Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Những hiểu biết về chế phẩm nghiên cứu 1. Vài nét giới thiệu về NeoAvi Supa Max NeoAvi Supa Max do Công ty cổ phần công nghệ sinh học Mùa Xuân (Biospring) sản xuất.
NeoAvi Supa Max là chế phẩm sinh học (probiotics) dạng bào tử bền nhiệt dành riêng cho gà thịt, vịt thịt, cút thịt. Sản phẩm cung cấp một quần thể vi sinh vật có lợi dạng bào tử vào đường tiêu hóa gia cầm. Các vi sinh vật có lợi này, giúp kích thích sự phát triển của đường ruột, tăng sức đề kháng và giúp gia cầm lớn nhanh. NeoAvi Supa Max gồm các chủng vi sinh vật có lợi dạng bào tử bền nhiệt có nguồn gốc Anh Quốc, được các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới tuyển chọn và được định danh bằng công nghệ gen.
* Thành phần: Trong 1kg có: - Tổng số vi sinh vật có lợi > 5x1011 CFU - Bào tử Bacillus subtilis - Bào tử Bacillus coagulans - Sacchromyces cerevisiae - Vitamin A, vitamin D3, folic acid, niacin, vitamin B1, lactose, dextrose, mantose vùa đủ 1kg. - Không có hormone và kháng sinh. * Công dụng: Bổ sung NeoAvi Supa Max cho gia cầm có tác dụng: 4 - Gà thịt, vịt thịt, cút thịt tăng trưởng nhanh nhất. Trong quá trình phát triển của các vi sinh vật có lợi trong đường ruột, chúng sản xuất các enzyme, vitamin giúp tiêu hóa thức ăn được triệt để hơn, dẫn đến tăng trọng tốt, cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR).
- Nâng cao hệ miễn dịch, phòng ngừa viêm ruột. Loại bỏ mầm bệnh bằng cách cạnh tranh vị trí bám dính trên niêm mạc ruột và các dưỡng chất thiết yếu của các vi sinh vật có hại. Tăng sản xuất chất nhầy, làm tăng độ bám dính của các vi sinh vật có lợi khác, tạo điều kiện cho các vi sinh vật có lợi tăng sinh. Đồng thời, các vi nhung mao ruột được bảo vệ, không bị tổn thương, tăng độ dài giúp hấp thu các dưỡng chất tốt hơn.
- Giảm mùi hôi chuồng nuôi Các thành phần dinh dưỡng được tiêu hóa triệt để giúp giảm mùi hôi chuồng nuôi, giảm khí độc NH3, H2S, giảm tỷ lệ mắc bệnh các đường hô hấp, phân khô tơi, tao khuôn viên. * Cách sử dụng: - Bổ sung liên tục qua thức ăn hay nước uống - Gà, vịt, cút thịt: 1g dùng cho 2 – 4 lít nước uống hoặc 0,5kg/tấn thức ăn 1. Vài nét giới thiệu về All-Zym All-Zym do Công ty Cổ Phần Thú Y Xanh Việt Nam sản xuất * Thành phần: Trong 1kg có - Lactobacillus acidophilus sống (min) 108 CFU - Lactobacillus kefir sống (min) 108 CFU - Lactobacillus sporogenes sống (min) 108 CFU - Lactobacillus subtilis (min) 108 CFU - Amylase (min) 440 MUI - Protease (min) 330 MUI - Sodiumchloride (min-max) 1,5%-2,3% - Độ ẩm (max) 10%; tá được vừa đủ 1 kg - Không có hormone, kháng sinh và chất độc hại. 5 * Công dụng: - Hấp thu triệt để thức ăn - Kích thích tiêu hóa, tăng tính thèm ăn - Bổ sung vi khuẩn có lợi, cạnh tranh vi khuẩn gây bệnh, giảm thiểu tiêu chảy trên gà, vịt, ngan, cút - Chống rối loạn tiêu hóa do sử dụng kháng sinh, không còn hiện tượng sống phân, giúp phân khô, ít mùi hôi.
