Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT Ở LÀNG THÀNH CÔNG 1.1 Một số khái niệm công cụ Trong phạm vi nghiên cứu được xác định, luận văn đã làm rõ nội hàm một số khái niệm liên quan, như: Hôn nhân, nội hôn tộc người, ngoại hôn dòng họ, hôn nhân hỗn hợp dân tộc, nghi lễ hôn nhân, truyền thống, biến đổi. - Hôn nhân Theo Từ điển Nhân học, “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ gia đình mới” [55, tr. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, "Hôn nhân là một thể chế xã hội kèm theo nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ) được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ. Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới".
Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A. Schultz và Robobert H. Lavenda cho rằng: "Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm". Theo hai tác giả này, hôn nhân cũng tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng.
Luật Hôn nhân và Gia đình của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rằng: "Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn". 10 Đồng thời, Lụât này cũng định nghĩa "Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn" [39, mục 1,4,5; điều 3]. Nội hàm của hôn nhân còn bao gồm các quan niệm và nguyên tắc hôn nhân, hình thức hôn nhân, nguyên tắc và hình thức cư trú sau hôn nhân.
Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả luận văn cũng tìm hiểu một số khái niệm khác liên quan đến hôn nhân để thấy được bản sắc tộc người của người Dao Quần Chẹt nói riêng và của người Dao nói chung. - Ngoại hôn dòng họ: Đó là những quy tắc kết hôn ngoài dòng họ được luật tục hay tập quán quy định. - Nội hôn tộc người: Là quy tắc chỉ kết hôn với người đồng tộc hay cùng một nhóm tộc người ( nhóm địa phương) vói mình. - Hôn nhân hỗn hợp dân tộc: Là chỉ sự kết hôn giữa hai người không cùng một dân tộc.
- Nghi lễ hôn nhân: Nghi lễ hôn nhân được hiểu là các nghi lễ diễn ra theo tập quán hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân. Để tiến đến hôn nhân cũng như để hoàn tất cuộc hôn nhân, đôi trai gái và hai bên gia đình của họ phải thực hiện những nghi lễ nhất định theo quy định mang tính tập quán của một tộc người cũng như của địa phương của họ. Nghi lễ hôn nhân nhằm mục đích đảm bảo sự chứng kiến và công nhận của cộng đồng và gia đình, ngoài ra nó còn chứa đựng một số yếu tố tâm linh. - Truyền thống: Truyền thống được hiểu là thói quen được hình thành đã từ lâu trong lối sống và nếp nghĩ của mỗi cá nhân hay một cộng đồng và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Biến đổi: Là sự thay đổi thành khác trước hoặc sự thay đổi, điều thay đổi khác với trước. Cũng như các yếu tố văn hóa khác, hôn nhân không phải 11 là bất biến, mà nó luôn luôn vận động, thích hợp với hoàn cảnh và yêu cầu của thực tiễn. Cơ sở lý thuyết Trong luận văn này, tác giả sử dụng một số quan điểm lý thuyết của Dân tộc học/ Nhân học làm cơ sở cho việc phân tích và nhận định, đó là: - Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người: Bản sắc tộc người là tổng thể những yếu tố vật chất và tinh thần mang tính đặc trưng và đặc thù của một tộc người, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác, và giữa các nhóm khác nhau của cùng một tộc người. Bản sắc tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử, gắn liền với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên của tộc người.
Bản sắc tộc người có sức sống lâu bền, ngay cả khi đời sống của tộc người đã có những thay đổi mạnh mẽ. Bản sắc tộc người còn thể hiện bản lĩnh của tộc người. Vì vậy áp dụng lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người giúp tác giả luận văn nhận diện được rõ những sắc thái riêng trong hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công. - Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa: Lý thuyết này được trường phái Nhân học Anglo - Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của sự tiếp xúc đó là sự thay đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa.
