CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN XÂY DỰNG SỔ TAY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGOÀI SÁCH GIÁO KHOA 1. Thiết kế sổ tay đọc hiểu văn bản ngoài sách giáo khoa theo định hướng dạy học đọc hiểu văn bản trong chương trình GDPT 2018 1. Đọc hiểu và vai trò của đọc hiểu trong dạy học Ngữ văn a. Khái niệm đọc hiểu: Đọc là sự thu nhận thông tin có nội dung ý nghĩa nào đó.
Vì thế đọc lại liên quan đến khả năng nhận thức, đến nhu cầu sống và giao tiếp của con người với sự sáng tạo cuộc sống ngày càng cao. Từ khi có chữ viết đọc trước hết là sự phát âm, ghép vần, đọc chữ. Sau khi đọc thành thạo mới đọc toàn bộ văn bản bao gồm câu, nhóm câu và tập hợp các đơn vị trên câu. Lúc đó vừa có thể đọc thành lời đọc, vừa có thể đọc thầm, đọc bằng mắt.
Đọc như vậy sẽ có sự tham gia của bộ máy phát âm, thính giác, với cả trí tuệ, tình cảm và các hoạt động tâm lí của con người qua việc đọc. Tiếp nhận văn học đồng nghĩa với năng lực đọc hiểu những gì đã đọc và những gì có ý nghĩa trong đó. Người đọc phải cố gắng hiểu những gì đã đọc. Hành động đọc là cơ bản và có tầm quan trọng to lớn, cần phải giải quyết thấu đáo.
Còn hiểu chỉ là kết quả mong muốn và tất yếu của hành động đọc. Hiểu cũng là mục đích cuối cùng và cao nhất của hành động đọc. Đọc là tiền đề của hiểu. Đọc và hiểu có quan hệ phụ thuộc vào nhau và phối hợp với nhau để hiểu trọn vẹn tác phẩm trong quá trình đọc.
Lịch sử nghiên cứu về đọc hiểu Từ lí thuyết tiếp nhìn văn học, trên thế giới hình hình thành lí thuyết đọc hiểu văn bản từ các đây hàng trăm năm. Trên thế giới, lịch sử nghiên cứu về đọc hiểu được chia làm 3 giai đoạn, gắn bó chặt chẽ với lí thuyết tiếp nhận: giai đoạn 1: 75 năm đầu thế kỷ XX; giai đoạn 2: từ năm 1975 đến những năm đầu của thập kỉ 90 và giai đoạn 3: từ những năm đầu của thập niên 90 đến đầu thế kỷ XXI. Mô hình đọc hiểu ở các giai đoạn đều được cấu thành bởi 3 thành tố: văn bản, người đọc và 14 bối cảnh. Sự thay đổi trong bản chất mô hình được phân biệt do quá trình chuyển đổi trọng tâm giữa các yếu tố.
Đến năm 2009, Donna Caccamise and Lynn Snyder đã xác định vai trò trung tâm của mô hình đọc hiểu là người học (là học sinh đối với quá trình dạy học). Hai nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, người đọc (học sinh) phải tìm kiếm và khám phá những văn bản để hiểu nội dung và vận dụng vào cuộc sống, giáo viên chỉ đóng vai trò định hướng. Dạy học sinh cách giải mã các tín hiệu thẩm mĩ, tập trung vào các chiến lược đọc hiểu là nhiệm vụ quan trọng giúp các em học sinh có thể đọc hiểu tốt. Một giáo viên có chiến lược dạy đọc hiểu tốt phải giúp học sinh tóm tắt được ý tưởng qua ngôn ngữ của bản thân học sinh; xác định được các ý tưởng chính, tự đặt câu hỏi về ý tưởng trong bối cảnh; sử dụng được sơ đồ, ngữ nghĩa; và tự giám sát được việc đọc.
Để làm được điều này, các hoạt động dạy học cần được thiết kế để kết nối giữa nền tảng kiến thức của các em và bối cảnh đọc hiểu. Nghĩa là người đọc – học sinh phải là những người đọc chủ động và tích cực khám phá văn bản. Ở Việt Nam, khoảng hai thập niên trở lại đây, các vấn đề về đọc hiểu bắt đầu được các nhà nghiên cứu quan tâm. Các nhà nghiên cứu tâm huyết như Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng, Lê Phương Nga, Nguyễn Thị Hạnh, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Thị Cẩm Ly, Nguyễn Thị Hồng Nam và Dương Thị Hồng Hiếu… và nhiều tác giả khác đã hình thành và phát triển những vấn đề lí thuyết cơ bản về đọc hiểu ở Việt Nam.
Từ năm 2000, thuật ngữ đọc hiểu đã xuất hiện trong sách giáo khoa phổ thông, khẳng định vững chắc hơn vai trò của người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học. Dựa trên nền tảng lí thuyết tiếp nhận văn học, các nhà nghiên cứu Việt Nam đều thống nhất rằng: bản chất của đọc hiểu là năng lực phản xạ, phản tỉnh và suy nghĩ về những điều đã đọc được. Hoạt động kiến tạo nghĩa trong quá trình đọc hiểu văn bản là một trong những khâu quan trọng. Đó thực chất là quá trình người đọc kiến tạo ý nghĩa của văn bản thông qua hệ thống hoạt động, hành động, thao tác.
Ứng dụng quan niệm mới về người đọc trong đổi mới dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông 15 Có thể nói vai trò của người đọc cũng như quá trình đọc hiểu văn bản là rất quan trọng. Đọc hiểu có vai trò quan trọng, là năng lực then chốt giúp học sinh thành công trong cuộc sống và học tập, tạo ra nền tảng cho các em khám phá những chân trời tri thức rộng lớn. Chỉ khi có kĩ năng đọc, học sinh mới có thể hiểu được đầy đủ ý nghĩa của văn bản và dự đoán được những điều sẽ xảy ra tiếp theo. Đọc là một quá trình phức tạp, gắn với hoạt động thực hành.
