Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số 9229040) với đề tài "Nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột" do nghiên cứu sinh Mai Trọng An Vinh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành và bảo vệ năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Huỳnh Ngọc Thu và TS. Lương Thanh Sơn.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng người Êđê là tộc người thiểu số có số dân đông nhất tại thành phố Buôn Ma Thuột, sở hữu hệ thống nghi lễ dân gian phong phú phản ánh ứng xử của con người với cộng đồng và thế giới thần linh. Kể từ năm 1995, tiến trình đô thị hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ tại Buôn Ma Thuột đã dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong văn hóa truyền thống của người Êđê, rõ nét nhất là ở hệ thống nghi lễ gia đình. Mặc dù người Êđê đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ như sử học, dân tộc học và nhân học, song tác giả khẳng định cho đến thời điểm triển khai đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống nghi lễ gia đình của người Êđê ở Buôn Ma Thuột dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm hai điểm:

  1. Tìm hiểu về nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột.
  2. Nhận diện các đặc điểm văn hóa và xu hướng biến đổi của nghi lễ gia đình trong đời sống người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba nội dung:

  1. Tìm hiểu tổng quan về người Êđê ở Buôn Ma Thuột.
  2. Tìm hiểu về nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột.
  3. Phân tích các đặc điểm văn hóa và xu hướng biến đổi của nghi lễ gia đình trong đời sống người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm:

  1. Nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột như thế nào?
  2. Các đặc điểm văn hóa trong nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột là gì?
  3. Xu hướng biến đổi nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột như thế nào?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm:

  1. Những nghi lễ trong hệ thống nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột đã biến đổi rất nhiều, thậm chí nhiều nghi lễ đã hoàn toàn biến mất; tính nguyên hợp, tính biểu tượng, tính cộng đồng và tính thiêng trong nghi lễ suy giảm đáng kể.
  2. Ngoài những đặc điểm văn hóa truyền thống còn lưu giữ lại, nghi lễ gia đình hiện nay xuất hiện những đặc điểm văn hóa mang dấu ấn đô thị thời hiện đại do tiếp xúc, giao lưu văn hóa với các tộc người khác (chủ yếu là người Kinh) và tác động của phát triển kinh tế, xã hội, công nghệ.
  3. Ba xu hướng biến đổi đang tồn tại trong nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột là: (i) Tín ngưỡng đa thần phai nhạt dần, chuyển sang các tôn giáo khác; (ii) Giao thoa tiếp biến văn hóa trong tín ngưỡng với các tộc người khác trong thực hành nghi lễ gia tăng; (iii) Phục hồi có chọn lọc và sân khấu hóa nghi lễ gia đình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghi lễ gia đình của người Êđê ở Buôn Ma Thuột hiện nay còn theo tín ngưỡng truyền thống.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nghi lễ chủ yếu gắn với hoạt động sinh kế (nghi lễ cúng bến nước, nghi lễ ăn cơm mới) và các nghi lễ liên quan đến chu kỳ đời người (nghi lễ cầu may mắn trong sinh đẻ, nghi lễ đặt tên, nghi lễ hỏi chồng, nghi lễ thỏa thuận, nghi lễ rước rể, cưới, nghi lễ lại mặt, nghi lễ tang và nghi lễ bỏ mả). Khái niệm gia đình trong luận án được hiểu là gia đình lớn mẫu hệ của người Êđê.
  • Phạm vi không gian: Các buôn Êđê tại thành phố Buôn Ma Thuột, trong đó tập trung khảo sát 06 buôn đại diện cho ba khu vực: buôn Akŏ Dhong (phường Tân Lợi, vị trí trung tâm); buôn Dhă Prong và buôn Êa Bông (xã Cư Êbur, vị trí cận trung tâm); buôn Kmrơng Prông B, buôn Êa Nao A và buôn Êa Nao B (xã Ea Tu, vị trí ngoại vi).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng từ mốc năm 1995 đến thời điểm năm 2023, đồng thời so sánh đối chiếu với giai đoạn truyền thống từ năm 1995 trở về trước.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thành 4 nhóm công trình chính:

  1. Nhóm nghiên cứu nghi lễ gia đình của các tộc người: Tác giả điểm qua các nghiên cứu về người Hoa (Trần Hạnh Minh Phương), người Khơ Mú (Nguyễn Thị Thuận), người Hà Nhì (Trịnh Thị Lan), người Nùng Cháo (Hoàng Thùy Dương), người Việt theo Phật giáo và Công giáo (Lê Thị Cúc, Tạ Duy Linh). Trong đó, tác giả kế thừa trực tiếp cách tiếp cận từ 4 công trình:

    • Phan Quốc Anh (2010), Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahier ở Ninh Thuận, cung cấp cơ sở đối sánh về cấu trúc tín ngưỡng mẫu hệ và ngữ hệ Nam Đảo (Malayô - Pôlynêxia).
    • Lê Hải Đăng (2011), luận án Các nghi lễ gia đình của người Tày Mường ở Con Cuông, Nghệ An, gợi mở cách vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và phân loại các giai đoạn sinh đẻ, cưới xin, tang ma.
    • Nguyễn Văn Thắng (2014), luận án Nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam, cung cấp khung phân tích về sự chuyển hóa từ gia đình lớn sang gia đình nhỏ và biến đổi tập tục dưới tác động của cơ chế thị trường.
    • Nguyễn Thị Kim Thoa (2016), luận án Văn hóa gia đình của người Mường ở Hòa Bình, làm rõ tác động của đô thị hóa và giao lưu văn hóa đối với nghi lễ gia đình.
  2. Nhóm nghiên cứu về văn hóa người Êđê:

    • Các công trình người Pháp thời kỳ đầu: Henri Maitre (1912) với Rừng người Thượng; Gerald Cannon Hickey (1982) với Sons of the mountains; Georges Condominas (2008) với Chúng tôi ăn rừng; Jacques Dournes (2003) với Miền đất huyền ảo; Anne De Hautecloque-Howe (2004) với Người Ê Đê – một xã hội mẫu quyền. Nhóm nghiên cứu này ghi chép về thiết chế xã hội, luật tục và đời sống tín ngưỡng sơ khai.
    • Các công trình giai đoạn 1954–1975: Nivelle (1966) với Minority groups in the republic of Viet Nam; Hickey (1967); Nguyễn Trắc Dĩ (1972) với Đồng bào các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam; Toan Ánh và Cửu Long Giang (1974) với Cao nguyên miền Thượng.
    • Các công trình từ sau năm 1975: Hoàng Văn Huyên (1980); Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, Vũ Thị Hồng, Vũ Đình Lợi (1982) với Đại cương về dân tộc Ê-đê, M’nông ở Dak Lak; Ngô Đức Thịnh (1992) với Văn hóa dân gian Êđê và (2007) với Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên; Buôn Krông Tuyết Nhung cùng cộng sự (2009) với Văn hóa ẩm thực của người Ê Đê và Buôn Krông Tuyết Nhung (2012) với Văn hóa mẫu hệ qua sử thi Ê Đê.
  3. Nhóm nghiên cứu trực tiếp về nghi lễ gia đình của người Êđê:

    • Vũ Đình Lợi (1992), luận án Hôn nhân và gia đình ở các dân tộc Malayô - Pôlynêxia (Nam Đảo) Trường Sơn - Tây Nguyên, phân tích nghi lễ hôn nhân và chức năng gia đình mẫu hệ.
    • Nguyễn Thị Hòa (1995), luận án Nhà ở và sinh hoạt trong nhà của người Êđê ở Việt Nam, làm rõ mối quan hệ giữa nhà sàn dài và sinh hoạt nghi lễ của đại gia đình.
    • Trương Bi và Y Wơn (2017), hai công trình sưu tầm Các bài cúng trong nghi lễ vòng đời người của dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk và Các bài cúng trong nghi lễ nông nghiệp của dân tộc Êđê, cung cấp văn bản lời khấn thần.
    • Mai Trọng An Vinh (2021), luận án tiến sĩ Triết học Triết lý nhân sinh trong nghi lễ thờ cúng của người Êđê ở Buôn Ma Thuột, làm rõ thế giới quan, nhân sinh quan trong các nghi lễ truyền thống trước năm 1986.
  4. Nhóm nghiên cứu về biến đổi trong văn hóa và nghi lễ của người Êđê:

    • Nguyễn Ngọc Hòa (2002), luận án Văn hóa Êđê - Truyền thống và biến đổi, phân tích tính cộng đồng và sự mai một của các lễ thức vòng đời.
    • Hà Đình Thành (chủ biên, 2012), Cộng đồng dân tộc Êđê ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay, phản ánh sự thâm nhập của các tôn giáo mới và đề xuất giải pháp bảo tồn.
    • Đặng Hoài Giang (2016), luận án Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Êđê ở Buôn Ma Thuột từ sau năm 1975 đến nay, khảo sát sự thu hẹp của không gian cư trú và sinh hoạt tín ngưỡng buôn làng.
Nhóm công trình Tác giả, năm tiêu biểu Đóng góp tư liệu và phương pháp Giới hạn so với luận án
Nghi lễ gia đình tộc người khác Phan Quốc Anh (2010), Lê Hải Đăng (2011), Nguyễn Văn Thắng (2014) Khung phân tích nghi lễ vòng đời, mô hình chuyển đổi nghi lễ Địa bàn miền Bắc hoặc tộc người khác, khác biệt về ngữ hệ và địa văn hóa
Văn hóa tổng thể người Êđê Henri Maitre (1912), Anne De Hautecloque-Howe (2004), Ngô Đức Thịnh (1992) Cung cấp tri thức nền tảng về thiết chế mẫu hệ, luật tục, văn hóa dân gian Nghiên cứu diện rộng, mang tính mô tả tổng hợp, thiếu dữ liệu biến đổi sau 1995
Nghi lễ người Êđê Vũ Đình Lợi (1992), Trương Bi & Y Wơn (2017), Mai Trọng An Vinh (2021) Cung cấp văn bản lời cúng, lễ thức hôn nhân, triết lý thờ cúng truyền thống Dừng lại ở giai đoạn trước 1986 hoặc thuần túy sưu tầm văn bản, tiếp cận triết học
Biến đổi văn hóa Êđê Nguyễn Ngọc Hòa (2002), Hà Đình Thành (2012), Đặng Hoài Giang (2016) Nhận diện tác động của tôn giáo mới và biến đổi không gian buôn làng Không lấy nghi lễ gia đình tại đô thị Buôn Ma Thuột làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Chưa có công trình nào khảo sát chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về thực trạng nghi lễ gia đình của người Êđê tại đô thị Buôn Ma Thuột trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay dưới góc độ Văn hóa học, đồng thời phân tích cụ thể các chiều kích biến đổi và hiện tượng sân khấu hóa nghi lễ trong bối cảnh đương đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết tiếp cận sau:

  1. Hệ thống khái niệm cơ bản:

    • Nghi lễ: Tác giả tổng hợp quan điểm của Thomas Barfield (Từ điển Nhân học, 1996), Hoàng Phê (Từ điển Tiếng Việt, 2012), Edward Burnett Tylor (1871/2013), A. Radugin (2002), Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda (2001), Claude Lévi-Strauss, Đặng Nghiêm Vạn (2009) để xác lập định nghĩa: Nghi lễ là hệ thống các lễ thức mang tính biểu tượng cao được con người thực hành trong một không gian thiêng, được cộng đồng thừa nhận và lặp đi lặp lại, trở thành thói quen ăn sâu vào tâm thức cá nhân, gia đình và cộng đồng.
    • Lễ hội: Tiếp cận qua quan điểm của Sigmund Freud, Kiều Thu Hoạch (2008) và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2018), phân định cấu trúc gồm hai phần "Lễ" (yếu tố tâm linh, đóng vai trò chủ đạo) và "Hội" (sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật tích hợp).
    • Gia đình và nghi lễ gia đình: Vận dụng lý thuyết gia đình của H. J. Locke (1953), John J. Macionis, Karl Marx (trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức) và định nghĩa tại Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014. Nghi lễ gia đình được xác định là các nghi lễ do gia đình tổ chức trong phạm vi gia đình cho một cá nhân hoặc một nhóm thành viên, nhằm gửi gắm ước nguyện tới thần linh, ông bà tổ tiên trong không gian thiêng.
    • Cộng đồng và nghi lễ cộng đồng: Dựa trên Từ điển Tiếng Việt và Từ điển Bách khoa Việt Nam để phân biệt ranh giới và mối liên hệ tương hỗ giữa nghi lễ gia đình và nghi lễ buôn làng.
  2. Lý thuyết và quan điểm tiếp cận:

    • Luận án sử dụng quan điểm tiếp cận liên ngành Văn hóa học kết hợp với Nhân học văn hóa và Xã hội học.
    • Vận dụng tiếp cận hệ thống - cấu trúc để xem xét nghi lễ như một chỉnh thể gồm các thành tố: chủ lễ, thầy cúng, lời cúng, lễ vật, không gian, biểu tượng và diễn xướng.
    • Sử dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết tiếp biến văn hóa (acculturation) để luận giải sự tương tác giữa văn hóa truyền thống Êđê với văn hóa người Kinh và văn hóa đô thị hiện đại.
  3. Phương pháp nghiên cứu định tính và nguồn dữ liệu:

    • Phương pháp quan sát - tham dự và điều tra điền dã: Tác giả trực tiếp tham dự, ghi chép, ghi âm và ghi hình các nghi lễ thực tế tại địa bàn khảo sát; theo dõi trình tự thực hành, cách sắp đặt lễ vật, hành vi của người thụ lễ và người tham dự.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu với các nhóm đối tượng: (1) Các chuyên gia thực hành nghi lễ, người am hiểu phong tục gồm thầy cúng, chủ gia đình mẫu hệ, già làng, người cao tuổi Êđê; (2) Cán bộ quản lý văn hóa cơ sở tại thành phố Buôn Ma Thuột; (3) Các nhà nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Êđê.
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp và logic - lịch sử: Sử dụng để đối chiếu nguồn tư liệu sơ cấp thu thập được từ điền dã với nguồn tư liệu thứ cấp (các công trình nghiên cứu trước năm 1986 và luận án triết học năm 2021 của tác giả), nhằm phục dựng diện mạo truyền thống và xác định rõ biên độ biến đổi sau năm 1995.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết và phác thảo bối cảnh địa bàn nghiên cứu. Tác giả trình bày các khái niệm nền tảng (nghi lễ, lễ hội, gia đình, nghi lễ gia đình, cộng đồng, nghi lễ cộng đồng) và hệ thống lý thuyết tiếp cận.

Về cơ sở thực tiễn, tác giả khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của thành phố Buôn Ma Thuột – đô thị giữ vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh Đắk Lắk và vùng Tây Nguyên. Luận án phân tích cơ cấu dân cư, sinh kế truyền thống chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa (cà phê, hồ tiêu, dịch vụ), và sự đan xen giữa tín ngưỡng đa thần (vạn vật hữu linh) với các tôn giáo mới du nhập như Công giáo và đạo Tin Lành.

Đặc biệt, tác giả khảo sát khái quát 06 buôn được lựa chọn làm trọng tâm nghiên cứu dựa trên khoảng cách địa lý và mức độ tiếp xúc đô thị:

Tên buôn khảo sát Đơn vị hành chính Vị trí địa lý nghiên cứu Đặc điểm cư trú và thực hành văn hóa
Buôn Akŏ Dhong Phường Tân Lợi Khu vực trung tâm thành phố Mật độ đô thị hóa cao, phát triển mạnh du lịch cộng đồng, tiếp biến văn hóa sâu rộng
Buôn Dhă Prong Xã Cư Êbur Khu vực cận trung tâm Đang trong tiến trình chuyển đổi đất sản xuất, giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ
Buôn Êa Bông Xã Cư Êbur Khu vực cận trung tâm Tồn tại đan xen giữa nhà sàn dài truyền thống và nhà xây kiểu mới
Buôn Kmrơng Prông B Xã Ea Tu Khu vực ngoại vi Cư dân duy trì nhiều nương rẫy canh tác, giữ được nhiều lễ thức truyền thống
Buôn Êa Nao A Xã Ea Tu Khu vực ngoại vi Không gian buôn làng truyền thống còn tương đối rõ nét
Buôn Êa Nao B Xã Ea Tu Khu vực ngoại vi Cộng đồng gắn kết chặt chẽ theo dòng họ mẫu hệ, mức độ biến đổi nghi lễ chậm hơn

