Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cho rằng: Có thể ước đoán hôn lễ ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ tòng phụ cư (chế độ mẫu hệ) sang chế độ tòng phu cư (chế độ phụ hệ). Theo thời gian, cùng với sự củng cố bền vững của hình thức hôn nhân một vợ - một chồng thì hôn lễ ngày càng phức tạp hơn. Có thể thấy rằng, hôn nhân có nguồn gốc lịch sử từ rất sớm, trải qua dòng thời gian hôn nhân cũng không ngừng thay đổi để có thể phù hợp với thời đại của xã hội.
Theo một số nghiên cứu hôn lễ ở Việt Nam tuy ban đầu chịu ảnh hưởng nặng nề theo Chu Công lễ, về sau dần dần cải thiện theo phong tục tập quán và văn hóa riêng của dân tộc Việt. Trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, hôn lễ trong đời sống Việt Nam bắt đầu có tính cởi mở nhiều hơn và được giản lược để phù hợp với xã hội hiện nay hơn tuy nhiên vẫn giữ được những nét văn hóa truyền thống có từ lâu đời. Và trong đời sống tinh thần của người Việt (kinh) thì cưới là một chuyện hệ trọng trong cuộc đời của mỗi người. Nó trở thành là một phong tục, một nghi lễ mang đậm nét văn hóa tinh hoa của dân tộc.
Phần lớn người Việt xưa đều được tổ chức đám cưới theo một cuốn sách cổ gọi là “Thọ mai gia lễ”, một cuốn sách nói về những vấn đề trong quan, hôn, tang, tế. Càng về sau này việc tổ chức hôn lễ lại phụ thuộc vào từng vùng miền với các hoàn cảnh khác nhau; một đám cưới truyền thống thường bao gồm các thủ tục chính là: kén chọn, giạm ngõ (dạm ngõ), hỏi, cưới, lại mặt và nộp cheo. Ngay nay đám cưới của người Việt đã có những thay đổi lớn, vừa truyền thống vừa hiện đại và trang trọng. Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, thì việc tổ chức đám cưới đều biểu hiện nét nếp sống văn hóa của dân tộc đó; nó được kế thừa và phát huy những nét đẹp trong phong tục, tập quán của dân tộc thông qua từng giai đoạn phát triển của đất nước.
5 Thông qua quá trình tìm hiểu các vấn đề liên quan đến nghi lễ hôn nhân học viên nhận thấy trước hết cần phải hiểu các khái niệm liên quan đến hôn nhân. Điều này chính là tiền đề cơ sở lí luận giúp học viên có thể hiểu về vấn đề mình sẽ nghiên cứu một cách cơ bản nhất. Cụ thể như cụm từ “Nghi lễ” thường được thể hiện qua sự ứng xử, giao tiếp trong xã hội, trong tín ngưỡng, trong sinh hoạt tôn giáo thông qua đời sống tâm linh, mang đậm sắc thái văn hóa dân tộc. Nghi lễ là một từ chung, mang ý nghĩa qua sự tổ chức, thể hiện các khuôn mẫu giao tiếp đã được đặt ra của một hay nhiều người đối với một hay nhiều người khác, và đối với một hay nhiều thần linh, đấng cao cả siêu nhiên.
Nghi lễ (rite gốc từ la tinh ritualis) gồm nhiều nghi thức (rituals) hành lễ hợp lại. Thêm vào đó, “Lễ” là sự thực hiện các phép tắc, khuôn mẫu mà người xưa đã thực hiện; là hình thức thể hiện việc tổ chức giao tiếp xã hội, ví dụ: các cử chỉ, ngôn ngữ trong giao tiếp, cách ứng xử trong cuộc sống đời thường; các hình thức cúng bái, tế lễ, cầu nguyện, v. Như vậy, Nghi lễ được hiểu là nghi thức khi hành lễ, hội đủ các yếu tố mang tính văn hóa tâm linh. Trong thời đại ngày nay khi mà khoa học hiện đại càng phát triển, đời sống vật chất của con người về đời sống vật chất được nâng lên ở tầm cao và được cải thiện thì những giá trị văn hóa tinh thần đòi hỏi cũng phải được thay đổi để phù hợp với thời đại.
Tuy vậy, nghi lễ hôn nhân hiện nay đang có xu hướng coi trọng vấn đề kinh tế mà mất dần đi các giá trị tinh thần. Đây là một trong những thực trạng cho thấy cho các giá trị tốt đẹp về đạo đức, văn hóa con người bị suy giảm. Trước thực trạng này các nhà văn hóa và các nhà xã hội, nhất là các nhà quản lý đang nỗ lực đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm để cân bằng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, góp phần cải thiện văn hóa, đạo đức xã hội. Tục lệ hôn nhân truyền thống của người Việt từ xưa bị ảnh hưởng từ lễ giáo phong kiến và tư tưởng Nho giáo của Trung quốc nên có những quan niệm và tục lệ hôn nhân rất phức tạp nhưng đa dạng và được quy định bởi bản sắc văn hóa tộc người.
