Chương I của Nghị định số 55/2015/NĐ - CP ngày 09 thánh 06 năm 2015 của chính 13 phủ về chính sách tín dụng phụ vụ phát triển nông nghiệp tai nông thôn, việc vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thực hiện theo các quy định của Nghị định này. Thực trạng phát triển sản xuất, kinh doanh được vay vốn tín dụng thương Thương mại của các ngân hàng thương mại Quốc gia. Việc vay vốn được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 67/1999/QĐ - TTg, ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về “một số chính sách tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp nông thôn, việc vay vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước thực hiện các quy định của Nghị định này”. Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh được vay vốn tín dụng thương mại gia.
Việc vay vốn được thưc hiện theo quy định tại Quyết định số 67/1999/QĐ - TTg, ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về “một số chính sách tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp nông thôn”. Chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Nghị quyết số 85/2002/NĐ - CP, ngày 25 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 178/1999/NĐ - CP ngày 29 tháng 12 năm 1999 về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng. Chính sách lao động Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ các chủ trang trạng mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp, ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ ngheo thiếu việc làm. Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về số lượng, trả công lao động theo thỏa thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, chủ trang trại được ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo để tạo việc làm cho lao động tại chỗ, thu hút lao động ở các vùng đông dân cư đến phát triển sản xuất. Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường Bộ NN & PTNT cùng với các địa phương có quy hoạch, kế hoạch xây dựng các công trình thủy lợi để tạo nguồn nước cho phát triển sản xuất. Chủ trang trại tự bỏ vốn hoặc vay nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để xây dựng hệ thống dẫn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong trang trại. Các chủ trang trại xây dựng các công trình thủy lợi, sử dụng nước mặt, nước ngầm trong phạm vi trang trại theo quy hoạch không phải nộp thuế tài nguyên nước.
Bộ NN & PTNT cùng với các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương quy hoạch đầu tư phát triển các vườn ươm giống cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp và các cơ sở sản xuất con giống (chăn nuôi, thủy sản) hoặc hỗ trợ một số trang trai có điều kiện sản xuất để đảm bảo đủ giống tốt, giống có chất lượng cao cho các trang trại, cá hộ nông dân trong vùng. Khuyến khích chủ trang trại góp vốn vào Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học, kỹ thuật áp dụng vào trang trại và làm dịch vụ kỹ thuật cho nông dân trong vùng. Chính sách cung ứng đầu ra Bộ Thượng mai, Bộ NN & PTNT, UBND các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức việc cung cấp thông tin thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang trại định hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Nhà nước hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp, mở dụng và xây dựng mới các cơ sở công nghiệp chế biến ở các vùng tập trung, chuyên ngành, hướng dẫn việc ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp chế biến nông sản và tiêu thụ nông sản hàng hóa của trang trại và nông đân trên địa bàn. Nhà nước khuyến khích phát triển chợ nông thôn, các trung tâm giao dịch mua bán nông sản và vật tưu nông nghiệp. Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận và tham gia chương trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và ngoài nước. Đẩy mạnh sự liên kết giữa các cơ sở sản, chế biến, tiêu thụ nông sản thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp nhà nước với hợp hợp tác xã, chủ trang trại, hộ nông dân.
15 Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích chủ trang trại xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của mình và sản phẩm mua gom của trang trại khác của các hộ nông dân và nhập khẩu vật tư nông nghiệp. Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại Tài sản và vốn đầu tư hợp phăp của trang trại không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Trong trường hợp vì do quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia. Được nhà nước cần thu hồi đất được giao, được thuê của trang trang trại được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố quyết định thu hồi.
Cơ sở thực tiễn 2. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên thế giới Ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức sản xuất giữ vị trí xung kích trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lực lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao. Kinh tế trang trại phát triển mạnh ở thời kỳ các nước tiến hành công nghiệp hoá sau đó, khi công nghiệp phát triển thì số lượng trang trại có xu hướng giảm dần và quy mô trang trại có xu hướng tăng lên. Ở những vùng đất mới như Châu Mỹ, Châu Úc thì quy mô trang trại là rất lớn.
Như ở Mỹ mỗi trang trại có diện tích bình quân từ 180 - 200 ha, ở Canađa là 400 - 450 ha, ở Úc là 500 ha, thậm chí hàng nghìn ha… Họ gọi là trang trại nhưng thực chất đó là những đồn điền được Nhà nước khuyến khích, bảo vệ bằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Ở châu Á, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm luôn là một cản trở đối với phát triển kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường. Do vậy, kinh tế trang trại cũng xuất hiện muộn hơn và quy mô nhỏ hơn ở Châu Âu, Châu Mỹ, nhiều nghiên cứu cho thấy quy mô trang trại nhỏ ở châu Á chiếm từ 60 - 70% về số lượng, canh tác 30% diện tích và sản xuất 35% tổng sản phẩm nông nghiệp. Ở Nhật Bản, trang trại gia đình có vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp, bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội.
