Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn, đối tượng nghiên cứu. Chương 2: Nghi lễ hôn nhân truyền thống của người Tu Dí. Biến đổi nghi lễ hôn nhân của người Tu Dí. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN, ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 1.
Một số khái niệm - Văn hóa tộc người: đƣợc hiểu là tổng thể những yếu tố vật thể và phi vật thể một tộc ngƣời cụ thể, một dân tộc cụ thể (chẳng hạn dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Thái.); văn hóa tộc ngƣời cũng đƣợc hiểu là những đặc điểm, đặc trƣng riêng biệt của một tộc ngƣời thể hiện ở các phƣơng diện trong cuộc sống, xã hội từ tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục tập quán và nghi lễ hôn nhân.Những đặc điểm, đặc trƣng riêng biệt này gắn liền với đời sống và quá trình phát triển của tộc ngƣời, đƣợc lƣu truyền từ đời này sang đời khác, mang tính truyền thống, tính kế thừa. Đây cũng là những dấu hiệu chủ yếu để nhận diện tộc ngƣời, để phân biệt tộc ngƣời này với tộc ngƣời khác [18, tr. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các tộc ngƣời đều có những mối quan hệ lẫn nhau, có thể có sự đan xen nhau trong cuộc sống, cùng chung sống với nhau trên một địa bàn dân cƣ (vùng, miền), chịu ảnh hƣởng giống nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, môi trƣờng; hoặc có những quan hệ giao tiếp xã hội, quan hệ giao lƣu về văn hóa, quan hệ hôn nhân gia đình. Văn hóa tộc ngƣời là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tộc ngƣời.
Chính vì thế một dân tộc bị đồng hóa, tức bị mất văn hóa riêng thì ý thức tộc ngƣời trƣớc sau cũng bị mai một. Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi tộc ngƣời (ethnic) gắn với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trƣờng địa lý tự nhiên trong đời sống của từng dân tộc, nhƣng sau khi xuất hiện chúng trở nên bền vững và đƣợc duy trì lâu bền [16; tr 20]. Song không phải lúc nào văn hóa tộc ngƣời và văn hóa của dân tộc cũng có ranh giới rõ rệt và bất biến. Trong quá trình phát triển, không ít hiện tƣợng văn hóa lúc đầu chỉ là yếu tố vay mƣợn, nhƣng dần dần đƣợc “dân tộc hóa”, “bản địa hóa”, trở thành văn hóa tộc ngƣời, ít nhiều mang bản sắc dân tộc.
Hơn thế nữa, bất cứ một 11 yếu tố văn hóa ngoại lai nào đƣợc vay mƣợn thì ít nhiều cũng đƣợc sử dụng và tái tạo theo cách riêng của ngƣời vay mƣợn [33; tr 228-229]. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc trong đó có một tộc ngƣời đa số và 53 tộc ngƣời thiểu số. Mỗi tộc ngƣời lại có nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, hoạt động sinh kế, lối sống, nghi lễ, tôn giáo tín ngƣỡng riêng.tạo thành đặc trƣng văn hóa của một tộc ngƣời và để phân biệt với tộc ngƣời khác, các nhóm khác [16; tr 20]. - Nghi lễ: Văn hóa tộc ngƣời đƣợc thể hiện thông qua nghi lễ - đó là ứng xử giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thiên nhiên, đƣợc lặp đi lặp lại thành thói quen và đƣợc thể hiện bằng những quy ƣớc trong lao động, trong đấu tranh, trong sinh hoạt và trong mối quan hệ giữa xã hội và thiên nhiên, đƣợc xã hội, cộng đồng tộc ngƣời thừa nhận.
Mặc dù rất đa dạng và phát triển theo nhiều con đƣờng khác nhau, nhƣng nghi lễ dù dƣới dạng thô mộc thời nguyên thủy hay phức tạp trong các nền văn hóa hiện đại, đều là tập hợp các yếu tố cơ bản gồm hành động, nhạc lễ, cầu khấn, hiến tế, nhịn ăn, định hƣờng, tẩy uế., mang tính lặp đi lặp lại từ đời này qua đời khác, con ngƣời thực hành chúng và mang truyền thống về hiện tại [25, tr. Những thái độ, hành vi ấy khi đã thấm sâu vào tâm thức của cộng đồng, trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, dù truyền miệng hay thành văn thì nó vẫn đƣợc dƣ luận xã hội thừa nhận rộng rãi, ủng hộ, bảo vệ và tuân theo mà chúng ta thƣờng gọi là phong tục hay tập tục, tập quán. Chính vì vậy, nghi lễ không chỉ là quá khứ mà còn cả hiện tại và tƣơng lai, là quá trình xuyên thời gian và không gian theo đúng chu trình của nó [16; tr 20]. Từ điển nhân học khẳng định: “Nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo - ví dụ một đại lễ Thiên Chúa giáo hay một buổi hiến tế tổ tiên.
Thông thường các nhà nhân học sử dụng “nghi lễ” để nói về bất kỳ một hành động nào có nhiều nghi thức và với mục đích phi bình quân chủ nghĩa. Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà cả với khía cạnh thể hiện toàn bộ hoạt động của con người. Trong chừng mực nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cá nhân, bất kỳ một hành động nào của con người cũng có khía cạnh nghi lễ”. Từ điển 12 Tiếng Việt cho rằng: “Nghi lễ là nghi thức và trình tự tiến hành của một cuộc lễ [43; tr 866].
