Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi là một trong hai tiểu ngành sản xuất chính giữ vai trò cung cấp nguồn thực phẩm thiết yếu, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, nâng cao thu nhập và duy trì cân bằng sinh thái. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi truyền thống quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ đang bộc lộ nhiều hạn chế về kiểm soát dịch bệnh, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và hiệu quả kinh tế. Việc chuyển dịch từ hình thức chăn nuôi nông hộ sang mô hình kinh tế trang trại tập trung được xác định là bước phát triển tất yếu nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tối ưu hóa chi phí sản xuất và đáp ứng nhu cầu thị trường hàng hóa quy mô lớn.

Mặc dù vậy, sự phát triển của các trang trại chăn nuôi gia cầm hiện nay vẫn phải đối mặt với nhiều rủi ro lớn, bao gồm biến động giá cả thị trường ("được mùa mất giá"), áp lực dịch bệnh, thiếu vốn đầu tư dài hạn, mặt bằng xây dựng chuồng trại chưa ổn định và hạn chế trong trình độ hạch toán kinh tế của chủ trang trại. Tại xã Cao Ngạn (thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) – địa bàn có địa hình bằng phẳng ven sông Cầu và tiếp giáp các trục giao thông lớn – nhiều mô hình trang trại chăn nuôi gà đã được hình thành. Dẫu vậy, khâu tổ chức quản lý, kiểm soát môi trường và giải quyết bài toán tiêu thụ sản phẩm tại các cơ sở này vẫn còn nhiều bất cập. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Văn Huy đi sâu tìm hiểu thực tế tại cơ sở nhằm đánh giá toàn diện mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể theo văn bản:

  1. Mục tiêu chung: Thông qua việc nghiên cứu, học tập và trải nghiệm thực tế tại trang trại, đánh giá thực trạng tổ chức sản xuất, nhận diện những thành công cùng các khó khăn, trở ngại và nguyên nhân ảnh hưởng; từ đó đề xuất các giải pháp kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả và tính ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại.
  2. Mục tiêu cụ thể về chuyên môn:
    • Nắm rõ thông tin về quá trình hình thành và tổ chức sản xuất kinh doanh của trang trại chăn nuôi gà thịt Hương - Nghĩa.
    • Phân tích, đánh giá thực trạng các nguồn lực sản xuất (lao động, đất đai, vốn và trang thiết bị) phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
    • Học tập và hệ thống hóa các kiến thức, kỹ năng về kỹ thuật chăn nuôi, quy trình chăm sóc và phòng trừ dịch bệnh cho đàn gà thịt.
    • Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua kỹ năng hạch toán kinh tế (chi phí, doanh thu, khấu hao, lợi nhuận).
    • Đề xuất các phương hướng và giải pháp kinh tế chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của trang trại chăn nuôi gà thịt tại địa phương và trang trại nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn lực và quy trình kỹ thuật chăn nuôi gà thịt thương phẩm.
  • Phạm vi không gian: Trang trại chăn nuôi gà Hương - Nghĩa tại xóm Vải, xã Cao Ngạn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thực tập, thu thập số liệu thực tế được thực hiện từ ngày 06/02/2017 đến ngày 30/05/2017, kết hợp thu thập số liệu hồi cứu kết quả hoạt động giai đoạn 2012 – 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về kinh tế trang trại và các văn bản quy phạm pháp luật làm khung phân tích:

  • Khung pháp lý và chính sách:
    • Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại, làm rõ khái niệm kinh tế trang trại như một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa nông nghiệp dựa trên hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất.
    • Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chí xác định kinh tế trang trại (trong đó cơ sở chăn nuôi đạt tiêu chuẩn trang trại phải có giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỷ đồng/năm trở lên).
    • Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
    • Thông tư số 45/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định (áp dụng khung thời gian khấu hao chuồng trại 15 năm theo phương pháp đường thẳng).
    • Nghị định số 84/2008/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính sáp nhập xã Cao Ngạn về thành phố Thái Nguyên và Quyết định số 2190 của UBND tỉnh Thái Nguyên về chủ trương dự án xây dựng hệ thống chống lũ sông Cầu.

