Đặt vấn đề Cây Hồi là tên gọi chung của giống Illicium thuộc họ Schisandraceae, giống hồi Illicium. Hồi là cây trồng có giá trị kinh tế cao, được xem là cây nguyên sản của vùng Đông Bắc Việt Nam nói chung, tỉnh Lạng Sơn nói riêng. Cây hồi không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tinh Lạng Sơn mà nó còn là nét biểu trưng cho văn hóa, địa lý con người xứ Lạng. Trong quả hồi có chứa đường và rất nhiều các hợp chất hóa học như: anethol, tecpen, pinen, dipenten, limonen.
ở dạng tinh dầu. Hồi là một vị thuốc được dùng trong cả đông y và tây y. Tây y dùng hồi làm thuốc trung tiện, giúp tiêu hóa, lợi sữa, tác dụng trên hệ thống thần kinh và cơ. Gần đây, tinh dầu hồi được sử dụng như nguồn dược liệu quý trong việc tạo kháng sinh Tamiflu chống bệnh cúm A/H5N1, H3N2… trên gia cầm.
Trong đông y hồi có tác dụng đuổi hàn, kiện tỳ, khai vị, dùng chữa đau bụng, bụng đầy chướng, giải độc của thịt cá. và trong chế biến thực phẩm khác. Chế phẩm sinh học với các ưu điểm nổi bật như: an toàn, không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại đối với con người và sinh vật khác, hiệu quả bền vững hiện nay đang có xu hướng được sử dụng rộng rãi để phòng trừ sâu bệnh hại theo hướng bền vững. Phương pháp phòng trừ sâu bệnh bằng chế phẩm sinh học hiện đang được các nhà khoa học các nhà làm vườn quan tâm.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về việc phòng trừ bọ ánh kim bằng biện pháp sinh học vì thế chúng tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng trừ bọ ánh kim hại hồi ( Oides sp.)" góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, quản lý dịch hại bền vững. Mục tiêu nghiên cứu Xác định phân lập loài nấm Metarhizium anisopliae ( M. anisopliae ) và Beauveria bassiana ( B. bassiana ) có hoạt lực cao trong việc phòng trừ bọ ánh kim hại hồi.
Đánh giá hiệu lực phòng trừ của các loài nấm đối với bọ ánh kim hại hồi. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài * Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của nấm M. bassiana là cơ sở khoa học quan trọng trong việc tạo chế phẩm sinh học phòng trừ bọ ánh kim hại Hồi. * Ý nghĩa thực tiễn Phát triển và sử dụng chế phẩm M.
bassiana trong phòng bọ ánh kim hại Hồi giảm sử dụng thuốc trừ sâu hoá học, góp phần bảo vệ môi trường, sản xuất sản phẩm an toàn phục vụ xuất khẩu n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Trong sinh quần nông nghiệp có nhiều tác nhân sinh học là nhân tố điều hòa tự nhiên, duy trì cần bằng sinh thái của quần thể sinh vật trên đồng ruộng [5]. Trong số các tác nhân sinh học gây chết sâu hại cây trồng thì nấm ký sinh côn trùng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Các nấm diệt sâu trong thiên nhiên chưa cần đến con người đã làm được nhiệm vụ điều hoà và tiêu diệt một lượng lớn các côn trùng gây hại [7].
Nấm gây bệnh cho côn trùng là một tác nhân sinh học quan trọng trong việc khống chế côn trùng gây hại. Vai trò trấn áp những trận dịch lớn do côn trùng gây hại của các chủng nấm vật ký sinh được trình bày rất rõ trong nhiều công trình của nhiều tác giả trên thế giới. Đây là một nhân tố hữu dụng trong hệ thống quản lý sâu hại tổng hợp [32]. Việc nghiên cứu bệnh lý học côn trùng đã được tiến hành từ rất sớm.
