Tổng quan luận án

Chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam đang trong quá trình chuyển dịch mạnh mẽ từ quy mô nông hộ nhỏ lẻ sang phương thức chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học. Theo số liệu thống kê được tác giả tổng hợp từ Cục Chăn nuôi, tính đến năm 2020, tổng đàn gia cầm cả nước đạt khoảng 496 triệu con (tăng 6,2% so với năm 2019), sản lượng thịt gia cầm hơi đạt trên 1,42 triệu tấn (tăng 9,2%), sản lượng trứng đạt 14,5 tỷ quả (tăng 9,5%). Tổng nhu cầu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam năm 2020 đạt 20,3 triệu tấn, trong đó thức ăn cho gia cầm chiếm 10,7 triệu tấn (tương đương 52,7% tổng cơ cấu). Tuy nhiên, ngành chăn nuôi trong nước phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu thức ăn giàu đạm nhập khẩu. Tám tháng đầu năm 2021, Việt Nam đã nhập khẩu 14,45 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và thủy sản (trị giá 5,22 tỷ USD), trong đó thức ăn giàu đạm chiếm 5,09 triệu tấn (2,27 tỷ USD), giá khô dầu đậu tương nhập khẩu tăng 35,5% so với cùng kỳ năm 2020.

Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nghiên cứu và khai thác các nguồn thức ăn giàu đạm sản xuất tại chỗ. Cây chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) có hàm lượng protein thô trong vật chất khô của lá đạt từ 32,07% đến 35,19%, cơ cấu axit amin thiết yếu cân đối tương đương protein khô dầu đậu tương, tỷ lệ xơ thô thấp (5,9% – 11%), khoáng tổng số đạt khoảng 12%, giàu carotenoid (780 mg/kg VCK), vitamin C, vitamin E và chứa hàm lượng rất thấp các chất kháng dinh dưỡng. Mặc dù vậy, các nghiên cứu trước đây về kỹ thuật canh tác cây M. oleifera chủ yếu hướng vào mục đích thu hoạch rau xanh cho người hoặc chiết xuất dược liệu. Việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nông học nhằm tối ưu hóa sản lượng bột lá làm thức ăn gia súc, cũng như đánh giá giá trị dinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hóa và khả năng thay thế nguồn đạm đắt tiền như khô dầu đậu tương trong chăn nuôi gia cầm còn nhiều khoảng trống.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung chính:

  1. Xác định được mật độ trồng, khoảng cách cắt, mức bón đạm thích hợp cho cây M. oleifera trồng làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.
  2. Xác định được tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng và giá trị năng lượng của bột lá M. oleifera trên gà.
  3. Xác định được tỷ lệ thay thế thích hợp khô dầu đậu tương bằng bột lá M. oleifera tính theo hàm lượng protein trong khẩu phần của gà thịt và gà đẻ bố mẹ Lương Phượng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây chùm ngây (Moringa oleifera Lam.), bột lá chùm ngây, gà thịt Lương Phượng (từ 15 đến 70 ngày tuổi) và gà đẻ bố mẹ Lương Phượng (giai đoạn đẻ từ tuần 1 đến tuần 16 của thí nghiệm).
  • Phạm vi không gian: Thí nghiệm đồng ruộng và nuôi dưỡng gia cầm được thực hiện tại Trại chăn nuôi gia cầm, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; phân tích các mẫu đất, thức ăn, phân, thịt và trứng tại Viện Khoa học sự sống, Đại học Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Các nội dung thực nghiệm được triển khai từ năm 2017 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đặc tính sinh học, kỹ thuật canh tác, thành phần hóa học và tiềm năng sử dụng của cây Moringa oleifera trong chăn nuôi:

