Đặt vấn đề Việt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khác nhau giữa các địa phương…. Nhờ có yếu tố về địa hình và khí hậu đa dạng, do vậy nước ta có thảm thực vật phong phú và nguồn cây làm thuốc dồi dào. Ngay từ thuở nguyên sơ, khi còn ở thời đại đồ đá, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật bảo vệ cuộc sống, người xưa đã biết dùng cây cỏ quanh mình để làm thuốc và biết sáng tạo ra những cách chữa bệnh không dùng thuốc. Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng về công dụng làm thuốc của các cây cỏ hiện có ở nước ta, chúng tôi chọn một loài cây có nhiều giá trị kinh tế, đặc biệt dùng làm thuốc, là cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) trong họ Chùm ngây (Moringaceae R.
Cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) vừa là nguồn dược liệu vừa là nguồn thực phẩm phong phú và quý hiếm. Lá, hoa, trái, thân, vỏ, rễ của cây chứa chất khoáng, chất đạm, vitamin, beta-carotene, acid amin và nhiều hợp chất khác. Ngoài khả năng thanh lọc nước và giá trị dinh dưỡng cao, cây Chùm ngây (Moringa Oleifera Lam.) còn là nguồn dược thảo quan trọng trong việc ngăn ngừa và điều trị rất nhiều căn bệnh, các bộ phận của cây có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống ung bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm… Các nhà khoa học đã thống kê ở nước ta có 3.948 loài thực vật và phần lớn được dùng làm thuốc, thuộc 307 họ của chín ngành thực vật khác nhau. Trong đó có 52 loài tảo biển, 22 loài nấm, 4 loài rêu và 3.870 loài thực vật có n 2 mạch.
Mỗi loài lại có bộ gen đa dạng riêng của mình. Ðiều này làm cho kho tàng nguồn gen cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng, từ cấp hệ sinh thái đến cấp loài và trong loài. Phần lớn số loài cây thuốc ở nước ta được ghi nhận dựa trên tri thức và kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng dân tộc ở khắp các địa phương trên toàn quốc. Mặc dù có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và kinh nghiệm sử dụng dược liệu làm thuốc từ xa xưa, nhưng hiện tại hệ thống bảo tồn, gìn giữ, xây dựng và phát triển nguồn gen và giống cây thuốc mới phát hiện chưa được quản lý chặt chẽ, đa số các cây thuốc quý hiếm lại đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Trong khi đó, theo số liệu của các cơ quan chức năng, thì trên 50% nguyên dược liệu của nước ta nhập về từ nước ngoài. Cây Chùm ngây (Moringa Oleifera Lam.) hiện được 80 quốc gia trên thế giới, những quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi và đa dạng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm chức năng. Mỹ: Hiện nay là nước nhập nguyên liệu Moringa thô nhiều nhất, sử dụng trong công nghê mỹ phẩm cao cấp, nước uống và quan trong hơn là chiết suất thành nguyên liệu tinh cung ứng cho công nghiệp dược phẩm, hóa chất. Ấn Độ: Chùm ngây được gọi là sainjna, mungna (Hindi, Asam, Bengal.) Phạn ngữ: Shobhanjana.
Là một trong những cây thuốc “dân gian” rất thông dụng tại Ấn Độ. Vỏ thân được dùng trị nóng sốt, đau bao tử, đau bụng khi có kinh, sâu răng, làm thuốc thoa trị hói tóc, trị đau trong cổ họng (dùng chung với hoa của cây nghệ, hạt tiêu đen, rễ củ Dioscorea oppositifolia), trị kinh phong (dùng chung với thuốc phiện). n 3 Pakistan: Cây được gọi là Sajana, Sigru. Cũng như tại Ấn, Chùm ngây được dùng rất nhiều để làm các phương thuốc trị bệnh trong dân gian.
Ngoài các cách sử dụng như tại Ấn độ, các thành phần của cây còn được dùng như: Lá giã nát đắp lên vết thương, trị sưng và nhọt, đắp và bọng dịch hoàn để trị sưng, trộn với mật ong đắp lên mắt để trị mắt sưng đỏ. Trung Mỹ: Hạt Chùm ngây được dùng trị táo bón, mụn cóc và giun sán. Saudi Arabia : Hạt được dùng trị đau bụng, ăn không tiêu, nóng sốt, sưng tấy ngoài da, tiểu đường và đau thắt ngang hông… Không chỉ được nghiên cứu và phát triển trên thế giới mà ngày nay cây Chùm ngây còn được trồng rất nhiều ở Việt Nam. Rễ Chùm ngây được cho là có tính kích thích, giúp lưu thông máu huyết, làm dễ tiêu hóa, tác dụng trên hệ thần kinh, làm dịu đau.
Hoa có tính kích dục. Hạt làm giảm đau. Nhựa (gomme) từ thân có tác dụng làm dịu đau. Cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) có khả năng sống từ vùng rừng ẩm, cận nhiệt đới khô hay ẩm cho đến vùng nhiệt đới rất khô, chịu lượng mưa từ 480 - 4000 mm/năm, nhiệt độ 18,7 - 28,50C và độ pH 4,5 – 8, chịu được hạn và có thể sinh trưởng tốt trên đất cát khô (rất phù hợp với khí hậu nước Việt Nam ta).