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, số liệu thống kê từ UBND xã Cao Ngạn, các văn bản chính sách, nghị định, thông tư của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp & PTNT và các báo cáo ngành.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp:
    • Phương pháp quan sát trực tiếp: Ghi nhận tổng thể mặt bằng, kiến trúc chuồng trại, hệ thống thông gió, kho bãi, máng ăn treo, hệ thống máng uống tự động và sân thả gà.
    • Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại (ông Ngô Doãn Nghĩa) về lịch sử phát triển, biến động tài chính, nhân lực, kỹ thuật và chuỗi cung ứng vật tư.
    • Phương pháp trải nghiệm thực tế: Tác giả tham gia trực tiếp vào các khâu vận hành như vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng nuôi, úm gà con, phân bổ khẩu phần thức ăn, theo dõi dùng thuốc thú y và thực hiện lịch tiêm phòng vaccine.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu thu thập được tổng hợp và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Sử dụng phương pháp hạch toán kinh tế (tính toán chi phí đầu vào, doanh thu, trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng, xác định lợi nhuận ròng), phương pháp phân tích nhân tố sản xuất và ma trận SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cùng thách thức.

Nội dung chính theo từng chương của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ tầm quan trọng của việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sang hướng kinh tế trang trại chăn nuôi gia cầm. Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài khi người chăn nuôi phải đương đầu với các rủi ro thị trường và dịch bệnh; đồng thời xác lập mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu cụ thể trên các phương diện chuyên môn, kỹ năng làm việc và thái độ nghề nghiệp. Phần này cũng làm rõ địa điểm, phạm vi thời gian thực hiện đề tài từ ngày 06/02/2017 đến ngày 30/05/2017 tại xã Cao Ngạn, TP. Thái Nguyên.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng kết cơ sở lý luận về kinh tế trang trại, các tiêu chí định lượng theo quy định của nhà nước và vai trò của mô hình trang trại đối với phong trào xây dựng nông thôn mới. Tác giả phân tích các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại về đất đai, thuế, vốn tín dụng và đào tạo kỹ thuật.

Về địa bàn nghiên cứu, xã Cao Ngạn có diện tích tự nhiên 861,06 ha với dân số 6.447 người, có vị trí địa lý thuận lợi tiếp giáp các phường Quán Triều, Quang Vinh thuộc TP. Thái Nguyên. Trang trại gà Hương - Nghĩa được khởi dựng từ năm 2006 với quy mô ban đầu 500 m² (nuôi 5.000 con gà). Đến năm 2015, chủ trang trại góp 100 triệu đồng cùng hộ anh trai mua lại khu trại thứ hai (diện tích 50m x 8m, quy mô 5.000 con) để luân phiên chăn nuôi. Sau giai đoạn nuôi gia công gà hậu bị cho Công ty C.P Việt Nam (2012 – 2013) với mức công nhật 10 triệu đồng/tháng, trang trại đã chủ động chuyển đổi sang mô hình nuôi gà thịt thương phẩm tư nhân từ năm 2014, giúp nâng cao đáng kể doanh thu và mức tích lũy tài chính.

Sơ đồ bộ máy tổ chức của trang trại được vận hành tinh gọn với 3 vị trí chức năng:

  • Chủ trang trại: Quản lý, điều hành toàn diện hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý sổ sách kế toán, lựa chọn đối tác cung ứng con giống, thức ăn và quyết định thời điểm xuất bán.
  • Kỹ sư thú y và chăn nuôi: Chuyển giao quy trình kỹ thuật, hướng dẫn công nhân khẩu phần dinh dưỡng qua các giai đoạn phát triển và trực tiếp theo dõi, chẩn đoán, điều trị dịch bệnh trên đàn gia cầm.
  • Công nhân: Trực tiếp thực hiện công việc vệ sinh chuồng trại, cung cấp thức ăn, nước uống và chăm sóc đàn gà hằng ngày.

