Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe của con người, các loại rau quả tươi đóng vai trò thiết yếu khi cung cấp các chất dinh dưỡng cơ bản như vitamin, muối khoáng, chất xơ, đường, protein và các hoạt chất chống oxy hóa tự nhiên. Trong nhóm cây rau ăn quả thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), dưa lưới (Cucumis melo L.) là loại cây nhiệt đới có giá trị thương phẩm và hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích có thể cao gấp 2 đến 3 lần so với cây lúa. Dưa lưới có thời gian sinh trưởng ngắn, thịt quả chứa hàm lượng cao beta-carotene, kali, vitamin C và enzyme superoxide dismutase (SOD), đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ăn tươi cũng như phục vụ công nghiệp chế biến, xuất khẩu.

Tại Việt Nam, dưa lưới được nhập nội và trồng thử nghiệm trong khoảng 10 năm trở lại đây và đã thích nghi tương đối tốt với điều kiện khí hậu nhiều vùng sinh thái. Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất cho thấy chất lượng dưa lưới tại nhiều địa phương có xu hướng suy giảm: kích thước quả không đồng đều, độ ngọt và mùi thơm giảm sút, màu sắc vỏ và thịt quả kém thuần. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu quy trình canh tác chuẩn hóa, trong đó chế độ dinh dưỡng khoáng (đặc biệt là tổ hợp phân bón đa lượng N, P, K) chưa được xác định phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây trên các nền thổ nhưỡng cụ thể. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất nông nghiệp tại địa phương, đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây dưa lưới (Cucumis melo.L) tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam" được thực hiện nhằm xác định chế độ dinh dưỡng tối ưu cho cây dưa lưới.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Đánh giá ảnh hưởng của một số liều lượng phân bón khác nhau đến sinh trưởng và phát triển của cây dưa lưới.
  2. Đánh giá ảnh hưởng của một số liều lượng phân bón khác nhau đến năng suất và chất lượng của cây dưa lưới.
  3. Xác định được công thức bón phân thích hợp để đem lại hiệu quả cao trong sản xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống dưa lưới (Cucumis melo L.) do Công ty TNHH - TM Trang Nông cung ứng; các loại phân bón vô cơ đa lượng gồm phân đạm (urea), phân lân (super lân) và phân kali (kali clorua - KCl), kết hợp với phân chuồng hoai mục và vôi bột.
  • Phạm vi không gian: Vườn thực nghiệm Sinh – Bảo vệ thực vật, Khoa Lý – Hóa – Sinh, Trường Đại học Quảng Nam, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
  • Phạm vi thời gian: Vụ Đông – Xuân, tiến hành từ tháng 12/2016 đến tháng 04/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên cơ sở phân loại thực vật học của cây dưa lưới: giới Plantae, ngành Magnoliophyta, lớp Dicotyledoneae, bộ Cucurbitales, họ Cucurbitaceae, chi Cucumis, loài melo, phân loài melo, thứ cantalupensis. Về đặc tính sinh học, dưa lưới là cây thân thảo bò hoặc leo, thân rỗng dài từ 2 đến 5 m có phủ lông tơ trắng, rễ chính ăn sâu từ 50 đến 120 cm, rễ phụ lan rộng từ 60 đến 80 cm ở tầng đất mặt. Cây có hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực xuất hiện trước và chiếm tỷ lệ cao hơn hoa cái (khoảng 6-7 hoa đực trên 1 hoa cái), thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng hoặc tác động cơ học của con người. Về nhu cầu ngoại cảnh, cây sinh trưởng thích hợp trong khoảng nhiệt độ 17–33°C, độ ẩm đất tối thích từ 75–80%, ưa đất thịt nhẹ hoặc cát pha tơi xốp, thoát nước tốt và giàu dinh dưỡng khoáng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng được triển khai theo các quy chuẩn thực nghiệm nông học:

  • Bố trí thí nghiệm: Áp dụng phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn toàn (Randomized Complete Block Design - RCBD) gồm 4 công thức thí nghiệm và 3 lần nhắc lại (I, II, III). Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 1,32 m² (trồng 4 cây/ô). Diện tích mỗi công thức thí nghiệm gồm 3 ô lặp lại là 3,96 m². Tổng diện tích 4 công thức thí nghiệm là 15,84 m², diện tích dải cách ly và bảo vệ là 9,74 m², đưa tổng diện tích khu thực nghiệm lên 22,7 m².
  • Các công thức thí nghiệm (liều lượng tính cho diện tích 500 m²):
    • Công thức 1 (CT1 - Công thức đối chứng CTĐC): Không bón phân vô cơ (chỉ sử dụng nền phân hữu cơ và vôi bột).
    • Công thức 2 (CT2): 12,5 kg urea + 25,0 kg super lân + 7,5 kg kali.
    • Công thức 3 (CT3): 15,0 kg urea + 30,0 kg super lân + 12,5 kg kali.
    • Công thức 4 (CT4): 17,5 kg urea + 35,0 kg super lân + 17,5 kg kali.
  • Phương thức bón phân cho các công thức:
    • Bón lót toàn bộ: 100% vôi bột + 100% phân chuồng hoai mục + 40% đạm urea + 30% super lân + 30% kali.
    • Bón thúc lần 1 (khi cây hình thành tua cuốn, chuẩn bị leo giàn): 30% đạm urea + 40% super lân + 30% kali.
    • Bón thúc lần 2 (sau khi định quả/đậu quả rộ): 30% đạm urea + 30% super lân + 40% kali.

Phương pháp thu thập chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển:

  • Chỉ tiêu sinh trưởng: Đếm số lá thật trung bình trên thân chính từ gốc đến ngọn theo chu kỳ 10 ngày/lần (tại các mốc 10, 20, 30, 40, 50 ngày sau trồng). Đo diện tích lá trung bình ($S$) tại các mốc 20, 30, 40 ngày sau trồng bằng phương pháp cân đồ hình tam suất: sử dụng mẫu giấy chuẩn diện tích $S_1 = 1 \text{ dm}^2$ có khối lượng $m_1$, đồ hình phiến lá lên giấy cùng loại, cắt và cân khối lượng giấy cắt $m_2$ để tính diện tích phiến lá $S_2 = S_1 \times (m_2 / m_1)$. Chiều cao cây đo bằng thước kẻ kỹ thuật từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng (10, 20, 30, 40, 50 ngày). Đường kính thân đo gián tiếp qua chu vi thân ($c$) bằng thước dây tại vị trí quy định và tính qua công thức $d = c / \pi$ (20, 30, 40 ngày). Số nhánh sơ cấp được đếm trực tiếp trên thân chính (20, 30, 40, 50 ngày). Thời gian ra tua cuốn trung bình ghi nhận số ngày từ khi trồng đến khi xuất hiện tua cuốn đồng loạt.
  • Chỉ tiêu phát triển: Theo dõi thời gian ra hoa (số ngày từ khi trồng đến khi hoa đầu tiên nở), đếm số hoa cái và hoa đực trung bình/cây trong thời kỳ hoa nở rộ, tính tỷ lệ đậu quả theo công thức: $\text{Tỷ lệ đậu quả (%)} = (\text{Tổng số quả đậu} / \text{Tổng số hoa trên cây}) \times 100$, và xác định số lượng quả trung bình trên cây.
  • Nguồn dữ liệu và phương pháp xử lý: Dữ liệu thu thập từ các lần đo đếm thực địa trên 4 cây/ô thuộc 3 lần nhắc lại. Số liệu được tổng hợp và phân tích thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel, xác định giá trị trung bình mẫu ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$) và kiểm định sai khác giá trị trung bình bằng phép thử Student ($t$).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1 hệ thống hóa điều kiện tự nhiên tại địa bàn nghiên cứu và tình hình nghiên cứu cây dưa lưới trong và ngoài nước:

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tại thành phố Tam Kỳ: Tam Kỳ nằm ở tọa độ 15°56' vĩ Bắc và 108°48' kinh Đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình năm đạt 25,9°C. Khí hậu có sự phân mùa sâu sắc giữa mùa mưa và mùa khô. Trong thời gian thực hiện vụ Đông – Xuân 2016–2017, điều kiện thời tiết có diễn biến bất thường: lượng mưa tháng 12/2016 rất cao, đạt 1205,3 mm, sau đó giảm xuống 495,4 mm trong tháng 01/2017 và 167,5 mm trong tháng 02/2017. Nhiệt độ trung bình các tháng lần lượt là 22,6°C (tháng 12), 25,5°C (tháng 1) và 23,1°C (tháng 2); độ ẩm không khí trung bình tháng 12 đạt tới 96%.
  • Đặc tính sinh học và kỹ thuật canh tác: Khái quát nguồn gốc dưa lưới từ châu Phi và Ấn Độ, phân loại thực vật học, cấu tạo cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản. Tác giả tổng hợp kỹ thuật ngâm ủ hạt giống, kỹ thuật làm đất lên luống cao 0,2–0,25 m, rộng 1,0–1,2 m để tránh ngập úng, chế độ thụ phấn bổ sung vào sáng sớm, kỹ thuật bấm ngọn tỉa nhánh (tỉa bỏ nhánh nách từ nách lá 1 đến 8, giữ nhánh mang hoa cái từ lá 9 đến 12, bấm ngọn thân chính ở lá thứ 22–25) và các loại sâu bệnh hại chính (bọ trĩ, dòi đục lá, nứt thân chảy nhựa, sương mai, phấn trắng).
  • Tình hình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam: Nêu các nghiên cứu bón kali tại Thổ Nhĩ Kỳ (mức K₂O 400–600 ppm giúp tăng số quả và độ chắc quả), nghiên cứu tưới nhỏ giọt kết hợp dinh dưỡng tại Đại học Florida và thử nghiệm giống tại Việt Nam như dưa Kim Hoàng Hậu (Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), dưa bở vàng số 1, dưa Kim Cô Nương (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm).

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm tại vườn thực nghiệm Sinh – Bảo vệ thực vật của Trường Đại học Quảng Nam từ tháng 12/2016 đến tháng 04/2017:

  • Quy định cụ thể cách thức phối trộn cơ chất ươm cây (30% phân chuồng + 10% lân + 60% đất tơi xốp), kỹ thuật gieo hạt trong bầu nhựa và chuyển cây con ra ruộng thí nghiệm khi đạt 1–2 lá thật.
  • Thiết lập sơ đồ bố trí thực nghiệm RCBD với 4 công thức, diện tích ô và đai cách ly chi tiết; thiết kế tỷ lệ phân bón bón lót và bón thúc ở 2 giai đoạn chính.
  • Chuẩn hóa quy trình toán học và sinh học để thu thập 6 chỉ tiêu sinh trưởng thân lá, 4 chỉ tiêu phát triển sinh thực và phương pháp xử lý phương sai thống kê mẫu.

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và đối chiếu giữa các công thức bón phân qua các thời kỳ phát triển của cây:

  • Động thái tăng trưởng số lá (Bảng 3.1): Ở giai đoạn 10 và 20 ngày sau trồng, số lá giữa các công thức chưa có sự phân hóa lớn do cây con chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kéo dài. Từ ngày thứ 30 (bắt đầu ra hoa) đến ngày thứ 50, phân bón thể hiện rõ vai trò thúc đẩy. Tại ngày thứ 50, số lá trung bình đạt giá trị cao nhất ở CT4 với 40,67 ± 1,63 lá/cây (tăng 57,45% so với đối chứng CT1 đạt 25,83 ± 1,17 lá/cây), kế tiếp là CT3 (35,33 ± 1,21 lá/cây) và CT2 (30,17 ± 1,16 lá/cây).
  • Diện tích lá (Bảng 3.2): Tại mốc 40 ngày sau trồng, diện tích lá đơn đạt cực đại ở CT4 với 0,849 ± 0,038 dm² (vượt đối chứng 17,27%), CT2 đạt 0,812 ± 0,031 dm² (vượt 12,15%), CT3 đạt 0,783 ± 0,022 dm² (vượt 8,15%), trong khi CT1 chỉ đạt 0,724 ± 0,034 dm².
  • Chiều cao thân chính (Bảng 3.3): Chiều cao cây tăng nhanh nhất trong khoảng 30 đến 50 ngày sau trồng. Tại ngày thứ 50, chiều cao cây ở CT4 đạt 230,07 ± 1,50 cm (vượt CT1 9,40%), CT3 đạt 227,20 ± 0,44 cm (vượt CT1 8,04%), CT2 đạt 218,03 ± 0,31 cm (vượt CT1 3,68%) và CT1 đạt 210,30 ± 0,87 cm.
  • Đường kính thân (Bảng 3.4): Tại thời điểm 40 ngày sau trồng, đường kính thân ở CT4 đạt 0,75 ± 0,026 cm (cao hơn CT1 15,38%), CT3 đạt 0,73 ± 0,018 cm, CT2 đạt 0,72 ± 0,021 cm, và CT1 đạt 0,65 ± 0,015 cm.
  • Khả năng phân nhánh (Bảng 3.5): Số nhánh trên cây tăng dần theo các giai đoạn. Đến ngày thứ 50, CT4 tạo được 6,67 ± 1,03 nhánh/cây (cao hơn CT1 tới 81,74%), CT3 đạt 5,67 ± 0,82 nhánh/cây, CT2 đạt 4,17 ± 0,68 nhánh/cây, đối chứng CT1 chỉ có 3,67 ± 0,83 nhánh/cây.
  • Thời gian ra tua cuốn (Bảng 3.6): Cây ra tua cuốn dao động từ 16,67 đến 20,17 ngày sau trồng. CT4 xuất hiện tua cuốn sớm nhất (16,67 ± 1,05 ngày, rút ngắn 17,35% thời gian so với CT1 là 20,17 ± 0,75 ngày).
  • Chỉ tiêu sinh thực (Bảng 3.7, 3.8, 3.9):
    • Thời gian bắt đầu ra hoa: CT4 ra hoa sớm nhất ở ngày thứ 34,5 ± 0,55 sau trồng (sớm hơn đối chứng 5,5 ngày); CT3 ra hoa ở ngày 36,5 ± 0,84; CT2 ở ngày 37,5 ± 0,84; CT1 ra hoa muộn nhất ở ngày thứ 40,0 ± 0,63.
    • Số lượng hoa: CT4 đạt số lượng hoa cao nhất ở cả hoa đực (15,50 ± 1,22 hoa/cây) và hoa cái (2,83 ± 0,75 hoa/cây). Tỷ lệ hoa đực/hoa cái luôn duy trì ở mức cao, đáp ứng điều kiện thụ phấn.
    • Tỷ lệ đậu quả: Tỷ lệ đậu quả tăng dần từ CT1 đến CT4, đạt tương ứng: CT1 là 10,95 ± 2,87%; CT2 là 11,81 ± 1,02%; CT3 là 12,23 ± 0,95%; và CT4 đạt cao nhất là 12,76 ± 1,20%.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về phản ứng sinh trưởng và sinh thực của giống dưa lưới Trang Nông trước các mức bón phân khoáng khác nhau tại Tam Kỳ, được tổng hợp tại bảng so sánh dưới đây:

Chỉ tiêu theo dõi CT1 (Đối chứng) CT2 (12,5N - 25P - 7,5K) CT3 (15N - 30P - 12,5K) CT4 (17,5N - 35P - 17,5K) Mức tăng CT4 so với CT1 (%)
Số lá ở 50 ngày (lá/cây) 25,83 ± 1,17 30,17 ± 1,16 35,33 ± 1,21 40,67 ± 1,63 +57,45%
Diện tích lá ở 40 ngày (dm²) 0,724 ± 0,034 0,812 ± 0,031 0,783 ± 0,022 0,849 ± 0,038 +17,27%
Chiều cao ở 50 ngày (cm) 210,30 ± 0,87 218,03 ± 0,31 227,20 ± 0,44 230,07 ± 1,50 +9,40%
Đường kính thân ở 40 ngày (cm) 0,65 ± 0,015 0,72 ± 0,021 0,73 ± 0,018 0,75 ± 0,026 +15,38%
Số nhánh ở 50 ngày (nhánh/cây) 3,67 ± 0,83 4,17 ± 0,68 5,67 ± 0,82 6,67 ± 1,03 +81,74%
Thời gian ra tua cuốn (ngày) 20,17 ± 0,75 17,33 ± 1,15 18,83 ± 0,84 16,67 ± 1,05 -17,35% (sớm hơn)
Thời gian ra hoa (ngày) 40,00 ± 0,63 37,50 ± 0,84 36,50 ± 0,84 34,50 ± 0,55 -13,75% (sớm hơn)
Số hoa cái trung bình (hoa/cây) 1,50 ± 1,05 1,67 ± 1,02 2,50 ± 0,84 2,83 ± 0,75 +88,67%
Số hoa đực trung bình (hoa/cây) 10,17 ± 1,17 13,67 ± 1,03 15,33 ± 1,15 15,50 ± 1,22 +52,41%
Tỷ lệ đậu quả (%) 10,95 ± 2,87 11,81 ± 1,02 12,23 ± 0,95 12,76 ± 1,20 +16,53%

