Đặt vấn đề Việt Nam là một nước đang phát triển với nền nông nghiệp chiếm chủ yếu trên 70%. Với diện tích đất tự nhiên là khoảng 33.039 ha, có diện tích đồi núi chiếm khoảng ¾ tổng diện tích lãnh thổ. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với điều kiện khí hậu thuận lợi thích hợp cho một số loại cây trồng, vật nuôi có điều kiện sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt là cây Chùm ngây, đây có thể coi là một loài có tiềm năng lớn cho ngành Nông - Lâm nghiệp đồng thời góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Với rất nhiều công dụng, đặc biệt với hàm lượng dinh dưỡng cao, cây Chùm ngây đang được người tiêu dùng ưa chuộng.
Tình hình gây trồng loài cây này ở Việt Nam vẫn chưa tập trung, còn rải rác, hiện nay mới xuất hiện một số cơ sở (chủ yếu ở các tỉnh miền nam Trung bộ và các tỉnh Tây nam bộ như: Nha Trang, Phan Thiết, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Phú Quốc…) được trồng để cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, với nhu cầu tiêu thụ cao như ở thời điển hiện tại, với thực tế sản xuất qui mô nhỏ, hẹp và rải rác như hiện nay thì việc phát triển Chùm ngây với quy mô lớn, nhân rộng giống Chùm ngây ra các tỉnh miền núi phía Bắc là cần thiết. Chùm ngây là loài cây có giá trị kinh tế cao, được cho là cây giúp xóa đói giảm nghèo. Là cây có thể thích ứng với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau, không chỉ cho hiệu quả về kinh tế, cải thiện đời sống của người dân tại các vùng đất bạc màu, phát triển cây Chùm ngây còn góp phần phủ xanh những vùng đất khô hạn, cải tạo đất và bảo vệ môi trường. Không những vậy, đây còn là cây dễ trồng và dễ chăm sóc nên việc tiếp cận người dân là dễ dàng, việc mở ra một hướng mới trong phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm nâng cao thu nhập là hoàn toàn có cơ sở.
Vì vậy để đảm bảo được năng suất n 2 và chất lượng cần thiết phải có những nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất cây giống, trồng, chăm sóc và thu hoạch trong điều kiện đất đai, khí hậu tại Thái Nguyên. Để đáp ứng được nguồn giống tốt phục vụ cho công tác trồng và nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng thì việc giám sát và đánh giá sự sinh trưởng, phát triển của giống Chùm ngây là rất cần thiết. Vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá sinh trƣởng và năng suất lá cây Chùm ngây (Moringa Oleifera.Lam 1785) trồng tại huyện Đồng Hỷ- tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá được sinh trưởng và năng suất của cây Chùm ngây tại huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên.
- Nhận biết được các đặc trưng hình thái, phản ứng của cây trồng với điều kiện thời tiết, sâu bệnh. - Đề xuất một số giải pháp kĩ thuật trong chăm sóc cây Chùm ngây tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học * Trong học tập: Qua việc thực hiện chuyên đề này sẽ giúp cho bản thân làm quen được với thực tiễn, có điều kiện so sánh, đối chứng và kiểm nghiệm giữa lí thuyết và thực tiễn, củng cố được lượng kiến thức chuyên môn đã học từ nhà trường đúng theo phương châm học đi đôi với hành và có điều kiện tích lũy thêm kiến thức thực tế.
* Trong khoa học: Thấy rõ thực trạng kinh tế nông - lâm nghiệp mà cụ thể là diện tích trồng cây Chùm ngây trong thời gian qua phát triển tương đối mạnh trên địa bàn 2 thôn Trung Sơn - xã Quang Sơn và thôn La Đành - xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ. Kết quả và hiệu quả kinh tế cao của việc gây trồng cây Chùm ngây, một số tác động tích cực về mặt xã hội từ hoạt động này. Để phát triển diện tích đất sản xuất cho cả huyện, tỉnh trong những năm tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả và hiệu quả kinh tế cao của việc gây trồng cây Chùm ngây, một số tác động tích cực về mặt xã hội từ hoạt động này.