Phần 3: Kết quả thực tập

Tác giả trình bày chi tiết kết quả khảo sát các nguồn lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh tại trang trại Hương - Nghĩa:

  1. Thực trạng các nguồn lực:

    • Nguồn lực lao động: Trang trại có 2 lao động chính có 10 năm kinh nghiệm chăn nuôi thực tế (ông Ngô Doãn Nghĩa và bà Trương Thị Hương), 2 lao động tiềm năng là con cái trong gia đình và thuê mướn thêm 1 lao động thời vụ.
    • Nguồn lực đất đai: Tổng diện tích đất do trang trại quản lý là 3.340 m², gồm 300 m² đất thổ cư (nhà ở 100 m², sân 80 m², vườn 120 m²), 1.440 m² đất nông nghiệp trồng lúa (cho thuê) và 1.600 m² đất vườn tạp sử dụng xây dựng chuồng nuôi và bãi chăn thả gà kết hợp trồng cây ăn quả lâu năm. Do nằm trong quy hoạch dự án chống lũ sông Cầu theo Quyết định 2190 của UBND tỉnh, trang trại không mở rộng thêm diện tích mà tập trung duy trì hiện trạng.
    • Trang thiết bị sản xuất: Sở hữu 2 dãy chuồng nuôi (tổng dung lượng 10.000 con gà thịt), 400 máng ăn treo, 200 máng uống nước (gồm 140 máng uống tự động dạng chuông và 60 bình gallon), 4 quạt công nghiệp, 4 kim tiêm cách thủy, 180 khay ăn cho gà con, 4 đèn gas sưởi ấm, 2 máy bơm nước và 1 máy cắt mỏ (dùng chung một phần thiết bị với trại liên kết).
  2. Kỹ thuật chăn nuôi và lịch trình tiêm phòng vaccine:

    • Thiết kế chuồng nuôi ứng dụng hệ thống sưởi ấm kiểu bếp "Hoàng Cầm" kết hợp đệm lót sinh học bằng trấu ủ men vi sinh (như ZYMEPRO), giúp giảm thiểu khí amoniac, giữ nền chuồng khô ráo và hạn chế các bệnh hen, cầu trùng.
    • Quy trình úm gà duy trì nhiệt độ 31 – 33°C (mùa đông) hoặc 27 – 30°C (mùa hè), kích thước quây úm tiêu chuẩn 5m x 4m cho 1.000 con; bổ sung các chế phẩm dinh dưỡng và kháng sinh phòng ngừa như Moxicolis, Zagro, Acid Pak 4 Ways Liquid, Amilyte.
    • Lịch tiêm phòng vaccine được thực hiện nghiêm ngặt từ 1 đến 60 ngày tuổi để phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: Marek (ngày 1), IB 4-91 + Niu-cát-xơn ND-IB (ngày 3-4), Gumboro (ngày 10-12 và ngày 24), Đậu gà (ngày 13-14), Cúm gia cầm H5N1 Re6 (ngày 15-17), Niu-cát-xơn Lasota (ngày 21), Viêm phế quản truyền nhiễm IB H120 (ngày 30), Tụ huyết trùng (ngày 40) và Niu-cát-xơn chủng M (ngày 60).
  3. Phân tích kinh tế - tài chính: Tác giả tiến hành tính toán chi phí đầu tư ban đầu, chi phí biến đổi của lứa nuôi 5.000 con gà thịt (từ 06/02/2017 đến 30/05/2017), áp dụng mức trích khấu hao chuồng trại 15 năm và phân bổ chi phí công cụ dụng cụ trong 2 năm (4 lứa nuôi).

Phần 4: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu mô hình kinh tế trang trại Hương - Nghĩa; khẳng định hiệu quả chuyển đổi từ gia công sang chăn nuôi tư nhân độc lập. Tác giả kiến nghị với chủ trang trại các biện pháp củng cố liên kết đầu ra, kiểm soát chi phí thú y; đồng thời kiến nghị chính quyền địa phương sớm có chính sách ổn định quy hoạch đất đai, tăng cường tập huấn kỹ thuật và hỗ trợ công tác thú y tại cơ sở.

