Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc và sự phân bố Cà gai leo có tên khoa học là Solanum procumbens Lour. Thuộc họ Cà: Solanaceae (Đỗ Tắt Lợi, 2007). Cà gai leo còn có tên khác là cà gai dây, cà vạnh, cà quýnh, cà lù, cà bò, cà Hải Nam, ca quanh, gai cườm, là loài thực vật thuộc ho Solanaceae. Loài nay phân bố ở các tỉnh miền Bắc cho đến Huế và được tìm thấy ở một số nước nhiệt đới châu Á khác như Thái Lan, đảo Hải Nam - Trung Quốc, Campuchia (Đỗ Huy Bích và ctv.
Các tỉnh Hòa Bình, Quảng Trị, Nam Định, Nghệ An, Thanh Hóa có nhiều cà gai leo hoang đại nhất trong đó cà gai leo ở Quảng Trị được coi là có tác dụng chữa bệnh tốt nhất.2 Yêu cầu điều kiện sinh thái Cà gai leo là cây ưa âm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc tập trung nhiều cá thể, lẫn trong các lim bụi thưa ở quanh làng, bãi hoang, ké cả các bụi tre gai. Cà gai leo chịu hạn khá tốt, chịu được ngập úng kém, có thể sinh trưởng trên nhiều vùng đất khác nhau như đất pha cát, đất phù sa, đất đỏ bazan,. Những nơi đất thường có tỉ lệ cát tương đối lớn, thoát nước nhanh, nhiều nắng gắt kèm gió nóng, là điều kiện thuận lợi cho cà gai leo phát triển và cho hàm lượng dược liệu tốt nhất.3 Yêu cầu về sinh thái 1.1 Đặc điểm sinh học Rễ: Là loại rễ cọc bao g6m 1 rễ chính và nhiều rễ phụ, hệ thong rễ phụ. Ré non của cà gai leo có màu trắng hợp với lông hút phủ kín bề mặt, khi già chuyên nâu.
Bộ rễ rất phát triên có kha năng ăn sâu nên giúp cây bám chac vào dat đê vươn cành. Khi giâm cành, hệ thống rễ là loại rễ chùm. Thân: Là loại thân leo, cây nhỏ và sống nhiều năm, dài hơn 1 m, thường deo bám trên thân cây khác hoặc bò sát dưới mặt đất. Là loại thân gỗ, phân cành nhiều, cành lá tỏa rộng, thân phủ rất nhiều lông và gai cong màu vàng nhọn, khoảng cách các gai giảm dần từ gôc tới ngọn.
Thân non có màu xanh, thân già mau nâu xám. Lá: Cà gai leo có lá đơn mọc so le hình bầu dục, hơi thuôn, xẻ thùy không đều, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt, cả hai mặt đều có lớp lông nhỏ mịn màu trắng và có gai ở gân lá, phiến lá dai 3 - 6 cm rộng 2 - 5,5 cm, cuốn lá dài 0,5 - 1 em, có gai đài 4 - 5 mm. Hoa: Cà gai leo có hoa mau trang tím, mọc thành cum chum từ 2 - 11 hoa mọc ở ngoài kẽ lá, hoa đều, lưỡng tính, không gai. Cấu tạo hoa từ ngoài vào trong gồm: 4 đài màu xanh, phủ đầy long che chở; 4 tràng hợp, tạo thành 4 thùy hình trái xoan nhọn; 4 nhị màu vàng, chỉ nhị phình ở gốc; bầu trên, hợp, gồm 2 ô với lối đính noãn trung trụ.
Quả: Cà gai leo có dạng quả mong, hình cầu, nhẫn, khi non màu xanh lá cây nhạt đến đậm, khi chín màu đỏ tươi, đường kính 5 - 7 mm, cuống đài 1 - 1,5 cm, phủ day lông che chở, phình to ở phần sát quả, có đài đồng trưởng đặc trưng cho họ cà, đài cũng phủ đầy lông che chở. Hạt: Hạt vàng va dang det, hình thận, kích thước tương đương với hạt ớt hoặc ca chua khoảng 2 - 3 mm, mỗi quả có từ 15 - 30 hạt.2 Thành phần hóa học Viện dược liệu đã phân tích thành phan hóa học thấy có alcaloid, glycoalcaloid, steroid saponin, flavonoid, coumarin, acid hữu cơ, trong đó nhân Glycoalcaloid có tỷ lệ nhiều hơn cả (Âu Văn Yên - Phạm Kim Mãn). Ré và cành lá cà gai leo có cholesterol -sitosterol, lanosterol, dihydrolanosterol. Ngoài ra, trong rễ còn có 3B-hydroxy-50-pregnan-16-on, rễ và lá có solasodin.