Cung cấp khái quát tình hình thị trường tiêu thụ sản phẩm từ cây Chùm ngây trên địa bàn huyện Đồng Hỷ. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái quát về cây Chùm ngây - Tên thông dụng: Chùm ngây (VN), Moringa (international), Drumstick tree (US), Horseradish tree, Behen, Drumstick Tree, Indian Horseradish, Noix de Bahen. - Tên Khoa học: Moringa oleifera hay M.
Pterygosperma thuộc họ Moringaceae. - Nhà Phật gọi là cây Độ Sinh (Tree of Life) - Nguồn gốc: Cây xuất xứ từ vùng Nam Á, có lịch sử hơn 4 ngàn năm, nhưng phổ biến rất nhiều ở cả Châu Á và Châu Phi. Cây Chùm ngây rất phổ thông ở Ấn Độ và được dân tộc Ấn trân trọng đặt tên là cây Độ Sinh. Là loài cây ưa sáng, mọc nhanh, giai đoạn đầu ưa bóng nên có thể trồng xen, khi cây lớn điều chỉnh ánh sáng, phân cành cao, vỏ màu hơi xanh khi còn non, màu trắng mốc khi đã già, tái sinh chồi mạnh với những nơi có độ ẩm cao, đất xốp, những nơi tầng mùn dày tái sinh hạt yếu.
Cây chịu hạn tốt, chịu được những nơi đất xấu cằn cỗi. Cây Chùm ngây (Moringa Oleifera) hiện được trồng ở 80 quốc gia trên thế giới, những quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi và đa dạng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm chức năng. Các quốc gia đang phát triển sử dụng Moringa như dược liệu kỳ diệu kết hợp chữa những bệnh hiểm nghèo, bệnh thông thường và thực phẩm dinh dưỡng. Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng và là một nguồn cung cấp chất đạm, vitamins, beta-carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics.
Cây Chùm ngây cung cấp một hỗn hợp pha trộn nhiều hợp chất như zeatin, quercetin, beta-sitosterol caffeoylquinic acid và kaempferol, n 5 rất hiếm gặp tại các loài cây khác. Các bộ phận của cây như lá, rễ, hạt, vỏ cây, quả và hoa. có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u-bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy- hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm… Cây đã được dùng để trị nhiều bệnh trong Y- học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á. Gỗ cây Chùm ngây rất nhẹ, có thể dùng làm củi nhưng năng lượng không cao.
Nó được xem là nguồn nhiên liệu tiềm năng cho kĩ nghệ giấy với chất lượng bột giấy được so sánh ngang với cây dương(Poputus. Vỏ cây thường làm thảm chùi chân hay bện làm dây thừng ở châu Phi, ngoài ra tại Jamaica và Senegal, người ta còn sử dụng vỏ cây làm thuốc nhuộm vải (Foil, 2006). Cây Chùm ngây thuộc loại cây mọc nhanh và dễ tính, sống được ở những nơi khô cằn và trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chịu được hạn hán. Vì vậy, ở nhiều nơi trên thế giới, cây Chùm ngây được trồng làm hàng rào xanh che chắn cho các khu sản xuất nông nghiệp, che bóng cho các cây công nghiệp dài ngày, chắn gió, chắn cát bay.