* Cách dùng và liều lượng: - Pha nước uống hoặc trộn thức ăn - Với gà, vịt, ngan, cút: 1g/1lít nước uống hoặc 100g/50 kg thức ăn. Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt và phương pháp xác định 1. Nhu cầu về protein và acid amin của gà thịt và phương pháp xác định Protein là các polymer được tạo nên từ các trình tự xác định các acid amin. Protein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong cơ thể sống.
Protein có vai trò sinh học là: tạo hình, xúc tác, bảo vệ, vận chuyển, vận động, dự trữ và dinh dưỡng, dẫn truyền tín hiệu thần kinh, điều hòa, cung cấp năng lượng (Hồ Trung Thông, 2006) [34]. Ngoài vai trò là thành phần chính trong cấu trúc của tế bào và mô, protein còn có nhiều chức năng phong phú khác quyết định những đặc điểm cơ bản của sự sống như sự truyền đạt thông tin di truyền, sự chuyển hóa các chất Theo quan điểm dinh dưỡng, người ta chia 20 loại acid amin thường gặp trong protein thành 2 nhóm: acid amin không thay thế hay còn gọi là acid amin thiết yếu và acid amin thay thế hay còn gọi là acid amin không thiết yếu. Amino acid thiết yếu là acid amin mà cơ thể động vật không tổng hợp được hoặc tổng hợp không đủ đáp ứng nhu cầu sinh trưởng hoặc sinh sản một cách tối ưu. Có 8-10 loại acid amin thiết yếu tùy theo từng loại động vật.
Đối với gia cầm, có 9-10 loại acid amin thiết yếu là: arginine (đối với gà con), histidine, leucine, isoleucine, lysine, methionine, phenylalamine, threonine, tryptophan và valine. Amino acid không thiết yếu là những acid amin mà cơ 6 thể có thể tổng hợp được và đủ đáp ứng nhu cầu của chúng. Acid amin không thiết yếu gồm: glicine, alanine, proline, serine, asparagine, glutamine, aspartate, glutamate. Một số acid amin không được xếp vào nhóm không thay thế hay nhóm thay thế, mà chúng được xếp vào nhóm bán thay thế hay bán thiết yếu, bao gồm: arginine, cysteine, tyrosine (Hồ Trung Thông, 2006) [34].
* Vai trò của protein đối với cơ thể gia cầm Đối với gia cầm, protein có rất nhiều chức năng và là thành phần chính của xương, dây chằng, lông, da, các cơ quan và cơ. Do protein được sử dụng cho duy trì, sinh trưởng và sản xuất nên nó phải được thường xuyên đưa vào cơ thể. Đối với bất kỳ vật nuôi nào, protein trong thức ăn là cơ sở quan trọng nhất của cơ thể, protein có hàng loạt các đặc tính không thể có ở bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào khác. Nếu protein ăn vào thấp hơn nhu cầu, thì độ sinh trưởng và điều kiện sống của các mô bào sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến sự phát triển chậm các cơ quan cần thiết trong cơ thể (Nguyễn Đức Hưng, 2006) [9].
Protein là thành phần quan trọng của sự sống, tham gia cấu tạo nên tế bào, nó chiếm 1/5 khối lượng cơ thể gia cầm và chiếm 1/7 đến 1/8 khối lượng trứng. Protein trong thức ăn có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sản xuất thịt, trứng của gia cầm, khi khẩu phần cung cấp đầy đủ protein sẽ cho năng suất sản phẩm cao và ngược lại. Trong cơ thể động vật nói chung và cơ thể gia cầm nói riêng, sự tổng hợp protein từ gluxit và lipit là rất không thể, mà bắt buộc lấy protein vào cơ thể từ thức ăn hằng ngày một cách đều đặn với một lượng đầy đủ và theo một tỷ lệ thích hợp so với các chất dinh dưỡng khác (Bùi Đức Lũng, 1992) [17]. Nhờ protein có sẵn trong thức ăn, gia súc gia cầm mới có thể tổng hợp được protein của cơ thể và các sản phẩm khác.