Hai chất solasodine và neocrologenin còn thu được sau khi thủy phần dịch chiết rễ (Hoàng Thanh Hương, 1980).4 Giá trị dược lí 1.1 Hỗ trợ điều trị viêm gan vi rút, đặc biệt là viêm gan virút B Năm 1999, đề tài luận án tiến sĩ y học: “Một số đặc điểm lâm sảng, siêu cau trúc gan và hiệu quả bước đầu điều trị bệnh nhân viêm gan virut B mạn hoạt động bằng thuốc Cà gai leo” của bác sĩ Trịnh Thị Xuân Hòa đã thử nghiệm lâm sàng sản pham chứa Cà gai leo tại Bệnh viện Quân y 103 cho thấy bệnh nhân sau khi sử dụng sản phẩm chứa Cà gai leo đã cải thiện đáng ké các triệu chứng chán ăn, mệt mỏi, vàng da, men gan trở về bình thường nhanh sau 2 tháng. Đặc biệt sau 3 tháng sử dụng, hầu hết các bệnh nhân đều giảm nồng độ vi rút trong máu rõ rệt, thậm chí đã ghi nhận trường hợp âm tính virus.2 Làm chậm sự tiến triển của xơ gan Các hoạt chất trong Cà gai leo, đặc biệt là dược chất glycoalcaloid có tác dụng làm chậm sự tiến triển của xơ và giảm mức độ xơ giai đoạn sớm. Hai công trình nghiên cứu khoa học 1987 - 2000 của Viện dược liệu Trung ương là “Nghiên cứu tác dụng ức chế quá trình xơ của Cà gai leo trên mô hình gây xơ gan thực nghiệm” và “Nghiên cứu tác dụng trên collagenase của Cà gai leo”, đã công bố Cà gai leo là dược liệu tac dụng ngăn chặn xơ gan rõ rệt.3 Tác dụng chữa bệnh gan trong giải độc gan, hạ men gan Các hoạt chất trong dịch chiết Cà gai leo chữa bệnh gan rất tốt. Các hoạt chất đó có tác dụng bảo vệ gan.
Không chỉ có vậy, chúng còn giúp hạn chế hủy hoại tế bảo gan và hạ men gan nhanh. Năm 1998, trong luận án tiến sĩ y học của Nguyễn Phúc Thái do Nguyễn Khắc Hải và Nguyễn Phúc Hưng cho thấy: Dịch chiết từ cây Cà gai leo có tác dụng đáng ké trong việc bảo vệ gan dưới tác dụng độc của TNT, thể hiện rõ thông qua việc hạn chế hủy hoại tế bào gan; hạn chế việc tăng trọng lượng gan do nhiễm độc TNT và giảm bớt các biểu hiện tôn thương gan trên tiêu bản vi thể. Trong Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Phúc Thái (1998) “Nghiên cứu lâm sàng tổn thương gan do tiếp xúc nghề nghiệp với Trinitrotoluen (TNT) và tác dụng bảo vệ gan của Cà gai leo trên thực nghiệm” cho thấy địch chiết từ cây Cà gai leo có tác dụng trong việc bảo vệ gan dưới tác dụng độc của Trinitrotoluen như hạn chế hủy hoại tế bào gan, hạn chế việc tăng trọng lượng gan do nhiễm độc Trinitrotoluen và giảm bớt các biểu hiện tổn thương gan trên tiêu bản vi thê.4 Tác dụng chống oxy hóa, ức chế một số dòng ung thư Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thu cùng cộng sự (2002) về Cà gai leo đã công bồ dịch chiết toàn phan từ cây Cà gai leo và Glycoalcaloid đều có tác dụng chống oxy hóa có ý nghĩa tương ứng là 47,5% và 38,1%. Dịch chiết Cà gai leo cũng đã được chứng minh tác dụng ức chế được một số dòng tế bào ung thư do virut như tế bào ung thư gan (Hep 3B, PLC/PRF), ung thư cô tử cung.