Theo các nhà Nhân học Mỹ, giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng bởi một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng. Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục. Các thành tố của nền văn hóa tuy có biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình… Tiếp biến văn hóa còn được hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả làm cho chúng ngày càng trở nên giống nhau hơn. 12 Như vậy, lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là quá trình tất yếu của mọi sự vật và hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa tộc người nói chung và hôn nhân nói riêng.
Ngày nay, dưới sự tác động của quá trình phát triển, hiện đại hóa, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi văn hóa của các tộc người, trong đó có hôn nhân của người Dao Quần Chẹt là không tránh khỏi. Do đó, khi nghiên cứu văn hóa tộc người, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và các nghi lễ trong hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công, tác giả luận văn không thể chỉ xem xét vấn đề này một cách biệt lập hay trong trạng thái tĩnh, mà luôn đặt chúng trong trạng thái động, trong quá trình biến đổi, tiếp biến. - Lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi: Là nghi lễ đánh dấu sự thay đổi địa vị xã hội của con người do nhà dân tộc học người Pháp Arnold Van Gennep (1873-1975) đưa ra vào thế kỷ XX. Nghi lễ chuyển đổi thường đi kèm với những nghi lễ xung quanh những sự kiện liên quan đến đời người như việc ra đời của đứa trẻ, tuổi vào đời, hôn lễ, thượng thọ.
Tác giả luận văn đã vận dụng lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi để nghiên cứu việc thực hành các nghi lễ hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công. Khái quát về xã Lãng Công. Điều kiện tự nhiên Xã Lãng Công tiếp giáp với huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) và với xã Quang Yên cùng huyện Sông Lô ở phía Bắc; phía Đông tiếp giáp các xã Quang Sơn, Ngọc Mỹ của huyện Lập Thạch; phía Nam tiếp giáp các xã Đồng Quế, Nhân Đạo, phía Tây tiếp giáp xã Hải Lựu. Địa hình của xã Lãng Công khá phức tạp, phía Tây là vùng gồi đò nhấp nhô, phía Đông là dãy núi Sáng trùng điệp, chạy dọc giữa xã là những cánh đồng ruộng bậc thang, thuận lợi cho việc trồng trọt của nhân dân.
Địa bàn của xã Lãng Công trải từ Bắc xuống Nam dài trên 4km và từ Đông sang Tây hơn 5km, với tổng diện tích tự nhiên là 2053,3ha, trong đó, 13 đất nông nghiệp 317,23 ha, đất lâm nghiệp 1,235,7 ha, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở. Quá trình hình thành xã Lãng Công Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, phần đất của xã Lãng Công ngày nay nằm trong địa phận của tổng Nhân Mục, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên. Tổng Nhân Mục có 7 làng: Đôn Mục, Khoan Bộ, Lãng Sơn, Nhân Mục, Nhân Lạc, Phương Ngạc và Đạo Nội. Sau cách mạng tháng Tám, đơn vị hành chính cấp tổng được xóa bỏ và nhiều xã mới được hình thành.
Xã Lãng Công được thành lập trên cơ sở làng Lãng Sơn, xóm Thành Công và hai làng Nhân Lạc, Đạo Nội (nay là hai làng thuộc xã Nhân Đạo) thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên. Tên gọi Lãng Công được hình thành trên cơ sở ghép một thành tố của tên làng Lãng Sơn với thành tố của tên xóm Thành Công. Thực hiện Nghị định số 09-NĐ/CP ngày 23/12/2008 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Lập Thạch, huyện Sông Lô được chính thức thành lập ngày 01 tháng 4 năm 2009 với 17 xã và thị trấn, trong đó có xã Lãng Công [5, tr. Dân số và dân tộc Theo số liệu của UBND xã, năm 2009 Lãng Công có 1.389 nhân khẩu sinh sống ở 10 thôn.
Khác với đặc điểm dân cư ở các địa phương khác trong huyện Sông Lô chỉ thuần nhất người Kinh, xã Lãng Công hiện nay có 2 dân tộc cùng sinh sống đó là dân tộc Kinh và Dao (dân tộc Dao chiếm tỷ lệ 8 % dân số toàn xã, cư trú tập trung ở làng Thành Công).