Kết quả và đóng góp thực tiễn

Kết quả hoạt động kinh tế của trang trại

Khóa luận đã trích xuất chuỗi số liệu hoạt động của trang trại Hương - Nghĩa qua các giai đoạn phát triển, phản ánh rõ sự gia tăng về quy mô đàn và lợi nhuận sau khi chuyển đổi hình thức chăn nuôi.

Năm Quy mô nuôi (con/năm) Lợi nhuận (nghìn đồng) Ghi chú
2012 8.000 120.000 Nuôi gia công cho Công ty C.P Việt Nam
2013 8.000 120.000 Nuôi gia công cho Công ty C.P Việt Nam
2014 10.000 240.000 Tự đầu tư nuôi gà thịt thương phẩm
2015 10.000 280.000 Tự đầu tư nuôi gà thịt thương phẩm
2016 20.000 650.000 Tự đầu tư nuôi gà thịt thương phẩm
06/02/2017 – 30/05/2017 5.000 128.000 Tự đầu tư (1 lứa nuôi nửa đầu năm 2017)

Hạch toán chi tiết chi phí và thu nhập của lứa gà 5.000 con (thực hiện từ ngày 06/02/2017 đến 30/05/2017):

  • Tổng chi phí sản xuất trực tiếp: 474.000 nghìn đồng.
    • Thức ăn chăn nuôi: 349.000 nghìn đồng (gồm 200 bao cám úm x 275.000 đ/bao và 1.200 bao cám giai đoạn 2 x 245.000 đ/bao).
    • Con giống: 60.000 nghìn đồng (5.000 con giống gà Hòa Phát x 12.000 đ/con).
    • Thuốc thú y, vaccine, hóa chất tiêu độc: 36.000 nghìn đồng.
    • Chi phí nhân công thuê ngoài: 4.000 nghìn đồng.
    • Vôi bột khử trùng, tiền điện, chất độn chuồng và chi phí khác: 25.000 nghìn đồng.
  • Tổng thu nhập xuất chuồng: 625.950 nghìn đồng.
    • Bán gà thương phẩm: 11.500 kg (5.000 con x bình quân 2,3 kg/con) với đơn giá 54.000 đ/kg = 621.000 nghìn đồng.
    • Bán phụ phẩm phân gà: 450 bao x 11.000 đ/bao = 4.950 nghìn đồng.
  • Chi phí khấu hao và phân bổ:
    • Khấu hao chuồng nuôi: 11.667 nghìn đồng/lứa (nguyên giá 350.000 nghìn đồng, khấu hao 15 năm, 2 lứa/năm).
    • Phân bổ công cụ dụng cụ: 10.000 nghìn đồng/lứa (phân bổ trong 2 năm cho 4 lứa nuôi).
  • Lợi nhuận ròng thu được: Đạt 128.000 nghìn đồng cho một lứa nuôi 5.000 con trong thời gian gần 4 tháng.

Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đặc trưng trong chăn nuôi gà thịt tại cơ sở được tổng hợp như sau:

Chỉ tiêu Đơn vị tính Mức thấp nhất Mức cao nhất Mức bình quân
Số vụ nuôi trong năm Lứa/năm 2 3 2,5
Thời gian nuôi một lứa Ngày/lứa 105 120 112,5
Quy mô đàn nuôi Con/lứa 4.750 5.000 4.875
Tỷ lệ hao hụt đàn %/lứa 2,0 6,0 4,0
Trọng lượng xuất chuồng kg/con 1,8 2,8 2,25
Chi phí thức ăn chăn nuôi Đồng/con 61.000 70.000 65.500
Chi phí thuốc thú y Đồng/con 5.500 7.500 6.500
Giá con giống nhập đàn Đồng/con 6.500 12.000 9.250
Giá bán gà thịt thương phẩm Đồng/kg 49.500 54.000 51.750