Ngoài ra, nó còn ức chế được gen gây ung thư do vi rút. Và còn rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác đã chứng minh Cà gai leo chữa bệnh gan rất hiệu quả. Cà gai leo giúp kích thích quá trình tái sinh tế bào gan, chống viêm mạnh, hạ men gan rât tôt.5 Các nghiên cứu về xử lí nảy mầm Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp xử lí hạt trước khi nảy mầm. Một số phương pháp có thể kế đến như ngâm nước ấm, xử lí bằng nhiệt, xử lí bằng các hoạt chất sinh học (trehalose, cytokinin, methanol, auxin,.) Xử lý nước nóng đã ảnh hưởng đến khả năng nảy mầm của hạt giống Sachi, công thức xử lý nước nóng 2 sôi 3 lạnh (tương ứng 52°C) và thời gian ngâm hạt trong l6 giờ cho số hat và tỷ lệ nảy mam cao nhất (tương ứng 16,3 hat và 81,5%) (Phan Thị Thu Hiền và ctv, 2020).
Xử lí hạt đậu bắp với auxin cho tỉ lệ nảy mầm cao nhất (92%), cao hơn 8% so với nghiệm thức đối chứng. Cùng với đó sức sống cây mầm cũng giúp cây ở nghiệm thức xử lí hạt giống với auxin sinh trưởng phát triển tốt hơn, với số đốt trên cây cao nhất (14,6 đốt/cây ở thời điểm 42 NST), nhiều hơn 0,47 - 5,1 đốt so với nghiệm thức đối chứng. Chiều cao cây vì vậy cũng đạt cao nhất (95,4 cm), cao hơn 2,35 - 28.51 cm so với nghiệm thức đối chứng (Nguyễn Thị Kim Thoa, 2020).6 Tình hình nghiên cứu cây cà gai leo ở Việt Nam Sử dụng cành giâm với 1 mắt/cành và tỷ lệ lá dé lại 75%, xử lý cành giâm bằng dung dich IAA nồng độ 2.000 ppm hoặc NAA nông độ 1.500 ppm trong 2-3 giây rồi giâm trên nền giá thé gồm 60% đất phù sa + 1% super lân + 29% phân chuồng + 10% trâu hun cho tỷ lệ cây sống, sinh trưởng và phát triển cao nhất (Hoàng Kim Toản và ctv, 2017). Xử lý chất kích thích GA3 nồng độ 20 ppm và ngâm hạt 6 giờ có tác dụng tốt đến các chỉ tiêu sinh lý nảy mầm hạt giống; phun phân bón lá Bloom plus kết hợp sử dụng giá thé 60 % dat phù sa + 1 % supe lân + 29 % phân chuồng + 10 % xo dia có tác dụng tốt đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây giống (Hoàng Kim Toản va ctv, 2018).
Trong thí nghiệm ảnh hưởng của phân bón lá và hỗn hợp giá thể đến cây giống cà gai leo gieo từ hạt. Kết quả cho thấy phun phân bón lá Bloom plus kết hợp sử dụng giá thé 60 % dat phù sa + 1 % supe lân + 29 % phân chuồng + 10 % xo đừa có tác dụng tốt đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây giống (Hoàng Kim Toản và ctv, 2018) 7 Với kỹ thuật canh tác không phức tap, dé chăm sóc, chi phí đầu tư thấp, đem lại hiệu quả kinh tế cao, cà gai leo ngày càng được nông dân Việt Nam biết đến và ưa trồng. Cây chủ yếu thích nghi ở trên đất cát và thường mọc ở các vùng núi thấp trung du, đồng bằng ven biển. Cà gai leo được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh Trung Bộ và một số vùng Nam Bộ vì ở những vùng này có thô nhưỡng và khí hậu rất phù hợp cho sự thích nghi và phát triển của cây cà gai leo.
Công ty TNHH Tuệ Linh là một trong số ít các doanh nghiệp xây dựng thành công vùng trồng Cà gai leo lớn nhất đạt chuẩn GACP - WHO.