Những khía cạnh quan trọng của việc đọc phải được đảm bảo trong quá trình dạy đọc cho học sinh, đặc biệt là trong dạy học đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ văn. Điều này càng được thể hiện rõ hơn trong quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018, trong các bộ sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành cũng như nội dung, ma trận kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn hiện nay. Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định rõ yêu cầu cần đạt bắt buộc của kĩ năng đọc hiểu văn bản của từng bậc học (tiểu học, THCS, THPT) và phương pháp dạy đọc. Trong đó quy định rõ phương pháp dạy đọc là “phải tập trung kích hoạt việc đọc tích cực, sáng tạo ở chủ thể đọc.
Hướng dẫn và khích lệ học sinh chủ động, tự tin, phát huy vai trò “đồng sáng tạo” trong tiếp nhận tác phẩm; hứng thú tham gia kiến tạo nghĩa cho văn bản; biết so sánh đối chiếu, liên hệ mở rộng, huy động vốn hiểu biết cá nhân, sử dụng trải nghiệm cuộc sống của bản thân để đọc hiểu, trải nghiệm văn học, phát hiện những giá trị đạo đức, văn hoá và triết lí nhân sinh, từ đó biết vận dụng, chuyển hoá thành giá trị sống.” [1; 82] Quá trình chuyển đổi từ giáo dục truyền thụ kiến thức của chương trình năm 2000 sang chú trọng kết hợp truyền thụ kiến thức và giáo dục kỹ năng của chương trình năm 2006 rồi đến chú trọng hình thành trục kết nối kiến thức - kỹ năng -phẩm chất - năng lực của chương trình năm 2018 cũng là quá trình thay đổi phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường, từ phân tích tác phẩm sang đọc hiểu văn bản đến dạy học lấy người học làm trung tâm. Nếu phương pháp giảng văn theo lối phân tích tác phẩm đề cao đặc biệt vai trò của người thầy, những ý kiến, quan điểm và cách cắt nghĩa tác phẩm của thầy luôn được xem là chân lý thì phương pháp dạy học theo lối đọc hiểu văn bản đã chú trọng hơn vai trò của sự đọc, trao cho người 16 học không gian của sự tự do trong hoạt động đọc hiểu văn bản. Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm đã tiến thêm một bước nữa trong việc giãn nới không gian tự do trên hành trình đến với tri thức. Điều này cũng đã được quy định rất rõ trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn: “Khi dạy học đọc hiểu, giáo viên chú ý giúp học sinh tự phát hiện thông điệp, ý nghĩa, góp phần lấp đầy “khoảng trống” của văn bản.
Giáo viên có những gợi ý, nhưng không lấy việc phân tích, bình giảng của mình thay thế cho những suy nghĩ của học sinh; tránh đọc chép và hạn chế ghi nhớ máy móc. Sử dụng đa dạng các loại câu hỏi ở những mức độ khác nhau để thực hiện dạy học phân hóa và hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản, hình thành kĩ năng đọc. Yêu cầu của hoạt động thiết kế sổ tay đọc hiểu văn bản ngoài sách giáo khoa theo định hướng dạy học đọc hiểu văn bản trong chương trình GDPT 2018 Việc thiết kế sổ tay đọc hiểu văn bản trong chương trình GDPT 2018 có tính cấp thiết và vô cùng quan trọng trong việc giúp giáo viên và học sinh có một cuốn tài liệu trong tay dễ dàng tra cứu thông tin và tìm kiếm trong việc phục vụ dạy học Ngữ văn 10 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Thiết kế sổ tay bao gồm các mẫu phiếu được thiết kế sẵn, gồm có: phiếu thông tin nghiên cứu để đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng hồ sơ học tập trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học trong trường phổ thông, thiết kế sổ tay đọc hiểu văn bản ở cấp THPT như là hồ sơ đọc với vai trò góp phần nâng cao kĩ năng tìm kiếm thông tin bài học trong bối cảnh chương trình Ngữ văn 2018 được triển khai ở cấp THPT từ năm 2022.
Thiết kế số tay đọc hiểu văn bản ngoài sách giáo khoa theo đinh hướng dạy học đọc hiểu văn bản trong chương trình GDPT 2018 phục vụ dạy học Ngữ văn 10 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống giúp đa dạng hóa phương pháp dạy cũng như tài liêu tham khảo giúp giáo viên xây dựng và giảng dạy tốt hơn. Phần lớn sổ tay đọc hiểu được thiết kế và sử dụng như là cẩm nang đọc (reading guidebook), chứa đựng tri thức về kĩ năng, chiến lược đọc được soạn sẵn. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, sổ tay đọc hiểu được thiết kế như là sổ ghi chép về việc đọc (reading notebook). Đây là một dạng của hồ sơ đọc, tập hợp các trang lưu trữ kết quả, sản phẩm và kinh nghiệm đọc của HS.
Theo Buckner (2009), sổ tay đọc hiểu là hồ sơ đọc do 17 HS tự thiết kế (viết, trang trí các trang) và xây dựng tiêu chí đánh giá dưới sự hỗ trợ của GV. Tuy nhiên, dạng sổ tay này chỉ phù hợp với giai đoạn HS đã hình thành các kĩ năng đọc, biết cách xây dựng và quản lí hồ sơ ở mức độ nhất định.