thấy cả hai loài dưa ngọt và dưa đắng hoang dại sinh trưởng ở Châu Phi. Ông để ý thấy người địa phương dùng chúng như nguồn nước trong mùa khô.
Ở vùng cận nhiệt đới Châu Phi vẫn còn những vùng dưa hấu rộng lớn tồn tại cho tới ngày nay. 6 Tên dưa đã được xuất hiện trong ngôn ngữ văn chương của dân tộc trên thế giới như: Ả Rập, tiếng Phạm, tiếng Tây Ban Nha… Cây dưa lưới lần đầu tiên được Cristoforo Colombo đưa đến Bắc Mỹ trên hành trình lần thứ hai của ông đến Tân Thế Giới vào năm 1494. [15] Dưa lưới mới xuất hiện ở nước ta khoảng 10 năm trở lại đây. Dưa lưới là cây mới nhập nội và trong một số năm gần đây nó đã thích nghi với khí hậu nước ta, cho kết quả tốt, nhân dân ta tự để giống được.
Tuy vậy, trong một số năm phẩm chất dưa lưới đã kém đi, quả to ra, mùi thơm và vị ngọt giảm, màu sắc không thuần. Đó là do người trồng chưa có công thức bón phân đúng và phù hợp với cây dưa lưới. Dưa lưới có nguồn gốc từ Đài Loan là giống mới được nhập nội và trồng tại Việt Nam trong một vài năm gần đây và đã cho kết quả khá khả quan về năng suất, chất lượng quả, giá thành bán cao do đó được người trồng rất quan tâm. Tuy nhiên, vấn đề của sản xuất hiện nay là chúng ta chưa có bộ giống tốt, chưa có quy trình canh tác cũng như quy trình sử dụng phân bón cụ thể cho cây dưa nên năng suất, chất lượng của dưa lưới không cao, trong đó nguyên nhân chính có thể là do dinh dưỡng cung cấp cho cây chưa phù hợp với sự sinh trưởng của cây dưa lưới.
Phân loại Dưa lưới còn được gọi là dưa vàng, có tên khoa học là Cucumis melo. - Giới : Plantae - Ngành : Magnoliophyta - Lớp : Dicotyledoneae - Bộ : Cucurbitales - Họ : Cucurbitaceae - Chi : Cucumis - Loài : melo - Phân loài : melo - Thứ : cantalupensis. Đặc điểm sinh học của cây dưa lưới Hình 1. Cây dưa lưới (Cucumis melo.L) - Thân: Dưa lưới có dạng thân bò hoặc leo.
Thân rỗng, sinh trưởng khỏe, cao từ 2 – 5m, phân thành nhiều nhánh. Trên thân có nhiều lông tơ màu trắng. Thân có nhiều mắc, mỗi mắc có 1 lá, 1 chồi nách và vòi bám. Chồi nách có khả năng phát triển thành nhánh như thân chính, chồi gần gốc phát triển mạnh hơn chồi gần ngọn.
- Lá: Có hai dạng lá là lá mầm và lá thật. Lá mầm là lá ra đầu tiên, tồn tại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây, nuôi cây trong giai đoạn đầu, lá có hình oval hay hình trứng. Lá mầm là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự sinh trưởng của cây ở giai đoạn đầu. Lá mầm to dày, phát triển cân đối hứa hẹn cây sinh trưởng mạnh, lá mầm nhỏ, mỏng, mọc không cân đối cây sẽ sinh trưởng yếu.
Lá thật là lá đơn, hình trái tim.