Các giải pháp và đề xuất kỹ thuật của tác giả:

  • Khẳng định Công thức 4 (tương ứng mức bón cho 500 m² là: 17,5 kg urea + 35 kg super lân + 17,5 kg kali, kết hợp bón lót phân chuồng và vôi bột) là tổ hợp phân bón tối ưu nhất trong phạm vi nghiên cứu, giúp cây đạt chỉ số sinh trưởng sinh dưỡng vượt trội, ra hoa sớm và nâng cao tỷ lệ đậu quả.
  • Đề xuất quy trình phân kỳ bón thúc chặt chẽ: bón lót 40% đạm, 30% lân, 30% kali trước khi trồng; thúc lần 1 khi cây chuẩn bị leo giàn (30% đạm, 40% lân, 30% kali); thúc lần 2 khi đậu quả rộ (30% đạm, 30% lân, 40% kali).
  • Khuyến cáo các biện pháp kỹ thuật đồng bộ: thụ phấn nhân tạo bổ sung vào buổi sáng (ngắt hoa đực, loại bỏ cánh hoa, chụm bao phấn vào đầu nhụy hoa cái); bấm tỉa nhánh nách dưới tầng lá thứ 9; làm luống cao từ 0,2 đến 0,25 m để thoát nước triệt để sau các đợt mưa lớn nhằm phòng ngừa các bệnh hại cổ rễ do nấm phát sinh trong điều kiện độ ẩm cao.

Đóng góp của khóa luận: Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm khoa học về liều lượng dinh dưỡng khoáng N-P-K phù hợp cho giống dưa lưới Trang Nông trong điều kiện vụ Đông – Xuân tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, làm cơ sở tài liệu cho việc xây dựng quy trình kỹ thuật trồng dưa lưới trên đất cát pha hoặc đất thịt nhẹ tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế do điều kiện thực nghiệm quy định:

  • Thí nghiệm mới được triển khai trong một vụ duy nhất (vụ Đông – Xuân 2016–2017) tại một địa điểm tập trung (Vườn thực nghiệm Trường Đại học Quảng Nam), chưa lặp lại qua các mùa vụ có điều kiện sinh thái khác nhau trong năm (như vụ Xuân – Hè).
  • Giai đoạn đầu của vụ thí nghiệm gặp điều kiện thời tiết khắc nghiệt (mưa lớn tập trung trong tháng 12/2016 lên tới 1205,3 mm, kèm rét kéo dài) đã ảnh hưởng nhất định đến tốc độ thích ứng và phân hóa mầm hoa của cây con.
  • Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các chỉ tiêu hình thái sinh trưởng, số lượng hoa và tỷ lệ đậu quả; văn bản chưa cung cấp đầy đủ các phân tích hóa sinh chuyên sâu về phẩm chất thương phẩm (như hàm lượng đường khử, độ Brix, vitamin C trong cùi quả) và bảng hạch toán hiệu quả kinh tế tài chính chi tiết của từng công thức.

Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được rút ra từ phạm vi đề tài:

  • Tiếp tục thử nghiệm các công thức phân bón trên dưa lưới trong vụ Xuân – Hè tại Tam Kỳ nhằm so sánh khả năng sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ cao và ít mưa.
  • Mở rộng quy mô thực nghiệm ngoài mô hình đồng ruộng sản xuất của nông dân hoặc thử nghiệm trồng trong điều kiện nhà màng có kiểm soát ẩm độ.
  • Bổ sung đánh giá các chỉ tiêu chất lượng quả sau thu hoạch và đánh giá hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích sản xuất đại trà.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Sinh học, Kỹ thuật Nông nghiệp, Khoa học Cây trồng và Nông học tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD).
  • Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, khuyến nông viên tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ tìm hiểu thông số sinh trưởng và nhu cầu phân bón N-P-K của giống dưa lưới Trang Nông trong điều kiện canh tác vụ Đông – Xuân.