  • Về đặc tính nông sinh học và canh tác: Cây M. oleifera thuộc họ Moringaceae, có biên độ thích ứng sinh thái rộng (nhiệt độ từ -1°C đến 48°C, tối ưu ở 25°C – 35°C; lượng mưa 250 – 1.500 mm; pH đất từ 5 đến 9). Các nghiên cứu về mật độ gieo trồng của Foidl và cs. (1999, 2001) khảo sát mật độ từ 10.000 đến 16.000.000 cây/ha; Sanchez và cs. (2006) tại Nicaragua nghiên cứu mật độ 250.000 – 750.000 cây/ha với chu kỳ cắt 75 ngày; Goss (2012) kết luận mật độ 98.764 cây/ha thích hợp cho tích lũy sinh khối. Tại Việt Nam và khu vực nhiệt đới, Manh và cs. (2003) khảo sát mật độ 62.500 – 125.000 cây/ha tại Đồng bằng sông Cửu Long; Adegun và cs. (2013, 2015) đề xuất mật độ 83.333 cây/ha (khoảng cách 30 x 40 cm); Ponnuswami và Rani (2019) xác định mật độ 125.000 cây/ha tối ưu cho năng suất lá. Về chế độ phân bón và thu hoạch, các nghiên cứu của Dash và Gupta (2009), Palada và Chang (2003), Isaiah (2013), Trương Thị Hồng Hải và cs. (2016a, 2016b), Mai Hải Châu (2016, 2017), Từ Quang Hiển và cs. (2019) đã chỉ ra vai trò của phân đạm kết hợp phân hữu cơ và khoảng cách cắt (từ 30 đến 85 ngày) tới năng suất sinh khối.

  • Về thành phần hóa thực vật và chế biến: Makkar và Becker (1996), Fahey (2005), Saini (2014a, 2014b), Bin Su và Xiaoyang Chen (2020) xác định lá chùm ngây chứa đầy đủ 10 axit amin thiết yếu (chiếm 52,19% tổng axit amin), 57% axit béo là axit béo không no (axit α-linolenic chiếm 44,57%). Các hợp chất chống oxy hóa tự nhiên gồm flavonoid (4,1% – 10,5%), polyphenol, carotenoid, cùng hàm lượng thấp các chất kháng dinh dưỡng như tannin (12,0 – 20,6 mg/g), saponin (4,7 – 5,0 g/kg), phytate (22,3 mg/g) và oxalate (27,5 mg/g). Các kỹ thuật chế biến như phơi, sấy khô, ủ chua hoặc lên men vi sinh (Lactobacillus plantarum, Bacillus pumilus, Rhizopus oligosporus) được tổng kết qua nghiên cứu của Vitti và cs. (2005), Thierry và cs. (2017), Sugiharto và Ranjitkar (2019).

  • Về ứng dụng trong chăn nuôi gia cầm: Các công trình của Olugbemi và cs. (2010a, 2010b), Melesse và cs. (2011), Gadzirayi và cs. (2012), Alnidawi và cs. (2016) khảo sát bổ sung bột lá từ 2% đến 25% trong khẩu phần gà thịt; Kakengi và cs. (2005), Raphaël và cs. (2015), Nguyễn Thị Hảo và Đặng Thúy Nhung (2014) thử nghiệm thay thế nguồn đạm thực vật (khô dầu hướng dương, khô cải dầu, khô đậu tương) trong khẩu phần gà đẻ. Tác dụng kháng khuẩn, tăng cường miễn dịch và giảm cholesterol được ghi nhận qua các nghiên cứu của Du và cs. (2007), Ologhobo và cs. (2014), Adamu và Shamsudeen (2015), Rao và cs. (2019).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây chưa thiết lập quy trình canh tác tối ưu (mật độ, phân đạm, chu kỳ cắt) phục vụ chuyên biệt cho sản xuất bột lá chùm ngây làm thức ăn chăn nuôi tại vùng sinh thái trung du miền núi phía Bắc Việt Nam; đồng thời chưa có số liệu chuẩn xác về tỷ lệ tiêu hóa từng chất dinh dưỡng và giá trị năng lượng trao đổi ($MEN$) của bột lá M. oleifera trên gà, cũng như chưa xác định được tỷ lệ thay thế khô dầu đậu tương bằng bột lá M. oleifera theo hàm lượng protein tương đương trong khẩu phần ăn của gà thịt và gà đẻ giống Lương Phượng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án vận dụng lý thuyết dinh dưỡng vật nuôi về cân bằng axit amin và nhu cầu năng lượng trao đổi ở gia cầm; lý thuyết sinh lý học thực vật về diện tích dinh dưỡng, sự tích lũy sinh khối và quang hợp của quần thể cây trồng; cùng phương pháp đánh giá dinh dưỡng in vivo xác định tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến bằng chất chỉ thị nội sinh và phương pháp hiệu chỉnh năng lượng trao đổi theo nitơ tích lũy ($MEN$).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Nghiên cứu được thiết kế theo hướng thực nghiệm định lượng, gồm 6 thí nghiệm độc lập:

  1. Khảo sát khí tượng và hóa học đất: Thu thập số liệu nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa tại trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên; phân tích pH, Nitơ tổng số, $P_2O_5$ tổng số và dễ tiêu, $K_2O$ tổng số và trao đổi theo phương pháp của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (1998).
  2. Thí nghiệm 1 (Nông học - Mật độ trồng): Bố trí khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 4 nghiệm thức mật độ: 125.000 cây/ha (khoảng cách 0,2 x 0,4 m), 100.000 cây/ha (0,2 x 0,5 m), 83.333 cây/ha (0,2 x 0,6 m) và 71.500 cây/ha (0,2 x 0,7 m). Mỗi nghiệm thức có diện tích 24 $m^2$ với 5 lần nhắc lại, theo dõi liên tục trong 2 năm (2017 – 2019). Nền phân bón chung: 20 tấn phân gà, 40 kg $P_2O_5$, 80 kg $K_2O$ cho 1 ha/năm; bón đạm 60 kg N/ha sau khi trồng 1 tháng và sau mỗi lứa cắt; chu kỳ cắt 50 ngày/lứa.
  3. Thí nghiệm 2 (Nông học - Mức bón đạm): Bố trí RCBD với 5 mức bón đạm trên nền mật độ tối ưu xác định từ TN1: theo dõi năng suất sinh khối, lá tươi, VCK, hàm lượng protein thô và axit amin của lá.
  4. Thí nghiệm 3 (Nông học - Khoảng cách cắt): Bố trí RCBD khảo sát các chu kỳ thu hoạch khác nhau nhằm xác định điểm thu hoạch đạt năng suất chất khô và hàm lượng dinh dưỡng tối ưu.
  5. Thí nghiệm 4 (Đánh giá dinh dưỡng in vivo): Xác định tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của vật chất khô, protein thô (CP), lipit thô (EE), xơ thô (CF), dẫn xuất không chứa nitơ (NFE) và giá trị năng lượng trao đổi đã hiệu chỉnh nitơ ($MEN$) của bột lá M. oleifera trên gà thịt Lương Phượng bằng phương pháp thu gom phân dùng khoáng không tan trong axit (AIA) làm chất chỉ thị nội sinh.
  6. Thí nghiệm 5 (Chăn nuôi gà thịt): Nuôi dưỡng gà thịt Lương Phượng từ 15 đến 70 ngày tuổi, phân chia các lô thí nghiệm đối chứng và các lô thay thế một phần protein khô dầu đậu tương bằng protein bột lá M. oleifera (qua 2 giai đoạn: 15 – 42 ngày và 43 – 70 ngày tuổi). Theo dõi tỷ lệ nuôi sống, sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), chỉ tiêu thân thịt, chất lượng thịt, carotenoid trong gan, chỉ số sản xuất (PI) và chỉ số kinh tế (EN).
  7. Thí nghiệm 6 (Chăn nuôi gà đẻ): Bố trí trên đàn gà đẻ bố mẹ Lương Phượng trong 16 tuần đẻ, thay thế protein khô dầu đậu tương bằng bột lá M. oleifera ở các tỷ lệ xác định. Theo dõi tỷ lệ đẻ, năng suất trứng giống, các chỉ tiêu vật lý và hóa học của trứng (chỉ số hình dạng, tỷ lệ lòng đỏ, lòng trắng, độ dày vỏ, chỉ số Haugh, carotenoid lòng đỏ, độ đậm màu lòng đỏ bằng quạt màu Roche), tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ gà con loại I và tiêu tốn thức ăn trên 10 trứng giống/gà con.

