Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm về sinh trưởng và một số yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của gia cầm 1. Đặc điểm về sinh trưởng của gia cầm * Khái niệm về sinh trưởng Theo Chambers (1990) [41]: Sinh trưởng là quá trình sinh lý sinh hoá phức tạp duy trì từ phôi thai được hình thành đến khi con vật thành thục về tính.
Như vậy, ngay từ khi còn là phôi thai, quá trình sinh trưởng đã được khởi động. Johanson (1972) [11] đã đưa ra khái niệm: Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng. Tuy nhiên, cũng có khi tăng khối lượng không phải là sinh trưởng (ví dụ như có trường hợp tăng khối lượng chủ yếu là tăng mỡ và nước chứ không phải sự phát triển của mô cơ), sự sinh trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, chất lượng và các chiều của tế bào mô cơ. Ông cho rằng cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến sự phát triển của con vật.
Khi nghiên cứu về sinh trưởng, ta không thể không đề cập đến quá trình phát dục. Đây là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm, hoàn thiện thêm về tính chất, chức năng của các bộ phận cơ thể. Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn từ khi trứng rụng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu là tích luỹ mỡ, còn tích luỹ cơ thể xem như ở trạng thái ổn định.
n 4 Sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ do quá trình đồng hóa và dị hóa cơ thể, là sự tăng về chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật. Đồng thời sinh trưởng chính là sự tích lũy dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là protein, nên tốc độ tích lũy và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên và cs, 1992) [24]. Về mặt sinh học: Sinh trưởng là quá trình tổng hợp protein nên thường lấy tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Theo Johason (1972) [11] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật.
Nhìn từ khía cạnh giải phẫu, sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô cơ diễn ra theo sơ đồ sau: Hệ thống tiêu hóa nội tiết - hệ thống xương - hệ thống cơ bắp - mỡ Thực tế chăn nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sự sinh trưởng thì thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát triển của xương, mô cơ, một phần rất ít lưu giữ cho cấu tạo của mỡ. Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơ xương, nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích lũy dinh dưỡng để cấu tạo mỡ. Tuy nhiên, có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự tăng trưởng thực chất là các tế bào của mô cơ tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể. Tóm lại sinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là: - Phân chia để tăng số lượng tế bào.
- Tăng thể tích các mô. - Tăng thể tích giữa các tế bào. Trong quá trình này, thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc tính của các bộ phận trong cơ thể hình thành lên quá trình sinh trưởng là sự tiếp tục thừa n 5 hưởng các đặc tính di truyền của đời trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn thiện hay không hoàn thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường. Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất từ: 42 - 45% khối lượng cơ thể.
Khối lượng cơ thể của con trống lớn hơn con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và từng loại gia cầm). Giai đoạn 70 ngày tuổi khối lượng tất cả các cơ của gà trống đạt 530 g, của gà mái đạt 467 g (Ngô Giản Luyện, 1994 [21]). * Các giai đoạn sinh trưởng của gà: Đối với gà, quá trình tích lũy các chất thông qua quá trình trao đổi chất, là sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào và dịch thể trong mô bào ở giai đoạn phát triển đầu của phôi trên cơ sở tính di truyền. Sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn lên dần của các mô, là sự tăng lên về kích thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn gà con và giai đoạn trưởng thành.
- Giai đoạn gà con: Giai đoạn này gà sinh trưởng rất nhanh do lượng tế bào tăng nhanh, chức năng một số bộ phận của cơ quan nội tạng còn chưa phát triển hoàn chỉnh như các men tiêu hóa trong hệ tiêu hóa, do vậy thức ăn giai đoạn này cần chú ý đến thức ăn dễ tiêu, vì thức ăn giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà. Quá trình thay lông cũng diễn ra trong cùng một giai đoạn này, nó làm thay đổi quá trình trao đổi chất, tiêu hóa và hấp thu, do đó cần chú ý đến hàm lượng của các chất dinh dưỡng và axit amin thiết yếu trong khẩu phần ăn. - Giai đoạn trưởng thành: Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đã phát triển hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục. Quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong giai đoạn này một phần để duy trì cơ thể, một phần để tích lũy mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn giai đoạn gà con.
n 6 - Khối lượng cơ thể: Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của cơ thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ tuổi. Đơn vị tính bằng g/con hoặc kg/con. - Sinh trưởng tuyệt đối: Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của cơ thể trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2 - 39 - 77, 1997) [33]. Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày.
Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại. - Sinh trưởng tương đối: Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng (thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát so với thời điểm đầu khảo sát (TCVN 2 - 40 - 77, 1997) [32]. Gà con non có sinh trưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo tuổi. Sau giai đoạn sinh trưởng là giai đoạn già cỗi, ở thời kỳ này khối lượng không tăng mà có chiều hướng giảm.
Nếu vẫn có hiện tượng tăng khối lượng thì đây là do quá trình tích lũy mỡ. Thời kỳ này sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tuổi và điều kiện sống của con vật. Thời kỳ già cỗi được tính từ khi con vật ngừng sinh trưởng, khả năng sinh sản và mọi khả năng khác đều giảm (Lê Huy Liễu và cs, 2004) [15]. - Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị sinh trưởng của gia súc gia cầm nói chung.
Theo tài liệu của Chambers (1990) [41], đường cong sinh trưởng của gà có 4 đặc điểm chính gồm 4 pha: + Pha sinh trưởng tích lũy tăng tốc nhanh sau khi nở. + Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất. n 7 + Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn. + Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành.
Đồ thị sinh trưởng tích lũy biểu thị một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng. Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác nhau giữa các dòng, giống, giới tính. Trần Long (1994) [16] khi nghiên cứu về đường cong sinh trưởng của các dòng V1, V3, V5 trong giống gà Hybro (HV85) cho thấy các dòng đều phát triển theo đúng quy luật sinh học. Đường cong sinh trưởng của 3 dòng có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và gà mái cũng có sự khác nhau: Sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi với gà trống và 6 - 7 tuần tuổi đối với gà mái.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như: dòng, giống, tính biệt, dinh dưỡng và các điều kiện chăn nuôi. - Ảnh hưởng của dòng, giống: Theo Chambers (1990) [41] có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen thì ảnh hưởng theo nhóm tính trạng và có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ. Goedfrey và cs (1952) [44] cùng một số tác giả khác cho rằng các tính trạng số lượng được quy định bởi ít nhất 15 cặp gen. Theo Jaap và cs (1969) [46]; Champman (1995) [42] đều cho rằng kiểu di truyền về khối lượng cơ thể, phải do nhiều gen quy định và ít nhất phải do một gen liên kết với giới tính.
Cook và cs (1956) [39] đã xác định được hệ số di truyền tại 6 tuần tuổi về khối lượng là 0,5; hệ số di truyền khối lượng cơ thể theo Godam và Godgy (1956) là 0,43; ở 10 tuần tuổi theo Cook tính được là 0,5 và ở 6 tuần tuổi là 0,4. n 8 Phùng Đức Tiến (1996) [31] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng từ 0,4 - 0,5. Các tài liệu của Chambers (1984) [40]; Siegel và cs (1962) [60] đã tổng kết một cách hoàn chỉnh về hệ số di truyền và tốc độ sinh trưởng. Kết quả tính toán qua phân tích phương sai của con đực từ 0,4 - 0,6.