Giải pháp và đóng góp của đề tài

  • Giải pháp đề xuất từ tác giả:
    • Thị trường và tiêu thụ: Xây dựng mối liên kết ngang giữa các chủ trang trại gà tại xã Cao Ngạn để thống nhất giá bán, tránh bị thương lái ép giá; tìm kiếm các hợp đồng bao tiêu sản phẩm trực tiếp với bếp ăn tập thể, siêu thị hoặc nhà hàng tại thành phố Thái Nguyên.
    • Kỹ thuật và quản trị: Nâng cao năng lực quản lý tài chính, kiểm soát chặt chẽ quy trình nhập thuốc thú y và thức ăn nhằm tránh mua phải hàng kém chất lượng; nâng cao tay nghề công nhân trong công tác cách ly, dọn vệ sinh đệm lót sinh học.
    • Hợp tác sản xuất: Tăng cường tham gia vào các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã chăn nuôi tại địa phương để tiếp cận chính sách ưu đãi vốn vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP và các chương trình hỗ trợ VietGAP của ngành nông nghiệp.
  • Đóng góp thực tiễn: Khóa luận cung cấp một bộ dữ liệu thực tế, minh bạch về cơ cấu chi phí, định mức tiêu hao kỹ thuật và tỷ suất sinh lời của mô hình chăn nuôi gà thịt quy mô trang trại gia đình ở vùng trung du miền núi phía Bắc; đồng thời phản ánh chân thực những rào cản về quy hoạch đất đai và áp lực rủi ro thị trường mà người chăn nuôi đang gặp phải.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm và theo dõi số liệu trực tiếp chỉ giới hạn tại một trang trại duy nhất (trang trại Hương - Nghĩa) trong một chu kỳ nuôi duy nhất (từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2017), chưa so sánh đối chứng với các trang trại quy mô khác nhau trên cùng địa bàn.
    • Do trang trại nằm trong diện giải tỏa thu hồi đất thuộc dự án chống lũ sông Cầu của tỉnh Thái Nguyên, tác giả chưa thể xây dựng phương án kinh tế mở rộng quy mô sản xuất dài hạn hay đầu tư hệ thống chuồng kín tự động hóa hoàn chỉnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra trên mẫu số lượng lớn các trang trại gia cầm tại tỉnh Thái Nguyên để so sánh hiệu quả giữa các phương thức chăn nuôi (chuồng hở truyền thống, bán chăn thả đệm lót sinh học, chuồng lạnh khép kín).
    • Nghiên cứu sâu về chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng sản phẩm thịt gà từ trang trại đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm tìm kiếm giải pháp cắt giảm chi phí trung gian.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên: Thuộc các chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị kinh doanh nông nghiệp, Phát triển nông thôn và Chăn nuôi - Thú y có thể tham khảo phương pháp hạch toán chi phí - doanh thu thực tế, phương pháp trích khấu hao tài sản cố định và mô hình phân tích ma trận SWOT tại trang trại nông nghiệp.
  • Chủ trang trại và người chăn nuôi gia cầm: Có thể tham khảo trực tiếp quy trình kỹ thuật úm gà, lịch làm vaccine phòng 8 loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm từ 1 đến 60 ngày tuổi, cách ứng dụng đệm lót sinh học khử mùi hôi và cách thức quản lý sử dụng các thiết bị chăn nuôi bán tự động.

Câu hỏi thường gặp

1. Trang trại Hương - Nghĩa chuyển đổi từ mô hình nuôi gia công sang nuôi gà thịt thương phẩm tư nhân từ thời điểm nào và kết quả ra sao?
Giai đoạn 2012 – 2013, trang trại nuôi gia công gà cho Công ty C.P Việt Nam với mức thu nhập cố định 10 triệu đồng/tháng (120 triệu đồng/năm cho quy mô 8.000 con). Nhận thấy lợi nhuận thấp so với công sức bỏ ra, từ năm 2014 trang trại chuyển sang tự đầu tư nuôi gà thương phẩm. Lợi nhuận tăng rõ rệt: năm 2014 đạt 240 triệu đồng (10.000 con), năm 2015 đạt 280 triệu đồng (10.000 con) và năm 2016 đạt 650 triệu đồng (20.000 con).