Chương 2: Diễn trình nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột

Chương 2 mô tả chi tiết không gian và tiến trình thực hành hai hệ thống nghi lễ chính còn tồn tại trong các gia đình Êđê theo tín ngưỡng truyền thống:

  1. Không gian thực hành nghi lễ:

    • Không gian sản xuất (nương rẫy): Nơi tổ chức các nghi thức gắn với nông nghiệp, hiện đang thu hẹp do quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đất đai.
    • Không gian cư trú của gia đình (nhà sàn dài): Trung tâm tổ chức hầu hết các nghi lễ chu kỳ đời người, phân định rõ khu vực khách (Gah) và khu vực sinh hoạt gia đình (Ôk).
    • Không gian khu mộ địa: Nơi tiến hành các nghi lễ tang ma và lễ bỏ mả, phân định ranh giới giữa thế giới người sống và người chết.
  2. Diễn trình các nghi lễ liên quan đến hoạt động sinh kế:

    • Nghi lễ cúng bến nước (Ngă yang kpin êa): Ban đầu mang tính chất nghi lễ cộng đồng buôn làng, nhưng ở cấp độ hộ gia đình, các chủ hộ tham gia đóng góp lễ vật và thực hiện lễ cúng tạ ơn thần nước tại gia đình nhằm cầu nguồn nước trong sạch, dồi dào.
    • Nghi lễ ăn cơm mới (Hma Ngắt): Thực hiện tại nhà sàn sau mùa thu hoạch để tạ ơn thần Lúa (Yang Hdéh Mâo), xin phép cho gia đình được sử dụng lúa mới, cúng sức khỏe cho các thành viên và cầu mong mùa vụ năm sau bội thu.
  3. Diễn trình các nghi lễ liên quan đến đời người:

    • Giai đoạn sinh đẻ: Nghi lễ cầu may mắn trong sinh đẻ (cầu xin thần linh che chở cho người mẹ và thai nhi khỏe mạnh) và nghi lễ đặt tên (chính thức công nhận đứa trẻ là thành viên của dòng họ mẹ và buôn làng, gắn chuỗi hạt cườm hoặc vòng đồng mang tính bảo hộ).
    • Giai đoạn hôn nhân: Thực hiện theo nguyên tắc mẫu hệ nghiêm ngặt qua 5 bước: (1) Nghi lễ hỏi chồng; (2) Nghi lễ thỏa thuận (thỏa thuận các khoản thách cưới, công dưỡng dục); (3) Nghi lễ rước rể; (4) Nghi lễ cưới (nghi thức trao vòng đồng, cắn chung miếng gan heo thể hiện sự gắn kết vĩnh viễn); (5) Nghi lễ lại mặt (chú rể cùng cô dâu trở về thăm nhà trai sau ngày cưới).
    • Giai đoạn tang ma: Nghi lễ tang (tổ chức khâm liệm, chia tài sản cho người chết, tiễn biệt linh hồn) và nghi lễ bỏ mả (nghi lễ cuối cùng chấm dứt mọi ràng buộc giữa người sống và người chết, giải phóng người góa bụa để tái hôn).
Nhóm nghi lễ Tên nghi lễ cụ thể Không gian thực hành chính Lễ vật chủ đạo và dấu hiệu nhận diện
Sinh kế nông nghiệp Cúng bến nước (Ngă yang kpin êa) Bến nước của buôn và nhà sàn Rượu cần, heo/gà, tiết con vật hòa nước tưới lên bến
Sinh kế nông nghiệp Ăn cơm mới (Hma Ngắt) Nhà sàn dài (gian Gah) Cơm gạo mới, rượu cần, thịt heo, xôi nếp
Chu kỳ đời người: Sinh đẻ Cầu may mắn khi mang thai; Đặt tên Nhà sàn dài Rượu cần, gà, vòng đồng hộ mệnh cho trẻ sơ sinh
Chu kỳ đời người: Hôn nhân Hỏi chồng, thỏa thuận, rước rể, cưới, lại mặt Nhà gái và nhà trai Rượu cần, vòng đồng đính ước, chăn thổ cẩm, heo
Chu kỳ đời người: Tang ma Nghi lễ tang; Nghi lễ bỏ mả Nhà sàn dài và khu mộ địa Rượu cần, trâu/bò/heo, nhà mồ, tượng mồ gỗ