Nguồn dữ liệu và xử lý thống kê

Số liệu phân tích hóa học thức ăn, phân, mô bào theo tiêu chuẩn TCVN và AOAC. Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm máy tính theo mô hình phân tích phương sai (ANOVA), so sánh sai khác giữa các giá trị trung bình bằng phép thử Duncan hoặc Tukey ở mức ý nghĩa $P < 0,05$.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 tổng thuật chi tiết cơ sở khoa học về nguồn gốc, đặc điểm thực vật học, sinh thái học của cây Moringa oleifera. Tác giả phân tích cấu trúc giải phẫu của lá, hoa, quả, hạt và hệ thống rễ củ phình to giúp cây chịu hạn. Thành phần dinh dưỡng của lá chùm ngây được tổng hợp chi tiết: tỷ lệ nước trong lá tươi chiếm 76% – 80%, vật chất khô chiếm 20% – 24%; protein thô chiếm 30% – 35% trong VCK, giàu các axit amin như lysine (cao gần 8 lần so với ngô), leucine, isoleucine, methionine; lipit chiếm trên 7% VCK; carotenoids đạt 780 mg/kg VCK; vitamin C đạt 200 – 239 mg%. Các hoạt chất sinh học tự nhiên gồm flavonoid (kaempferol, quercetin, rutin), phenolic (axit gallic, axit chlorogenic) đóng vai trò chất chống oxy hóa tự nhiên. Hàm lượng các chất kháng dinh dưỡng (tannin, saponin, phytate, oxalate) nằm ở ngưỡng an toàn, không cản trở hấp thu khoáng và protein. Chương này cũng phân tích tổng hợp các kết quả nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về việc đưa bột lá hoặc dịch chiết chùm ngây vào khẩu phần gia cầm để thay thế kháng sinh, giảm cholesterol huyết thanh, cải thiện tăng trọng, tăng sắc tố lòng đỏ trứng và nâng cao tỷ lệ ấp nở.

Thành phần hóa học lá M. oleifera Hàm lượng ghi nhận So sánh với thức ăn truyền thống
Protein thô (CP) 32,07% – 35,19% VCK Cao hơn hạt đậu đỗ thông thường, tiệm cận khô dầu đậu tương
Xơ thô (CF) 5,90% – 11,00% VCK Thấp hơn nhiều so với các loại lá cây thức ăn thân gỗ khác
Lipit thô (EE) 6,81% – 7,60% VCK 57% là axit béo không no (axit α-linolenic chiếm 44,57%)
Khoáng tổng số (Ash) 8,95% – 12,00% VCK Cao hơn bột ngô và bột hạt đậu tương
Carotenoids tổng số ~780 mg/kg VCK Nguồn tiền chất vitamin A và tạo màu tự nhiên
Axit amin thiết yếu 52,19% tổng axit amin Đầy đủ 10 axit amin thiết yếu, lysine cao gấp 8 lần ngô
                       SƠ ĐỒ TỔNG THUẬT NỘI DUNG CHƯƠNG 1
+-------------------------------------------------------------------------------+
|                       CÂY CHÙM NGÂY (MORINGA OLEIFERA)                        |
+---------------------------------------+---------------------------------------+
                                        |
        +-------------------------------+-------------------------------+
        |                                                               |
+-------v-------------------------------+               +---------------v-----------------------+
|  ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC & CANH TÁC    |               |  GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG & HÓA THỰC VẬT    |
| - Chịu hạn, thích ứng pH 5 - 9        |               | - Protein thô: 32,07% - 35,19% VCK    |
| - Mật độ trồng: 62.500 - 167.000 c/ha |               | - Axit amin cân đối, giàu lysine      |
| - Chu kỳ cắt: 30 - 75 ngày            |               | - Carotenoid cao: 780 mg/kg VCK       |
| - Bón phân: kết hợp NPK và phân chuồng|               | - Kháng dinh dưỡng (tannin...) rất thấp|
+---------------------------------------+               +---------------------------------------+
                                        |
                                        +-------------------------------+
                                                                        |
                                                +-----------------------v-----------------------+
                                                |     ỨNG DỤNG TRONG CHĂN NUÔI GIA CẦM          |
                                                | - Thức ăn giàu đạm thay thế khô dầu đậu tương |
                                                | - Cải thiện tăng trọng, giảm FCR              |
                                                | - Tăng sắc tố da, mỡ thịt và lòng đỏ trứng    |
                                                | - Nâng cao tỷ lệ phôi, tỷ lệ ấp nở gà con     |
                                                +-----------------------------------------------+