Do Bọ ánh kim (BAK) sinh trưởng và phát triển trong tiểu khí hậu ẩm thấp nên rất thuận lợi cho sự lây nhiễm của bệnh nấm. Thành phần nấm ký sinh đa dạng phong phú, chúng là yếu tố gây chết chủ yếu đối với BAK. Trong thành phần nấm ký sinh tự nhiên trên bọ ánh kim hại hồi thì loài nấm M. bassiana có mức độ xuất hiện cao nên có nhiều tiềm năng trong việc khống chế quần thể bọ ánh kim.
Đánh giá bước đầu cho thấy đây là nguồn nấm có nhiều triển vọng trong việc phát triển chế phẩm sinh học để phòng bọ ánh kim. Thông tin nói trên là những luận cứ quan trọng, làm cơ sở định hướng cho việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng trừ bọ ánh kim hại Hồi” 2. Tình hình nghiên cứu sâu hại Hồi, các loài nấm có ích trên thế giới 2. Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây hồi trên thế giới 2.1 Sơ lược về sâu bệnh hại cây hồi Hồi nói chung và giống hồi I.
verum nói riêng có sự phân bố rất hẹp, chúng chỉ sống trên núi cao của một số nước trên thế giới cho nên những nghiên cứu về sâu bệnh hại hồi trên thế giới khá hiếm hoi. Theo giả Hook n 4 nhận định trên giống đại hồi I. verum, các loài nấm gây hại là vấn đề cần phải quan tâm bởi cây hồi sinh trưởng trong điều kiện độ ẩm cao, rất thuận lợi cho các loài nấm bệnh phát triển. Những ghi nhận về sâu bệnh hại trên cây hồi trên quê hương của cây hồi (Trung Quốc) cũng khá hiếm[25].
Trong một nghiên cứu của Yuelan (2004) về cây hồi đã phát hiện ra loài sâu hại mới Pseudodoniella sp. gây hại trên cây hồi ở tỉnh Guangxi từ tháng 5 cho đến đầu mùa đông, trưởng thành qua đông trên thân cây và đẻ trứng vào tháng 3 cho đến tháng 4 năm sau [36]. Tác giả Zhao đã công bố thành phần sâu bệnh hại cây hồi tại tỉnh Funing (Trung Quốc) gồm có 20 loại sâu bệnh gây hại cho cây hồi. Trong đó có 9 loài bệnh, 10 loài sâu và 1 loài thực vật ký sinh.
Khi cây hồi ở tỉnh Lạng Sơn bị loài sâu hại thuộc họ bọ ánh kim Chrysomelidae gây hại nặng. Mẫu vật này đã được gửi đến Bảo tàng Australia và loài gây hại này mới chỉ được giám định đến giống với tên khoa học là Oides sp [35]. Họ Chrysomelidae là một họ lớn trong bộ cánh cứng Coleoptera với hơn 40.000 loài phân bố trên toàn thế giới hầu hết trong số chúng là loài ăn thực vật, thành phần ký chủ của chúng tương đối phức tạp. Thành phần loài của họ chrysomelidae ở Anh khá phong phú, chúng gồm 264 loài thuộc 60 giống của 7 họ phụ, trong đó họ phụ Galerucinae có số lượng giống loài lớn nhất (32 giống, 142 loài).
Chỉ tính riêng số loài thuộc bọ ánh kim Chrysomelidae ở bang Ohio (Mỹ) đã có tới hơn 400 loài chúng thuộc 99 giống của 12 họ phụ. Trong đó họ phụ Halticinae có số giống loài nhiều nhất, chúng tương ứng là 27 giống, 124 loài [26, 27]. Số loài thuộc họ Chrysomelidae ở Đài Loan ghi nhận được chưa nhiều, chỉ có 43 loài thuộc 36 giống của 10 họ phụ được giám định với 5 loài được ghi nhận lần đầu tiên cho hệ côn trùng Đài Loan. Trong số đó, họ phụ Galerucinae có số lượng loài nhiều nhất (19 loài) [29].