Chương 3: Đặc điểm văn hóa và xu hướng biến đổi nghi lễ gia đình của người Êđê hiện nay ở Buôn Ma Thuột

Chương 3 phân tích các đặc trưng văn hóa cấu thành và làm rõ bản chất các biến đổi văn hóa:

  1. Đặc điểm văn hóa của nghi lễ gia đình:

    • Chủ lễ, thầy cúng và lời cúng: Chủ gia đình mẫu hệ giữ vai trò quyết định việc tổ chức; thầy cúng (Ê-kei po yang) đóng vai trò trung gian kết nối với thần linh; lời cúng thần (Klei kpar yang) là thể loại diễn xướng dân gian vần vè, giàu hình ảnh biểu tượng.
    • Lễ vật, thức ăn, trang phục và trang sức: Rượu cần (Kpiê) và thịt động vật hiến tế (gà, heo, trâu, bò) là vật phẩm bắt buộc; các món ăn truyền thống chế biến từ sản vật nương rẫy; trang phục thổ cẩm truyền thống kết hợp vòng đồng mang tính bảo trợ tâm linh.
    • Biểu tượng và diễn xướng: Biểu tượng ché rượu, cột lễ (Gơng găm), bầu nước, ngực phụ nữ khắc trên cầu thang; kết hợp diễn xướng cồng chiêng (Ching) và hát kể sử thi (Khan) trong các nghi lễ lớn.
  2. Các yếu tố tác động đến sự biến đổi:

    • Chính sách văn hóa - xã hội của Đảng và Nhà nước về xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ hủ tục.
    • Sự phát triển kinh tế thị trường, đô thị hóa làm thu hẹp không gian nương rẫy và diện tích nhà sàn dài.
    • Sự xâm nhập của các tôn giáo mới (Tin Lành, Công giáo) làm thay đổi căn bản hệ thống niềm tin.
    • Sự giao lưu văn hóa với người Kinh và tác động của truyền thông, công nghệ hiện đại.
  3. Ba chiều kích/xu hướng biến đổi chính:

    • Xu hướng 1: Phai nhạt tín ngưỡng đa thần và sự chuyển đổi niềm tin tôn giáo. Tín đồ chuyển sang Tin Lành hoặc Công giáo từ bỏ việc hiến tế thần linh, không thực hành các lễ cúng có rượu cần và bài cúng truyền thống.
    • Xu hướng 2: Giao thoa, tiếp biến văn hóa trong thực hành nghi lễ. Xuất hiện nhiều yếu tố văn hóa của người Kinh trong lễ cưới (mặc áo cưới phương Tây, dùng nhạc sống, đãi tiệc nhà hàng), lễ tang (dùng quan tài kiểu người Kinh, rải vàng mã, rút ngắn thời gian để thi hài trong nhà từ nhiều ngày xuống dưới 48 giờ).
    • Xu hướng 3: Phục hồi có chọn lọc và sân khấu hóa nghi lễ gia đình. Một số nghi lễ như cúng bến nước, ăn cơm mới, cúng sức khỏe được tổ chức trình diễn phục vụ khách du lịch tại buôn Akŏ Dhong hoặc đưa vào các lễ hội văn hóa định kỳ, biến đổi từ tính chất tâm linh gia đình khép kín thành sản phẩm văn hóa phục vụ cộng đồng và du lịch.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học:

  • Hệ thống hóa diện mạo thực hành nghi lễ gia đình của người Êđê tại đô thị Buôn Ma Thuột giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2023 dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.
  • Cung cấp nguồn tư liệu điền dã dân tộc học - văn hóa học thực tế về trình tự các nghi lễ sinh kế và nghi lễ đời người đang tồn tại trong các gia đình mẫu hệ.
  • Nhận diện bản chất cấu trúc văn hóa của nghi lễ (chủ lễ, thầy cúng, lễ vật, biểu tượng, lời cúng) và phân tích các nhân tố dẫn đến sự chuyển đổi hình thái nghi lễ trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị:

  • Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ các cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Đắk Lắk và thành phố Buôn Ma Thuột trong việc hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của các tộc người tại chỗ.
  • Đề xuất định hướng quản lý: Kết hợp giữa việc loại bỏ các hủ tục tốn kém (như tục để người chết dài ngày, giết mổ gia súc tràn lan trong tang ma, thách cưới nặng nề) với việc bảo lưu các giá trị nhân văn (tinh thần tương thân tương ái, đạo hiếu, ý thức cội nguồn, biểu tượng vòng đồng).
  • Cảnh báo và định hướng việc sân khấu hóa: Cần phân biệt ranh giới giữa nghi lễ tâm linh thiêng liêng của gia đình với các hoạt động trình diễn văn hóa du lịch, tránh làm biến dạng hoặc dung tục hóa ý nghĩa nguyên bản của di sản.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, đào tạo ngành Văn hóa học, Dân tộc học và Nhân học tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Về phạm vi khảo sát: Đề tài tập trung nghiên cứu tại 06 buôn thuộc địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột – nơi chịu áp lực đô thị hóa cao nhất; chưa mở rộng so sánh định lượng với các vùng nông thôn thuần túy của người Êđê tại các huyện khác trong tỉnh Đắk Lắk (như Krông Ana, Cư M'gar, Ea H'leo).
  • Về phạm vi đối tượng: Luận án chỉ khảo sát nhóm cư dân Êđê còn thực hành tín ngưỡng truyền thống, chưa đi sâu khảo sát diện mạo thực hành nghi lễ gia đình của bộ phận người Êđê đã cải đạo hoàn toàn sang đạo Tin Lành hoặc Công giáo.
  • Về phương pháp tiếp cận thực địa: Một số nghi lễ mang tính chất gia đình nội bộ khép kín gây trở ngại nhất định cho việc quan sát trực tiếp trọn vẹn, người nghiên cứu phải kết hợp hồi cố qua lời kể của các nghệ nhân và thầy cúng.

Hướng nghiên cứu tiếp nối:

  • Nghiên cứu so sánh sự biến đổi văn hóa gia đình giữa nhóm người Êđê theo tín ngưỡng truyền thống và nhóm người Êđê theo các hệ phái Tin Lành, Công giáo tại đô thị Buôn Ma Thuột.
  • Nghiên cứu đối chiếu nghi lễ gia đình của người Êđê ở vùng trung tâm đô thị với vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
  • Đánh giá tác động đa chiều của kinh tế du lịch và các mô hình du lịch cộng đồng (homestay) đối với không gian thiêng của nghi lễ gia đình người Êđê.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu có giá trị ứng dụng đối với các nhóm đối tượng sau:

  1. Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học:

    • Cung cấp khung phương pháp nghiên cứu điền dã kết hợp lý thuyết biến đổi văn hóa ứng dụng cho nghiên cứu nghi lễ tộc người thiểu số tại các đô thị đang phát triển.
    • Tài liệu tham khảo cho các môn học: Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Văn hóa học đại cương, Tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam, Nhân học văn hóa.
    • Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 2 với mô tả chi tiết diễn trình các nghi thức vòng đời và hệ thống lễ vật chuẩn mực.
  2. Đối với các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương:

    • Cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Lắk, Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Buôn Ma Thuột có thể khai thác Chương 3 để xây dựng quy ước buôn văn hóa, hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong cưới xin, tang ma.
    • Tham khảo các phân tích về xu hướng sân khấu hóa nghi lễ để quản lý việc tổ chức các lễ hội du lịch buôn làng (như tại buôn Akŏ Dhong), đảm bảo tôn trọng bản quyền văn hóa của chủ thể tộc người.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn 06 buôn cụ thể nào tại Buôn Ma Thuột để làm trọng tâm nghiên cứu và vì sao?
Tác giả chọn 06 buôn gồm: buôn Akŏ Dhong (phường Tân Lợi); buôn Dhă Prong và buôn Êa Bông (xã Cư Êbur); buôn Kmrơng Prông B, buôn Êa Nao A và buôn Êa Nao B (xã Ea Tu). Sáu buôn này đại diện cho 3 vành đai không gian: trung tâm đô thị, cận trung tâm và ngoại vi thành phố Buôn Ma Thuột, giúp đo lường mức độ tác động khác nhau của quá trình đô thị hóa, kinh tế thị trường và giao lưu văn hóa đối với nghi lễ gia đình.