Ngoài ra, cây có lá nhỏ, thân thon, tán đẹp nên được trồng làm cảnh. Cây Chùm ngây có thể trồng bằng cây con có bầu hoặc rễ trần. Tổng quan về loài cây nghiên cứu 2. Những nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu rộng rãi nhất về giá trị của Moringa oleifera được thực hiện tại ĐH Nông Nghiệp Falsalabad, Pakistan: Moringa oleifera Lam (Moringaceae) là một cây có giá trị kinh tế cao, cây phân bố tại nhiều quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Cây vừa là một nguồn dược liệu và là một nguồn thực phẩm rất tốt. Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, và là một nguồn cung cấp chất đạm, vitamins, beta-carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics… n 6 - Hoạt tính kháng nấm gây bệnh: Nghiên cứu tại Institute of Bioagricultural Sciences, Academia Sinica, Đài Bắc (Taiwan) ghi nhận dịch chiết từ lá và hạt Chùm Ngây bằng ethanol có các hoạt tính diệt được nấm gây bệnh loại Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes, Epidermophyton floccosum và Microsporum canis. Các phân tích hóa học đã tìm được trong dầu trích từ lá Chùm ngây đến 44 hóa chất. - Tác dụng của quả Chùm ngây trên cholesterol và lipid trong máu: Nghiên cứu tại ĐH Baroda, Kalabhavan, Gujarat (Ấn Độ) về hoạt tính trên các thông số lipid của quả Chùm ngây, thử trên thỏ, ghi nhận: Thỏ cho ăn Chùm ngây (200mg/kg mỗi ngày) hay uống lovastatin (6mg/kg/ ngày) trộn trong một hổn hợp thực phẩm có tính cách tạo cholestero cao, thử nghiệm kéo dài 120 ngày.
Kết quả cho thấy Chùm ngây và Lovastatin có tác dụng gây hạ cholesterol, phospholipid, triglyceride, VLDL, LDL hạ tỷ số cholesterol/ phospholipid trong máu…so với thỏ trong nhóm đối chứng. Khi cho thỏ bình thường dùng Chùm ngây hay Lovastatin: mức HDL lại giảm hạ nhưng nếu thỏ bị cao cholesterol thì mức HDL lại gia tăng. Riêng Chùm ngây còn có thêm tác dụng làm tăng sự thải loại cholesterol qua phân (Journal of Ethnopharmacology Số 86-2003). - Các hoạt tính chống co - giật, chống sưng và gây lợi tiểu: Dịch trích bằng nước nóng của hoa, lá, rễ, hạt…vỏ thân Chùm ngây đã được nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu Kỹ Thuật (CEMAT) tại Guatamala City về các hoạt tính dược học, thử nơi chuột.
Hoạt tính chống co giật được chứng minh bằng thử nghiệm trên chuột đã cô lập, hoạt tính chống sưng thử trên chân chuột bị gây phù bằng carrageenan và tác dụng lợi tiểu bằng lượng nước tiểu thu được khi chuột được nuôi nhốt trong lồng. Nước trích từ hạt cho thấy tác động ức chế khá rõ sự co giật gây ra bởi acetylcholine n 7 ở liều ED50= 65.6 mg/ml môi trường; tác động ức chế phụ gây ra do carrageenan được định ở 1000mg/kg và hoạt tính lợi tiểu cũng ở 1000 mg/kg. Nước trích từ Rễ cũng cho một số kết quả (Journal of Ethnopharmacology Số 36-1992). - Các chất gây đột biến genes từ hạt Chùm ngây rang chín: Một số các hợp chất các chất gây đột biến genes đã được tìm thấy trong hạt Chùm ngây rang chín: Các chất quan trọng nhất được xác định là 4 (alpha Lrhamnosyloxy) phenylacetonitrile; 4 - hydroxyphenylacetonitri le và 4 - hydroxyphenyl-acetamide.
- Khả năng ngừa thai của Rễ Chùm ngây: Nghiên cứu tại ĐH Jiwaji, Gwalior (Ấn độ) về các hoạt tính estrogenic, kháng estrogenic, ngừa thai của nước chiết từ Rễ Chùm ngây ghi nhận chuột đã bị cắt buồng trứng, cho uống nước chiết, có sự gia tăng trọng lượng của tử cung.