Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu thuộc loại hình Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Nhân học (Dân tộc học/Nhân học), tập trung vào đề tài: "Nghi lễ gia đình của người Mường ở xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa".

Về tính cấp thiết, gia đình và văn hóa gia đình là đối tượng nghiên cứu của ngành Dân tộc học và Nhân học. Gia đình là một thể chế xã hội phản ánh các đặc trưng văn hóa tộc người qua cấu trúc, chức năng, hệ thống quan hệ và các nghi lễ gia đình. Nghi lễ gia đình bao gồm các thực hành gắn liền với chu kỳ đời người, các quy tắc kiêng kỵ và hoạt động thờ cúng, qua đó thể hiện các giá trị truyền thống cũng như sự biến đổi văn hóa. Trong bối cảnh hiện đại hóa, đô thị hóa và giao lưu văn hóa hiện nay, văn hóa gia đình của các cộng đồng tộc người đang trải qua nhiều biến đổi; một số giá trị và chuẩn mực truyền thống có biểu hiện phai nhạt, đồng thời xuất hiện các yếu tố và nghi lễ mới. Yêu cầu nghiên cứu vấn đề này gắn liền với các định hướng chính sách của Việt Nam, tiêu biểu là Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII (xác định yêu cầu phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa) và Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Ban Bí thư (nhấn mạnh gia đình là tế bào của xã hội, môi trường lưu giữ, giáo dục và trao truyền giá trị văn hóa dân tộc), cùng Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030.

Về khoảng trống nghiên cứu, người Mường là tộc người thiểu số cư trú tập trung tại các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ và một số địa phương khác như Sơn La, Yên Bái, Ninh Bình, Đắk Lắk. Tại Thanh Hóa, theo số liệu của Ban Dân tộc tỉnh năm 2019, người Mường có 364.622 người, chiếm gần 59% tổng dân số các dân tộc thiểu số toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở các huyện trung du miền núi phía Tây như Ngọc Lặc, Bá Thước, Cẩm Thủy, Thạch Thành. Mặc dù văn hóa người Mường đã nhận được sự quan tâm của nhiều học giả, đa số các công trình lớn trước đây tập trung vào địa bàn tỉnh Hòa Bình và Phú Thọ. Các nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa gia đình và nghi lễ gia đình của người Mường tại Thanh Hóa còn khiêm tốn. Địa bàn xã Cẩm Lương (huyện Cẩm Thủy) được lựa chọn do đang diễn ra quá trình biến đổi kinh tế - xã hội nhanh chóng dưới tác động của sự cộng cư và giao thoa với người Kinh, sự phát triển của du lịch suối cá thần và các dự án thủy điện Cẩm Thủy 1, Cẩm Thủy 2.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm:

  • Nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về nghi lễ gia đình của người Mường, làm rõ các đặc trưng, giá trị văn hóa qua các nghi lễ và sự biến đổi nghi lễ gia đình của người Mường ở xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
  • Đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị của nghi lễ gia đình trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới và xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc tại địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Trình bày rõ ràng và có hệ thống bức tranh nghi lễ gia đình của người Mường xã Cẩm Lương qua các nghi lễ sinh đẻ, hôn nhân, tang ma và một số nghi lễ khác (thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thần linh, vía kéo si, cúng cơm mới).
  2. Đặt nghi lễ gia đình trong mối quan hệ giữa truyền thống và biến đổi, làm rõ các giá trị truyền thống và các biến đổi hiện nay dưới tác động của hiện đại hóa, đô thị hóa và hoạt động phát triển du lịch.
  3. Cung cấp cơ sở khoa học giúp các cơ quan hoạch định chính sách ban hành các chính sách phù hợp trong lĩnh vực sinh đẻ, hôn nhân, tang ma, đáp ứng yêu cầu xây dựng đời sống văn hóa mới ở cơ sở.