2. Hệ thống nghi lễ gia đình người Êđê được khảo sát trong luận án gồm những nghi lễ cụ thể nào?
Luận án tập trung vào 2 nhóm chính: (1) Nghi lễ liên quan đến hoạt động sinh kế gồm nghi lễ cúng bến nước (Ngă yang kpin êa) và nghi lễ ăn cơm mới (Hma Ngắt); (2) Nghi lễ liên quan đến đời người gồm nghi lễ cầu may mắn trong sinh đẻ, nghi lễ đặt tên, nghi lễ hỏi chồng, nghi lễ thỏa thuận, nghi lễ rước rể, nghi lễ cưới, nghi lễ lại mặt, nghi lễ tang và nghi lễ bỏ mả. Nghi lễ cúng sức khỏe chỉ được đề cập bổ trợ do hiện nay phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng hộ gia đình.

3. Tác giả luận án đã sử dụng dữ liệu từ bao nhiêu cuộc phỏng vấn sâu và gồm những đối tượng nào?
Tác giả đã thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu với các nhóm: chuyên gia thực hành nghi lễ và người am hiểu phong tục tập quán (thầy cúng, chủ gia đình mẫu hệ, già làng, người cao tuổi Êđê); cán bộ làm công tác quản lý văn hóa các tộc người tại Buôn Ma Thuột; các nhà nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Êđê.

4. Vì sao luận án chọn mốc thời gian nghiên cứu "người Êđê hiện nay" bắt đầu từ năm 1995?
Theo tác giả, mặc dù đất nước đổi mới từ năm 1986, nhưng tại Buôn Ma Thuột tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và công nghệ chỉ bắt đầu có những bước chuyển biến sâu sắc, rõ rệt từ mốc năm 1995 – thời điểm Việt Nam chủ động hội nhập sâu vào các tổ chức kinh tế quốc tế, đẩy mạnh đô thị hóa thủ phủ Tây Nguyên.

5. Luận án chỉ ra ba xu hướng biến đổi chính nào trong nghi lễ gia đình người Êđê hiện nay tại Buôn Ma Thuột?
Ba xu hướng gồm: (i) Tín ngưỡng đa thần truyền thống phai nhạt dần, một bộ phận người dân từ bỏ tín ngưỡng dân gian chuyển sang các tôn giáo độc thần như Tin Lành, Công giáo; (ii) Hiện tượng giao thoa, tiếp biến văn hóa ngày càng tăng, dung nạp nhiều yếu tố văn hóa của người Kinh và đời sống hiện đại vào đồ lễ, trang phục, nghi thức cưới hỏi và tang ma; (iii) Xu hướng phục hồi có chọn lọc và sân khấu hóa nghi lễ nhằm phục vụ trình diễn văn hóa và phát triển kinh tế du lịch.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Mai Trọng An Vinh là công trình chuyên khảo chuyên ngành Văn hóa học phản ánh có hệ thống diện mạo nghi lễ gia đình của người Êđê tại Buôn Ma Thuột từ năm 1995 đến năm 2023. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên nguồn tư liệu điền dã sơ cấp gồm quan sát - tham dự và 30 cuộc phỏng vấn sâu tại 06 buôn trọng tâm, tác giả đã làm rõ cấu trúc diễn trình của các nghi lễ sinh kế và chu kỳ đời người gắn liền với thiết chế mẫu hệ. Đồng thời, công trình luận giải sâu sắc ba chiều kích biến đổi văn hóa dưới tác động của đô thị hóa, chuyển dịch niềm tin tôn giáo và giao lưu tộc người, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác hoạch định chính sách văn hóa dân tộc tại vùng Tây Nguyên.