2. Tổng chi phí đầu tư để nuôi một lứa 5.000 con gà thịt tại trang trại trong đợt khảo sát năm 2017 là bao nhiêu và khoản mục nào chiếm tỷ trọng lớn nhất?
Tổng chi phí trực tiếp cho một lứa 5.000 con gà thịt (từ 06/02/2017 đến 30/05/2017) là 474.000 nghìn đồng. Trong đó, chi phí thức ăn chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn nhất với 349.000 nghìn đồng (gồm 200 bao cám úm và 1.200 bao cám giai đoạn 2), tiếp theo là tiền con giống gà Hòa Phát 60.000 nghìn đồng, tiền thuốc thú y và vaccine 36.000 nghìn đồng.

3. Đàn gà thịt tại trang trại được tiêm phòng những loại vaccine nào và vào các mốc thời gian nào?
Đàn gà được làm vaccine định kỳ: ngày 1 tuổi (Marek), ngày 3-4 (IB 4-91 + Niu-cát-xơn ND-IB), ngày 10-12 (Gumboro Vaksimune IBD-M), ngày 13-14 (Đậu gà Vaksimune pox), ngày 15-17 (Cúm gia cầm H5N1 Re6), ngày 21 (Niu-cát-xơn Lasota), ngày 24 (Gumboro), ngày 30 (Viêm phế quản truyền nhiễm IB H120), ngày 40 (Tụ huyết trùng) và ngày 60 (Niu-cát-xơn chủng M). Đồng thời gà được cắt mỏ ở ngày thứ 7 để hạn chế cắn mổ nhau.

4. Trang trại Hương - Nghĩa đang gặp khó khăn lớn nhất nào về quỹ đất sản xuất?
Trang trại có 1.600 m² đất vườn tạp sử dụng làm chuồng nuôi và bãi thả gà. Tuy nhiên, toàn bộ diện tích đất này nằm trong phạm vi thực hiện Quyết định số 2190 của UBND tỉnh Thái Nguyên về dự án cấp bách xây dựng hệ thống chống lũ lụt sông Cầu kết hợp hạ tầng đô thị, thuộc diện bị đền bù, giải tỏa và thu hồi đất, do đó chủ trang trại không thể đầu tư mở rộng quy mô.

5. Lợi nhuận thực tế trang trại thu được từ lứa nuôi 5.000 con trong nửa đầu năm 2017 là bao nhiêu?
Sau khi trừ tổng chi phí sản xuất trực tiếp (474.000 nghìn đồng), chi phí khấu hao chuồng trại (11.667 nghìn đồng) và chi phí phân bổ công cụ dụng cụ (10.000 nghìn đồng) từ tổng doanh thu xuất bán gà thịt và phân gà (625.950 nghìn đồng), trang trại thu về khoản lợi nhuận ròng là 128.000 nghìn đồng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Văn Huy đã phản ánh một cách toàn diện mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh tại trang trại chăn nuôi gà thịt Hương - Nghĩa tại xã Cao Ngạn, thành phố Thái Nguyên. Nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về các nguồn lực đất đai, lao động, vốn, đồng thời chuẩn hóa quy trình kỹ thuật chăm sóc và lịch tiêm phòng vaccine gia cầm trong điều kiện thực tế. Kết quả phân tích kinh tế khẳng định tính hiệu quả và khả năng sinh lời của mô hình chăn nuôi trang trại tự chủ so với hình thức nuôi gia công truyền thống. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cao cho công tác đào tạo ngành Kinh tế nông nghiệp và hỗ trợ định hướng phát triển kinh tế trang trại tại các địa phương.