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả hệ thống các địa điểm, vật liệu và quy trình thực nghiệm. Khu vực thí nghiệm tại Thái Nguyên có các đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa và tính chất thổ nhưỡng đất đồi được kiểm soát. Tác giả trình bày chi tiết sơ đồ bố trí 6 thí nghiệm:

Tên thí nghiệm Đối tượng / Nghiệm thức Quy mô & Thiết kế Chỉ tiêu theo dõi chính
TN 1: Mật độ trồng 4 mật độ: 125.000; 100.000; 83.333; 71.500 cây/ha RCBD, 5 lần lặp lại, 24 $m^2$/ô (2017 – 2019) Năng suất sinh khối, lá tươi, VCK, chi phí/kg bột lá
TN 2: Mức bón đạm Các mức bón phân đạm N (kg N/ha/lứa) RCBD, 5 lần lặp lại Năng suất, sản lượng, CP, axit amin, hiệu lực bón đạm
TN 3: Khoảng cách cắt Các chu kỳ cắt (ngày/lứa) RCBD, 5 lần lặp lại Năng suất sinh khối, VCK, chất lượng hóa học lá
TN 4: Thử nghiệm tiêu hóa Bột lá M. oleifera trên gà thịt Lương Phượng Phương pháp chỉ thị AIA (Acid Insoluble Ash) Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến CP, EE, CF, NFE, giá trị $MEN$
TN 5: Nuôi gà thịt Gà Lương Phượng (15 – 70 ngày tuổi), thay thế protein khô dầu Phân lô so sánh (giai đoạn 15-42 và 43-70 ngày) Sinh trưởng, FCR, tỷ lệ thân thịt, mỡ bụng, carotenoid gan
TN 6: Nuôi gà đẻ Gà đẻ bố mẹ Lương Phượng (1 – 16 tuần đẻ) Phân lô so sánh, theo dõi 16 tuần Tỷ lệ đẻ, chất lượng trứng, carotenoid lòng đỏ, ấp nở, gà loại I

Quy trình thu thập mẫu phân, lấy dịch hồi tràng, quy trình phân tích trong phòng thí nghiệm và các công thức toán học tính toán năng suất, tỷ lệ tiêu hóa, năng lượng trao đổi hiệu chỉnh nitơ ($MEN$), chỉ số sản xuất ($PI = \frac{\text{Tỷ lệ sống (%)} \times \text{Khối lượng xuất chuồng (kg)}}{\text{Thời gian nuôi (ngày)} \times FCR} \times 100$) và chỉ số kinh tế ($EN$) được mô tả minh bạch, chuẩn hóa.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận so sánh với các tài liệu khoa học:

  1. Kết quả nông học (Mật độ, phân bón, khoảng cách cắt):

    • Mật độ trồng ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất sinh khối và hiệu quả kinh tế. Mật độ 100.000 – 125.000 cây/ha cho năng suất sinh khối và chất khô cao trên một đơn vị diện tích trong các năm đầu, trong khi mật độ phù hợp giúp giảm chi phí cây giống và công lao động thu hoạch, tối ưu hóa giá thành sản xuất 1 kg bột lá.
    • Bón phân đạm bổ sung sau mỗi lứa cắt làm tăng đáng kể năng suất sinh khối, năng suất lá tươi và hàm lượng protein thô trong vật chất khô của lá, đồng thời nâng cao hàm lượng các axit amin thiết yếu.
    • Khoảng cách cắt (chu kỳ thu hoạch) quyết định sự cân bằng giữa năng suất chất khô và hàm lượng xơ thô. Kéo dài khoảng cách cắt làm tăng năng suất sinh khối nhưng làm giảm tỷ lệ protein thô và tăng hàm lượng xơ/lignin; ngược lại, khoảng cách cắt quá ngắn làm suy giảm khả năng tái sinh của cây. Chu kỳ cắt từ 40 đến 50 ngày thể hiện sự tối ưu về cả sản lượng và chất lượng lá.
  2. Tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng trao đổi của bột lá M. oleifera (TN4):

    • Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các chất dinh dưỡng của bột lá M. oleifera trên gà đạt mức cao: protein thô, lipit thô và dẫn xuất không chứa nitơ được tiêu hóa và hấp thu thuận lợi nhờ hàm lượng chất xơ thấp và hoạt tính kháng dinh dưỡng không đáng kể.
    • Xác định được chỉ số năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ ($MEN$) của bột lá chùm ngây làm căn cứ khoa học chính xác cho việc thiết lập khẩu phần hỗn hợp cho gia cầm.
  3. Kết quả sử dụng bột lá M. oleifera trong chăn nuôi gà thịt Lương Phượng (TN5):

    • Tỷ lệ nuôi sống của các lô thí nghiệm đạt từ 98% đến 100%, chứng minh tính an toàn của bột lá chùm ngây.
    • Việc thay thế khô dầu đậu tương bằng bột lá M. oleifera ở tỷ lệ hợp lý duy trì tốc độ sinh trưởng tích lũy và khối lượng xuất chuồng ở 70 ngày tuổi tương đương với lô đối chứng sử dụng khô dầu đậu tương hoàn toàn, đồng thời cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR).
    • Tỷ lệ mỡ bụng ở thân thịt gà giảm có ý nghĩa thống kê; hàm lượng carotenoid tích lũy trong gan và cơ thịt tăng cao, giúp da và mỡ gà có màu vàng tự nhiên đẹp mắt.
    • Chỉ số sản xuất (PI) và chỉ số kinh tế (EN) được nâng cao, chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng giảm so với lô đối chứng.
  4. Kết quả sử dụng bột lá M. oleifera trong chăn nuôi gà đẻ bố mẹ Lương Phượng (TN6):

    • Thay thế protein khô dầu đậu tương bằng bột lá M. oleifera không làm thay đổi tiêu cực tỷ lệ đẻ, năng suất và sản lượng trứng của đàn gà sinh sản trong suốt 16 tuần theo dõi.
    • Nâng cao phẩm chất trứng giống: độ đậm màu của lòng đỏ trứng tăng từ thang điểm thấp lên thang điểm cao rõ rệt trên quạt màu Roche; hàm lượng carotenoid trong lòng đỏ tăng tương ứng với mức bổ sung bột lá; chỉ số Haugh và độ dày vỏ trứng được duy trì ổn định.
    • Cải thiện các chỉ tiêu sinh sản: nâng cao tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở trên tổng số trứng ấp, tăng tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp và giảm chi phí thức ăn để sản xuất 10 quả trứng giống cũng như 1 con gà giống loại I.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học (Lý luận)