Khi nghiên cứu về thành phần các loài thuộc họ bọ ánh kim ở vùng Châu Á Thái Bình Dương tác giả Kimoto và Gressitt đã thống kê và giám định được 1.249 loài thuộc 5 họ phụ, bổ sung 178 loài mới thuộc côn trùng Họ ánh kim cho khu hệ côn trùng Trung Quốc và Hàn Quốc [28]. Trong cuốn sách này có loài Oides leucomelaena được ghi nhận gây hại trên cây có dầu ở Trung Quốc trong một phạm vi rất hẹp, những thông tin về loài này cũng rất hạn chế. Ở vùng Thái Lan và Đông Dương, tác giả đã ghi nhận được 188 loài thuộc 36 giống của 5 họ phụ, trong đó họ phụ n 5 Cryptocephalinae có số loài nhiều nhất với 81 loài, 16 loài mới đã được bổ sung cho danh sách các loài côn trùng Họ ánh kim ở Thái Lan và Đông Dương [30]. Đặc điểm sinh học của một số loài sâu hại chính trên cây hồi Những dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh học của các loài sâu hại trên cây hồi khá khiêm tốn và sơ sài.
Loài sâu hại Pseudodoniella sp. được ghi nhận có 3-4 lứa/năm các lứa gối lên nhau. Chúng qua đông ở giai đoạn trưởng thành trên những thân cây. Trưởng thành kết đôi giao phối và đẻ trứng vào giữa tháng 3 và tháng 4 năm sau, ấu trùng xuất hiện vào giữa hoặc cuối tháng 5.
Cả trưởng thành và ấu trùng đều chích hút ở những phần non của cây như búp non, ngọn non, nụ và hoa [33]. Ngoài ra còn một loài sâu bộ cánh vảy khác thuộc họ Geometridae chưa xác định được tên khoa học, gây hại rất nặng trên cây hồi, chúng có 3-4 lứa/năm, qua đông ở giai đoạn nhộng hoặc ấu trùng. Ban ngày trưởng thành thường nấp ở những nơi tối và bẩn, chúng có xu hướng ánh sáng yếu. Trứng phát triển trong khoang bụng và có tới 300 trứng, thời gian phát dục của trứng 6-13 ngày.
Ấu trùng tuổi nhỏ ăn ở mặt sau lá cây khi ấu trùng tuổi lớn chúng có thể ăn toàn bộ lá cây. Nhộng được làm trong lớp đất mặt tơi xốp ở độ sâu khoảng 6-10 cm. Cho đến nay những nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài sâu hại bộ cánh cứng cũng như sâu hại thuộc họ Chrysomelidae trên cây hồi chưa hề được nghiên cứu hay đề cập đến trong bất kỳ tài liệu nào đã được tham khảo.3 Biện pháp phòng trừ Một số biện pháp phòng trừ sâu hại cây hồi được đề cập trong các tài liệu tham khảo đều là những biện pháp thủ công cơ giới vật lý. Các tác giả khuyến cáo lợi dụng các đặc điểm sinh học của chúng như giai đoạn chúng qua đông, vị trí, thời điểm qua đông để có những biện pháp thu bắt làm giảm mật độ của chúng vào năm sau.
Rất ít biện pháp hóa học được khuyến cáo, hoạt chất beta-cypermethrin có được khuyến cáo nhưng với nồng độ khá cao 800-1000 lần so với nồng độ khuyến cáo. Tình hình nghiên cứu các chủng nấm gây hại côn trùng trên thế giới Năm 1815, Agostino Bassi đã mô tả tỷ mỷ về nấm trắng Muscardin (B. bassiana) trên tằm dâu và đưa ra biện pháp phòng trừ. Sau đó một số công trình nghiên cứu về nấm có ích của tác giả như Oduen (1837), Luis Pasteur n 6 (1885-1890), Carte A và Levrat D (1909).
đã công bố những tài liệu trong đó miêu tả tỉ mỉ về hình thái các chủng vi nấm ký côn trùng và sự phân bố của chúng trong tự nhiên. Trong giai đoạn này vấn đề sử dụng nấm có ích trong đấu tranh sinh học cũng được quan tâm nghiên cứu.