Các phần có giá trị tham khảo chuyên môn cao nhất trong văn bản gồm:

  • Phương pháp xác định diện tích lá dưa lưới bằng kỹ thuật cắt giấy và tính toán tam suất khối lượng/diện tích.
  • Bảng tổng hợp các mốc đo đếm động thái sinh trưởng (chiều cao, số lá, số nhánh, đường kính thân) định kỳ 10 ngày/lần.
  • Kỹ thuật phân chia tỷ lệ bón lót và bón thúc đạm, lân, kali theo 3 thời kỳ sinh trưởng cụ thể của cây họ Bầu bí.

Câu hỏi thường gặp

1. Thí nghiệm khảo sát bao nhiêu công thức phân bón và tỷ lệ cụ thể giữa các công thức là bao nhiêu? Thí nghiệm bố trí 4 công thức theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) tính trên diện tích 500 m²: CT1 (đối chứng, không bón vô cơ); CT2 bón 12,5 kg urea + 25 kg lân super + 7,5 kg kali; CT3 bón 15 kg urea + 30 kg lân super + 12,5 kg kali; CT4 bón 17,5 kg urea + 35 kg lân super + 17,5 kg kali. Tất cả các công thức đều có chung nền bón lót vôi bột và phân chuồng hoai mục.

2. Phương pháp xác định diện tích lá của cây dưa lưới được tác giả thực hiện như thế nào? Tác giả sử dụng phương pháp cân giấy tam suất: Cắt một mẫu giấy A4 chuẩn hình vuông có diện tích $S_1 = 1 \text{ dm}^2$ và cân khối lượng được $m_1$. Sau đó đặt phiến lá dưa lưới lên giấy, vẽ theo viền lá, cắt rời và cân khối lượng phần giấy cắt được $m_2$. Diện tích lá ($S_2$) được tính theo công thức: $S_2 = S_1 \times (m_2 / m_1)$.

3. Điều kiện khí hậu thời tiết tại Tam Kỳ trong thời gian thí nghiệm có điểm gì bất lợi đối với sinh trưởng của cây? Giai đoạn đầu vụ Đông – Xuân (tháng 12/2016), lượng mưa đo được rất cao, lên đến 1205,3 mm, độ ẩm trung bình không khí đạt 96% và nhiệt độ trung bình 22,6°C. Lượng mưa lớn và thời tiết lạnh kéo dài trong giai đoạn cây con làm chậm tốc độ sinh trưởng và làm tăng nguy cơ phát sinh bệnh hại rễ, nấm bệnh.

4. Công thức phân bón nào mang lại kết quả sinh trưởng và đậu quả tốt nhất trong nghiên cứu? Công thức 4 (17,5 kg urea + 35 kg lân super + 17,5 kg kali/500 m²) đạt giá trị cao nhất ở mọi chỉ tiêu: chiều cao cây 50 ngày đạt 230,07 cm; số lá đạt 40,67 lá/cây; diện tích lá 40 ngày đạt 0,849 dm²; đường kính thân 0,75 cm; 6,67 nhánh/cây; thời gian ra hoa sớm nhất (34,5 ngày); số hoa cái đạt 2,83 hoa/cây và tỷ lệ đậu quả đạt cao nhất với 12,76%.

5. Lượng phân bón trong mỗi công thức được phân chia cho các đợt bón như thế nào? Quy trình bón được chia làm 3 đợt: Bón lót sử dụng 100% vôi bột + 100% phân chuồng + 40% urea + 30% super lân + 30% kali. Bón thúc lần 1 (khi cây ra tua cuốn) dùng 30% urea + 40% super lân + 30% kali. Bón thúc lần 2 (sau khi đậu quả) dùng 30% urea + 30% super lân + 40% kali.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ngô Thị Cẩm Tú đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng nhằm đánh giá ảnh hưởng của các liều lượng phân bón N-P-K khác nhau đến quá trình sinh trưởng và phát triển của giống dưa lưới Trang Nông trong vụ Đông – Xuân tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Kết quả thực nghiệm khẳng định liều lượng phân bón ở Công thức 4 (17,5 kg urea + 35 kg super lân + 17,5 kg kali/500 m²) cho hiệu quả vượt trội về mọi chỉ số sinh trưởng sinh dưỡng, rút ngắn thời gian ra hoa và nâng tỷ lệ đậu quả lên 12,76%. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm có giá trị cho công tác hoàn thiện quy trình dinh dưỡng khoáng và kỹ thuật canh tác cây dưa lưới tại địa phương.