Chùm ngây phân bố chủ yếu ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng Nai, An Giang. Theo điều tra sơ bộ của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Tri Ôn - An Giang thì hiện nay trên các núi thuộc quần thể Thất Sơn có khoảng 20 cây chùm ngây cổ thụ và khoảng vài héc-ta cây chùm ngây còn nhỏ. Ngoài các tỉnh miền trung thì ở miền bắc nước ta Chùm ngây đã được gây trồng rải rác trên địa bàn các tỉnh thành như: Bắc Giang, Thái Nguyên với quy mô nhỏ hẹp. n 4 Đây là một loài cây có giá trị kinh tế cao, nhiều nhà hoạch định chiến lược còn cho rằng đây có thể gọi là “cây xóa nghèo”.
Là loài cây có thể thích ứng với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau, không chỉ cho hiệu quả về kinh tế, cải thiện đời sống người dân tại các vùng đất bạc màu, phát triển cây Chùm ngây còn góp phần phủ xanh những vùng đồi khô hạn, cải tạo đất, bảo vệ môi trường (Tường, 2006, Satish, 2006). Không những vậy, đây là cây dễ trồng và chăm sóc nên việc tiếp cận của người dân là dễ dàng, việc mở ra một hướng mới trong phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm nâng cao thu nhập là hoàn toàn có cơ sở. Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi đề xuất đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng của cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) tại phường Lương Châu, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Nhằm xác định tình hình sinh trưởng của cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) tại Phường Lương Châu, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển loài cây này ở Phường Lương Châu, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể - Xác định khả năng sinh trưởng về chiều cao và đường kính cổ rễ của cây Chùm Ngây ở các công thức trồng khác nhau, trên cơ sở đó đề xuất gây trồng cây Chùm ngây với công thức trồng hợp lý. - Bước đầu đề xuất giải pháp phát triển loài cây này ở Phường Lương Châu, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. n 5 + Qua quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội cho sinh viên tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn. + Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. + Học tập và hiểu biết thêm kinh nghiệm, kĩ thuật trong thực tiễn tại địa bà nghiên cứu.
- Về mặt thực tiễn + Trang bị cho sinh viên cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái. + Giúp cho sinh viên hiểu rõ hơn cơ sở đề ra những biện pháp lâm sinh trong tái tạo rừng. + Là cơ sở khoa học để đề xuất kĩ thuật trồng cây Chùm ngây tại khu vực nghiên cứu. n 6 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Cây Chùm ngây có tên khoa học là (Moringa oleifera Lam.), thuộc chi Chùm ngây (Moringa Adans), họ Chùm ngây (Moringaceae R.), đã được biết đến và dùng nhiều hơn nghìn năm nay ở các nước có nền văn minh cổ như Hy Lạp, Ý, Ấn Độ.
Nó có nguồn gốc ở Bắc Ấn Độ, Pakistan, và Nepal. Trên thế giới Chùm ngây được xem là một cây đa dụng, rất hữu ích tại những quốc gia nghèo, vì vậy nó được nghiên cứu rất nhiều về trồng trọt, thu hái, cũng như nghiên cứu về các hoạt tính y dược học, giá trị dinh dưỡng. Đa số các nghiên cứu được thực hiện tại Ấn Độ, Philippines, và Châu Phi. Nghiên cứu nhiều nhất về giá trị của (Moringa oleifera Lam.) được thực hiện tại Đại Học Nông Nghiệp Falsalabad- Pakistan.
Theo nghiên cứu tại Đại học Nông Nghiệp Falsalabad- Pakistan: Moringa oleifera Lam. (Moringaceae) vừa là một nguồn dược liệu vừa là một nguồn thực phẩm rất tốt. Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, và là một nguồn cung cấp chất đạm, vitamin, beta - carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics… Nghiên cứu tại Institute of Bioagricultural Sciences, Academia Sinica, Đài Bắc: dịch chiết từ lá và hạt Chùm ngây có các hoạt tính diệt được nấm gây bệnh loại Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes, Epidermophyton floccosum và Microsporum canis, dầu trích từ lá Chùm Ngây có đến 44 hóa chất (Bioresource Technology Số 98-2007). Nghiên cứu tại ĐH Baroda, Kalabhavan, Gujarat (Ấn Độ): Kết quả cho thấy Chùm ngây có tác dụng gây hạ cholesterol, phospholipid, triglyceride, n 7 làm tăng sự thải loại cholesterol qua phân (Journal of Ethnopharmacology Số 86 - 2003).
Nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu Kỹ Thuật (CEMAT) tại thủ đô Guatemala, nước Guatemala ở phía Nam Mêhicô: Dịch trích bằng nước nóng của hoa, lá, rễ, hạt.vỏ thân Chùm ngây có hoạt tính chống co giật, hoạt tính chống sưng và tác dụng lợi. Nước trích từ hạt cho thấy tác động ức chế khá rõ sự co giật gây ra bởi acetylcholine ở liều ED50 = 65.6 mg/ml môi trường, tác động ức chế phụ gây ra do carrageenan được định ở 1000mg/kg và hoạt tính lợi tiểu cũng ở 1000 mg/kg. Nước trích từ rễ cũng cho một số kết quả (Journal of Ethnopharmacology Số 36 - 1992). Một số các hợp chất, các chất gây đột biến gen đã được tìm thấy trong hạt Chùm Ngây rang chín: Các chất quan trọng nhất được xác định là 4 (alpha Lrhamnosyloxy) phenylacetonitrile, 4 - hydroxyphenylacetonitrile và 4 – hydroxyphenyl - acetamide(Mutation Research Số 224-1989).
Nghiên cứu tại ĐH Jiwaji, Gwalior (Ấn độ) về các hoạt tính estrogenic, kháng estrogenic, nước chiết từ rễ Chùm ngây có tác dụng ngừa thai(Journal of Ethnopharmacology Số 22 - 1988).