Nhật Bản có xu hướng mở rộng quy mô trang trại lên từ 10-20 ha, nhưng vẫn chưa thực hiện được.342 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 1,1 ha/trang trại, đến 1993 còn 3.691 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 1.38 ha/trang trại. 16 Một số nước khác thuộc Châu Á như: Inđônêsia, Malaixia… đang trong quá trình công nghiệp hoá nên luôn có sự biến động về số lượng và diện tích bình quân của trang trại. Thực trang phát triển kinh tế trang trại ở một số nước đang phát triển Ở các nước đang phát triển châu Á, công nghiệp hoá mới bắt đầu và kinh tế trang trại cũng mới hình thành và phát triển. Công nghiệp hoá phát triển đã nảy sinh nhu cầu ngày càng lớn về nông sản hàng hoá và tất yếu phải hình thành kinh tế trang trại thay thế kinh tế tiểu nông.
Kinh tế trang trại ở các nước đang phát triển châu Á được hình thành từ các hộ nông dân tiểu nông tiến lên sản xuất hàng hoá và các hộ công nhân lao động ở đồn điền cũ chuyển sang hoạt động theo mô hình trang trại. Thái Lan trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới là nhờ sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế trang trại. Các trang trại ở vùng đồng bằng hàng năm sản xuất ra lượng gạo xuất khẩu khoảng 5 – 6 triệu tấn. Các trang trại vùng đồi núi sản xuất ra hàng chục triệu tấn sắn và dưa xuất khẩu cho Liên minh châu Âu.
Các trang trại vùng ven biển đã sản xuất hàng vạn tấn tôm xuất khẩu. Các trang trại vùng chung quanh các đô thị đã sản xuất ra khối lượng lớn thịt gà, thịt lợn xuất khẩu và sữa bò [5]. Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá ở trình độ thấp, các nước đang phát triển ở châu Á có số lượng hộ nông dân rất lớn với quy mô đất đai nhỏ, thời kỳ 1960 – 1990 số hộ nông dân ở Trung Quốc tăng từ 115 triệu hộ lên 232 triệu hộ, Ấn Độ tăng từ 45 triệu hộ lên 97 triệu hộ, Thái Lan tăng từ 1,2 triệu hộ lên 3,4 triệu hộ v. Quy mô bình quân đất đai mỗi hộ giảm [12].
Cuối thế kỷ XX, số lượng trang trại ở các nước đang phát triển ở châu Á chưa nhiều và tỷ trọng trang trại trong tổng số hộ nông dân còn thấp nhưng đang có xu hướng phát triển với tốc độ nhanh hơn cùng với nhịp độ phát triển công nghiệp hoá, củng cố vai trò lực lượng xung kích trong sản xuất nông sản hàng hoá và tiến dần lên vị trí lực lượng chủ lực sản xuất nông sản hàng hoá như các nước công nghiệp phát triển ở Đông Bắc Á hiện nay [11] 17 2. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại tại Việt Nam và một số địa phương Mặc dù đã xuất hiện từ rất lâu nhưng kinh tế trang trại Việt Nam chỉ phát triển mạnh những mẽ trong những năm gần đây, có thể xem thực hiện chỉ thị 100 Ban bí thư TW khóa IV, NQ 10 của Bộ chính trị về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân và đặc biệt sau khi luật đất đai ra đời năm 1993 thì kinh tế trang trại thực sự đã có các bước phát triển khá nhanh và đa dạng. Số trang trại phân theo ngành hoạt động và phân theo địa phương trong cả nước TT trồng TT TT TT nuôi Tiêu chí cây hằng Trồng cây chăn trồng Tổng số năm lâu năm nuôi thủy sản Đồng bằng Sông Hồng 34.502 Bắc Trung Bộ 411 45 76 104 17 Duyên Hải Nam Trung Bộ 6.070 Đông Nam Bộ 1.458 Đồng bằng sông Cửu Long 2.801 (Nguồn tổng số liều điều tra) Nếu theo quy định của cục thống kê và tiêu chuẩn trang trại (Quyết định số 359/1998/QĐ – TCTK ngày 01/07/1989) thì năm 2015 cả nước có 45. Trong đó chia theo hướng sản xuất có 37.949 trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm và cây hàng năm.