  1. Luận án đã xác lập một hệ thống số liệu khoa học toàn diện đầu tiên tại miền Bắc Việt Nam về các thông số kỹ thuật canh tác (mật độ trồng, định mức bón đạm, khoảng cách thu hoạch) chuyên biệt cho cây Moringa oleifera với mục tiêu sản xuất thức ăn giàu đạm cho chăn nuôi.
  2. Xác định chính xác bộ chỉ số về tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các chất dinh dưỡng (protein thô, lipit thô, xơ thô, dẫn xuất không nitơ) và giá trị năng lượng trao đổi đã hiệu chỉnh nitơ ($MEN$) của bột lá M. oleifera trên gà. Đây là dữ liệu gốc quan trọng bổ sung vào bảng thành phần dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi gia cầm Việt Nam.
  3. Cung cấp cơ sở khoa học về khả năng thay thế nguồn đạm thực vật truyền thống (khô dầu đậu tương) bằng bột lá chùm ngây trong khẩu phần thức ăn hỗn hợp của gà thịt và gà đẻ lông màu, làm sáng tỏ cơ chế tích lũy carotenoid thực vật giúp cải thiện chất lượng thịt, sắc tố lòng đỏ và tỷ lệ phôi/ấp nở của trứng giống gia cầm.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Đề xuất quy trình kỹ thuật canh tác cây M. oleifera lấy lá đạt năng suất chất khô và hàm lượng protein cao, giúp các trang trại và vùng trồng hạ thấp chi phí sản xuất bột lá nguyên liệu.
  2. Cung cấp công thức và tỷ lệ phối trộn bột lá M. oleifera thay thế một phần khô dầu đậu tương trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho gà thịt Lương Phượng (15 – 70 ngày tuổi) và gà đẻ bố mẹ Lương Phượng (giai đoạn khai thác trứng giống).
  3. Ứng dụng kết quả nghiên cứu giúp người chăn nuôi gia cầm chủ động nguồn đạm tại chỗ, giảm chi phí giá thành thức ăn, hạn chế sử dụng chất tạo màu hóa học và chất bổ sung công nghiệp, nâng cao chất lượng thịt gà và gà giống thương phẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các thí nghiệm nông học và nuôi dưỡng của luận án mới được thực hiện trong phạm vi điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng cụ thể tại tỉnh Thái Nguyên (vùng trung du miền núi phía Bắc) và khảo sát trên một đối tượng gia cầm đại diện là giống gà lông màu Lương Phượng; chưa đánh giá trên các vùng sinh thái đặc thù khác (đất phèn, đất cát ven biển) và chưa mở rộng sang các dòng/giống gia cầm chuyên trứng, chuyên thịt thương phẩm khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Khảo nghiệm quy trình canh tác cây M. oleifera làm thức ăn chăn nuôi tại các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau trên cả nước nhằm xây dựng quy trình nhân rộng diện tích.
    2. Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ cơ giới hóa khâu thu hoạch và công nghệ sấy khô, chế biến bột lá quy mô công nghiệp để bảo toàn tối đa hoạt tính sinh học của carotenoid và vitamin.
    3. Mở rộng đánh giá hiệu quả của bột lá M. oleifera trên các đối tượng vật nuôi khác như gà đẻ thương phẩm, thủy cầm (vịt, ngan), gia súc nhai lại và động vật thủy sản.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Dinh dưỡng và Thức ăn Chăn nuôi, Nông học: có thể tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm dinh dưỡng in vivo bằng chất chỉ thị AIA, phương pháp đánh giá năng lượng $MEN$, cũng như các số liệu phân tích hóa thực vật chi tiết của cây chùm ngây.
  • Các nhà máy, cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi: có cơ sở dữ liệu dinh dưỡng chuẩn xác để lập trình công thức phối trộn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, tận dụng nguồn đạm xanh thay thế một phần nguyên liệu nhập khẩu.
  • Các chủ trang trại, hợp tác xã chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, chăn nuôi hữu cơ: tham khảo quy trình trồng cây chùm ngây tại trang trại và tỷ lệ phối trộn bột lá vào khẩu phần nhằm nâng cao sức đề kháng đàn gà, tạo màu da vàng tự nhiên cho gà thịt và tăng tỷ lệ ấp nở cho gà giống mà không cần sử dụng hóa chất tạo màu.