Ngoài ra, còn tổng hợp các chất xúc tác sinh học như enzyme và hormone cùng các hợp chất khác đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất. Theo Lương Đức Phẩm 7 (1998) [27], thì protein cần thiết cho động vật như là nguồn dinh dưỡng không thể thay thế và đứng đầu trong đời sống động vật. Theo Singh (1988) [58], nhu cầu protein tổng thể như sau: Nhu cầu protein cho gà thịt bao gồm nhu cầu cho duy trì, cho tăng trưởng và cho tổng hợp lông. 0,0016 x P(g) + (0,18 x ΔP(g) + (0,04 hoặc 0,07 x ΔP x 0,82) Pr (g) = 0,64 Trong đó: Pr (g): nhu cầu protein cần thiết (g/con/ngày) P: khối lượng cơ thể (g/con) P: Tăng khối lượng (g/con/ngày) 0,0016: nhu cầu protein (g) cho duy trì 1 gam 0,18: tỷ lệ protein trong thịt 0,04: tỷ lệ lông gà so với P gà dưới 4 tuần 0,07: tỷ lệ lông gà so với P gà từ 4 tuần tuổi 0,82: tỷ lệ protein trong lông 0,64: hiệu quả sử dụng protein của gà thịt 1.
Nhu cầu về năng lượng của gà thịt và phương pháp xác định Khi hoạt động sống của cơ thể động vật đều gắn liền với quá trình sử dụng và trao đổi năng lượng. Do vậy, đòi hỏi sự lấy vào các chất dinh dưỡng để bù đắp vào chỗ vật chất của cơ thể bị đốt cháy, tạo ra năng lượng tích lũy cho cơ thể lớn lên và phát triển được. Nhu cầu năng lượng rất cần thiết để duy trì cho mọi hoạt động, sinh trưởng và phát triển cơ thể. Năng lượng trong thức ăn được tiềm trữ trong các dạng vật chất của thức ăn đó như lipid, protein, carbohydrate (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998) [7].
* Nhu cầu năng lượng duy trì cho gà 8 Để cung cấp đầy đủ chính xác khẩu phần cho gia cầm, thì yếu tố đầu tiên là mức năng lượng thích hợp, cần thiết cho nhu cầu duy trì các hoạt động, sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Năng lượng cho duy trì bao gồm, năng lượng cho trao đổi chất cơ bản và năng lượng cho hoạt động bình thường. Nhu cầu năng lượng cho hoạt động bình thường, phụ thuộc vào mức độ hoạt động của con vật. Điều kiện nuôi dưỡng bình thường, thì năng lượng cho hoạt động bằng 50% năng lượng trao đổi cơ bản.
Trong thực tiễn sản xuất, người ta thường tính theo nhu cầu năng lượng cho 1 kg khối lượng trao đổi ( , trị số 70 kcal 15% và ít biến động giữa các loài. Đối với gà, nhu cầu năng lượng trao đổi cơ bản cho 1 kg khối lượng là 72 kcal/ngày, còn 1 kg là 86 kcal/ngày (Dẫn theo Nguyễn Đức Hưng, 2006) [9]. Năng lượng trao đổi chất cơ bản là mức năng lượng cần thiết để đảm bảo sự sống, được dùng cho hoạt động như hô hấp, tuần hoàn của máu, hoạt động thần kinh, hoạt động của các cơ quan trong điều kiện không kích thích, năng lượng để điều hòa thân nhiệt, sự biến dưỡng của các mô như biểu bì, lông và sự sản xuất các kích thích tố và enzyme (Nguyễn Xuân Mùi và cs, 1996) [22]. Năng lượng thuần cho duy trì chiếm 82% năng lượng trao đổi cho duy trì và năng lượng cho hoạt động sống bình thường bằng 50% năng lượng trao đổi cơ bản.
Dựa vào đó, ta có thể tính được nhu cầu năng lượng duy trì của gà đối với khối lượng khác nhau. * Nhu cầu năng lượng cho sản xuất Nhu cầu năng lượng cho sản xuất phụ thuộc vào loại sản phẩm chăn nuôi. Đối với gia súc, gia cầm đang sinh trưởng phụ thuộc vào tăng khối lượng hằng ngày và thành phần thân thịt xẻ, còn đối với gia cầm đẻ trứng nhu cầu này phụ thuộc vào sản lượng, khối lượng trứng và tỷ lệ đẻ của cả đàn (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2001) [8].