Theo từ điển Nhân học, “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm mục đích duy trì nòi 6 giống một cách hợp pháp, lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ gia đình mới” [28, tr. Theo tác giả Đoàn Văn Chúc (2004) “Trong tiếng Việt, việc trai gái lấy nhau thành vợ chồng gọi là việc hôn nhân hay việc giá thú. Hôn nhân là một danh từ để chỉ việc lấy vợ lấy chồng của đôi trai gái. Hôn nhân là ghép bởi hai từ gốc hán là hôn và nhân, trong đó hôn là bố mẹ cô dâu, nhân là bố mẹ chú rể.
Hôn nhân là việc đôi bên cha mẹ hai gia đình lo lấy vợ gả chồng cho con. Còn giá thú được ghép từ hai từ Hán- Việt, trong đó giá là việc lấy chồng, thú là việc lấy vợ. Việc giá thú là việc đôi trai gái lấy nhau làm chồng làm vợ để lập thành gia đình. Như vậy, khi gọi là hôn nhân là đứng trên quan điểm của cha mẹ hai gia đình, còn gọi là giá thú là trên quan điểm của đôi trai gái”.
Trong nghiên cứu “Đám cưới người Việt xưa và nay”, của tác giả Bùi Xuân Mỹ (2014) “Trong các nền văn hóa, từ thời tiền lịch sử và cổ xưa, dưới hình thức này hay hình thức khác, hôn nhân bao giờ cũng là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà lại với nhau suốt đời, với tư cách là vợ chồng, và các tập tục trong hôn nhân, qua các thời đại, xem ra cũng đa dạng như chính các nền văn hóa mà trong đó chúng tồn tại. Trong từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1988), tác giả đã đưa ra một số khái niệm ngắn gọn: “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”. Hôn nhân đặt trên sự tự nguyện, không ràng buộc là sự thống nhất giữa tình yêu và trách nhiệm giữa hai người” [7, tr. Còn khi coi hôn nhân là một quy tắc xã hội, Nguyễn Văn Tiệp cho rằng: “Nếu như gia đình là hình thức kết hợp cá nhân có tính lịch sử của tổ chức đời sống xã hội loài người, đó là sự kết hợp giữa đàn ông và đàn bà thì hôn nhân là những quy tắc của sự kết hợp đó, sự kết hợp mang yếu tố giới tính.
Những hình thức của hôn nhân phản ánh những quy luật chung nhất sự phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử và mang những đặc thù văn hóa tộc người”. Trong cuốn sách Những điều cần biết về Nghi lễ hôn nhân người Việt của Trương Thìn đã khái niệm hôn nhân “Việc lấy vợ lấy chồng gọi là hôn nhân, cưới xin hôn thú, hôn thư hay giá thú.” hay định nghĩa đơn giản trong Nghi lễ vòng đời 7 người chỉ là “Hôn nhân là một danh từ để chỉ việc lấy vợ lấy chồng của đôi trai gái”. Các quan điểm như trên về hôn nhân được hiểu theo cách chung nhất đó là việc kết hợp một nam và một nữ tạo nên một mối quan hệ được gọi là vợ chồng có sự chấp thuận của bố mẹ hai bên gia đình và được hợp pháp hóa đầy đủ thông qua giấy đăng ký kết hôn. Theo quan điểm của học viên thì hôn nhân là một mối quan hệ hợp pháp giữa nam và nữ trở thành vợ chồng thông qua việc tổ chức đám cưới với sự chứng kiến của tổ tiên và sự xác nhận của xã hội.
Hôn nhân mang một ý nghĩa thiêng liêng trong đời sống của mỗi người. Do vậy, nghi lễ hôn nhân có thể được hiểu là những ứng xử của con người đối với thần linh, tổ tiên gia đình, là những quy tắc có đi có lại của văn hóa cộng đồng giữa các mối quan hệ trong xã hội. Từ đó, nghi lễ trong hôn nhân là các hình thức ứng xử văn hóa của con người được thực hiện thông qua các nghi lễ tổ chức đám cưới, là lối ứng xử của con cái đối với tổ tiên những người đã mất và là nơi thực hành văn hóa tổ chức cộng đồng qua mối quan hệ họ hàng, láng giềng và bạn bè của hai bên gia đình. Hôn nhân là đề tài luôn thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Từ xưa đến nay có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu về những nghi lễ trong hôn nhân truyền thống, sự ảnh hưởng của xã hội Nho giáo tới nhận thức và lối sống trong tổ chức nghi lễ hôn nhân với các mối quan hệ họ hàng; vấn đề về tuổi kết hôn; tình trạng ly hôn; tình trạng sống thử trước hôn nhân. Một số khác các nhà nghiên cứu thì đi sâu tìm hiểu về các vấn đề hôn nhân truyền thống của các dân tộc người thiểu số, các mối quan hệ trong quá trình phát triển xã hội. Cụ thể như sau: - Qua bài viết nghiên cứu “Mời cưới ở Hà Nội và quản lý các mối quan hệ” của Alexander Soucy trong sách “Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam”, nghiên cứu một trường hợp đám cưới ở Hà Nội cho thấy các mối quan hệ xã hội được thiết lập mà ở đó địa vị xã hội là một yếu tố quan trọng trong các đám cưới. Đồng thời duy trì các mối quan hệ xã hội bằng tình cảm thông qua các hình thức khác nhau.
Qua những mô tả các tiến trình ở một đám cưới đương đại ở Hà Nội gồm có: Ăn hỏi, cỗ cưới và đón dâu.