Câu hỏi thường gặp

1. Hàm lượng protein thô và giá trị dinh dưỡng của lá cây Moringa oleifera được ghi nhận trong nghiên cứu như thế nào?
Lá M. oleifera có tỷ lệ vật chất khô dao động từ 20% đến 24%. Trong vật chất khô, protein thô đạt từ 32,07% đến 35,19%, chứa đầy đủ 10 axit amin thiết yếu (chiếm 52,19% tổng axit amin) với hàm lượng lysine cao gần gấp 8 lần ngô. Ngoài ra, lá chứa 6,81% – 7,60% lipit (57% là axit béo không no), xơ thô thấp (5,9% – 11%), khoáng tổng số 9% – 12% và hàm lượng carotenoid tự nhiên đạt khoảng 780 mg/kg VCK.

2. Mật độ trồng và chu kỳ thu hoạch nào được xác định là phù hợp nhất để sản xuất bột lá làm thức ăn chăn nuôi?
Nghiên cứu chỉ ra rằng mật độ trồng từ 100.000 đến 125.000 cây/ha kết hợp với khoảng cách cắt từ 40 đến 50 ngày/lứa và bón bổ sung đạm sau mỗi lứa cắt cho năng suất sinh khối, sản lượng vật chất khô và hàm lượng protein thô tối ưu, đồng thời đảm bảo chi phí sản xuất 1 kg bột lá thấp nhất.

3. Việc thay thế khô dầu đậu tương bằng bột lá M. oleifera ảnh hưởng ra sao đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà thịt Lương Phượng?
Thay thế một phần protein khô dầu đậu tương bằng bột lá M. oleifera duy trì tỷ lệ sống cao (98% – 100%), tốc độ sinh trưởng và khối lượng xuất chuồng ở 70 ngày tuổi tương đương lô đối chứng. Hơn nữa, việc bổ sung bột lá làm giảm tỷ lệ mỡ bụng, tăng hàm lượng carotenoid tích lũy trong gan và cơ thịt, giúp màu sắc thân thịt vàng đẹp tự nhiên và nâng cao chỉ số sản xuất (PI), chỉ số kinh tế (EN).

4. Bột lá M. oleifera mang lại hiệu quả gì đối với đàn gà đẻ bố mẹ Lương Phượng?
Trên gà đẻ bố mẹ Lương Phượng, bột lá M. oleifera duy trì ổn định tỷ lệ đẻ và sản lượng trứng, cải thiện rõ rệt độ đậm màu của lòng đỏ trứng theo quạt màu Roche nhờ hàm lượng carotenoid cao, đồng thời làm tăng tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ gà con loại I, giúp giảm chi phí thức ăn sản xuất trên 10 trứng giống và trên mỗi gà con loại I.

5. Luận án đã sử dụng phương pháp nào để xác định tỷ lệ tiêu hóa và năng lượng trao đổi của bột lá M. oleifera trên gia cầm?
Tác giả đã thực hiện thí nghiệm tiêu hóa in vivo trên gà thịt Lương Phượng, sử dụng phương pháp thu gom phân và dịch tiêu hóa với chất chỉ thị nội sinh là khoáng không tan trong axit (AIA - Acid Insoluble Ash) để xác định tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của các chất dinh dưỡng (CP, EE, CF, NFE) và tính toán giá trị năng lượng trao đổi đã hiệu chỉnh nitơ ($MEN$).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Hồng Nhung đã giải quyết trọn vẹn cả ba mục tiêu nghiên cứu từ khâu canh tác nông học đến đánh giá giá trị dinh dưỡng và ứng dụng thực tiễn trong chăn nuôi gia cầm lông màu. Công trình đã xác lập quy trình canh tác tối ưu về mật độ, phân bón đạm và khoảng cách cắt cho cây Moringa oleifera phục vụ sản xuất thức ăn gia súc; đồng thời cung cấp các dẫn liệu chuẩn xác về tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng trao đổi ($MEN$) của bột lá chùm ngây trên gia cầm. Kết quả thử nghiệm khẳng định bột lá M. oleifera hoàn toàn có thể thay thế một phần khô dầu đậu tương trong khẩu phần gà thịt và gà đẻ bố mẹ Lương Phượng, mang lại hiệu quả kép về nâng cao chất lượng sản phẩm (thịt, trứng giống) và giảm chi phí sản xuất chăn nuôi.