Nghi lễ biểu hiện mọi khía cạnh của đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời, tộc ngƣời, do đó dù một hình thái xã hội nào, nghi lễ cũng có tính tộc ngƣời. Dù tồn tại lâu dài, truyền từ đời này qua đời khác trong mỗi cộng đồng tộc ngƣời cụ thể, xong không phải nghi lễ nào cũng trở thành bất di bất dịch mà nó luôn có sự biến đổi, một số nghi lễ mất đi, một số nghi lễ mới nảy nở. Tùy từng hoàn cảnh, tình huống cụ thể mà mỗi thế hệ có những thái độ khác nhau đối với những nghi lễ hiện có [16, tr. Phân loại nghi lễ: Nghi lễ hành động và nghi lễ chuyển đổi.
Nghi lễ hành động là nghi lễ có bài bản, buộc áp dụng một loạt các động tác, lời nói, thủ tục tiếp nối nhau. Qua các hành động của nghi lễ, quan niệm của một nền văn hóa đƣợc cụ thể hóa và thể hiện rõ nét. Nghi lễ chuyển đổi là nghi lễ đánh dấu sự thay đổi địa vị xã hội của con ngƣời. Nghi lễ chuyển đổi thƣờng đi kèm với những lễ nghi xung quanh những sự kiện liên quan đến đời ngƣời nhƣ việc ra đời của một đứa trẻ, tuổi vào đời, hôn lễ, thƣợng thọ… [16; tr 26].
Nghi lễ hôn nhân: đƣợc hiểu là những nghi lễ diễn ra theo tập quán hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân. Nghi lễ hôn nhân là thủ tục khẳng định cuộc hôn nhân đó là hợp pháp làm thay đổi địa vị xã hội của con ngƣời. Để tiến tới hôn nhân cũng nhƣ khi đã đạt đƣợc cuộc hôn nhân, mỗi tộc ngƣời đều trải qua những nghi lễ nhất định theo quy định mang tính tập quán của tộc ngƣời hay nhóm tộc ngƣời. Nghi lễ hôn nhân ngoài mục đích không chỉ đảm bảo cho việc chứng kiến và có sự công nhận từ phía cộng đồng về việc hôn nhân mà còn thực hiện một số yếu tố tâm linh gắn với cuộc hôn nhân.
- Hôn nhân: Trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa rằng “Hôn nhân” là việc kết hôn giữa nam và nữ. Còn theo Từ điển Nhân học thì “Hôn nhân” là mối quan hệ gắn bó đƣợc thừa nhận về mặt xã hội giữa một ngƣời đàn ông và một ngƣời đàn bà nhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ gia đình mới [37, tr.Schultz và Robert H.Lavenda (2001) đã đƣa ra định nghĩa: “Hôn nhân là một quá trình của xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên, và duy trì những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm” [14. Luật Hôn nhân và gia đình, ở nƣớc ta ghi rõ: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”. Còn từ góc độ khoa học chuyên ngành, hàm khái niệm đƣợc định nghĩa chi tiết hơn: “Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo những nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ), được coi là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ.
Sự xác nhận đó trong quá trình phát triển của xã hội, đã dần mang thêm những yếu tố mới” [21, tr. - Hôn nhân hỗn hợp dân tộc: là khái niệm dùng để chỉ sự kết hôn giữa hai ngƣời không cùng dân tộc, tôn giáo. - Truyền thống: đƣợc hiểu là thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống nếp nghĩ, đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [43, tr. Chẳng hạn, quan niệm hôn nhân, nguyên tắc, tính chất của hôn nhân, nghi lễ tôn giáo tín ngƣỡng trong hôn nhân biểu thị những giá trị truyền thống còn đƣợc lƣu giữ ở mỗi tộc ngƣời.
- Biến đổi: Theo Từ điển tiếng Việt thì biến đổi là sự thay đổi thành khác trƣớc hoặc sự thay đổi, điều thay đổi khác với trƣớc [43, tr. Chẳng hạn: Biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội, biến đổi văn hóa. Theo đó nghi lễ hôn nhân là giá trị văn hóa vật thể, không phải là yếu tố bất biến mà luôn luôn có sự vận động để thích hợp với hoàn cảnh và yêu cầu của thực tiễn. Cơ sở lý thuyết - Lý thuyết về bản sắc văn hóa tộc người: Bản sắc văn hóa tộc ngƣời là những nét đẹp, những tinh hoa đã đƣợc chắt lọc từ trong cuộc sống của cộng đồng, đƣợc cộng đồng thừa nhận, là sự kết nối, gắn bó 14 giữa con ngƣời với nhau, là tài sản vô giá hết sức quý báu của cả cộng đồng, dân tộc, tạo nên sức sống diệu kỳ và sức mạnh tinh thần để vƣợt qua những khó khăn, thử thách, những trở ngại trong cuộc sống.
Bản sắc văn hóa tộc ngƣời là sản phẩm của một quá trình lâu dài, nói cách khác là sản phẩm của quá trình từ rất lâu đời, sản phẩm này chính là cái hay, cái đẹp, là những giá trị tinh hoa đƣợc kết tinh lại trở thành cái riêng, cái độc đáo của dân tộc, hay của mỗi tộc ngƣời.