Đối tượng nghiên cứu: Các nghi lễ gia đình của người Mường ở xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Luận án khảo sát sâu tại các bản lớn, cư trú lâu đời của người Mường gồm thôn Lương Ngọc, thôn Kim Mẫm, thôn Hòa Thuận; đồng thời thực hiện khảo sát so sánh tại thôn Xủ Xuyên – nơi người Mường sinh sống xen kẽ với người Kinh và người Thái.
  • Phạm vi thời gian: Phân định mốc truyền thống là giai đoạn trước thời kỳ Đổi mới (trước năm 1986) và giai đoạn biến đổi là từ năm 1986 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2020). Tư liệu truyền thống được thu thập qua tài liệu thứ cấp và phỏng vấn hồi cố; thực trạng hiện nay được khảo sát qua điền dã thực địa.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba nhóm nghi lễ: (1) Nghi lễ vòng đời người gồm sinh đẻ, hôn nhân và tang ma trong điều kiện bình thường; (2) Nghi lễ thờ cúng tổ tiên; (3) Nghi lễ thờ thần linh, nghi lễ vía kéo si và nghi lễ cúng cơm mới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu trong luận án được phân chia theo ba nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về nghi lễ gia đình và chu kỳ đời người của các dân tộc ở Việt Nam: Các công trình về người Việt đồng bằng gồm nghiên cứu của Lê Trung Vũ (Nghi lễ đời người), Phạm Minh Thảo (Lễ tục vòng đời), Trương Thìn (Nghi lễ đời người), mô tả các giai đoạn từ thai kỳ, sinh nở, hôn lễ, mừng thọ đến tang lễ. Đối với các dân tộc thiểu số, có các công trình của Phan Quốc Anh (Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận), Phan Văn Hoàng (Nghi lễ vòng đời người Xơ Đăng), Võ Thành Hùng (Nghi lễ vòng đời người Khmer tỉnh Sóc Trăng), Lý Hành Sơn (Các nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn). Về biến đổi nghi lễ vòng đời, các bài viết của Đỗ Hồng Kỳ (2000) về người Mnông và Nguyễn Văn Mạnh (2013) về dân tộc Chứt đã chỉ ra xu hướng giản lược yếu tố truyền thống và tiếp thu các yếu tố mới dưới tác động của chính sách và tiếp biến văn hóa. Về hôn nhân và tập tục, có các công trình của Nguyễn Quang Khải (Tập tục và kiêng kỵ), Đỗ Thúy Bình (Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam), Hoàng Hữu Bình và Trần Thị Hạnh (Đám cưới truyền thống của người Tày ở Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng), Trịnh Thị Lan (2008, khảo sát tại Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang), Lê Thị Hường (2008, tại Vĩnh Phúc), Phạm Quang Hoan (người Hmông Trắng ở Đồng Văn, Hà Giang), Tẩn Kim Phu (2011, về người Dao Khâu ở Sìn Hồ, Lai Châu). Các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ chuyên ngành cũng đã nghiên cứu nghi lễ đời người của người Khmer ở An Giang (Nguyễn Văn Lữ, 2007), người Dao Thanh Y ở Quảng Ninh (Nguyễn Thị Thu Hà, 2016), người Hoa Quảng Đông ở TP. Hồ Chí Minh (Đỗ Hồng Thanh, 2016), người Hà Nhì ở Lào Cai (Trịnh Thị Lan, 2016), người Tày ở Tuyên Quang (Nguyễn Thị Hoa Mai, 2018), người Nùng Cháo ở Lạng Sơn (Hoàng Thùy Dương, 2019). Những công trình bao quát đầy đủ hệ thống nghi lễ gia đình gồm có nghiên cứu của Lê Hải Đăng (Nghi lễ gia đình của người Tày Mường ở Nghệ An) và Nguyễn Văn Thắng (Nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam).

Nhóm nghiên cứu về người Mường và nghi lễ gia đình của người Mường ở Việt Nam: Về học giả quốc tế, tác phẩm Người Mường – Địa lý nhân văn và xã hội học (1948) của J. Cuisinier là khảo cứu dân tộc chí bao quát các mặt kinh tế, xã hội, nhà ở, trang phục và nghi lễ thờ cúng, tang ma của người Mường. Pierre Grossin với tác phẩm La Province Muong de Hoa Binh (1926, bản dịch tiếng Việt của Hồng Vân năm 1994) ghi chép về địa lý, lịch sử và phân cấp quản lý vùng Mường Hòa Bình. Các nghiên cứu tổng quan trong nước gồm công trình của Viện Dân tộc học (Các dân tộc ít người ở Việt Nam). Nghiên cứu chuyên sâu tại Hòa Bình có các công trình của Nguyễn Từ Chi (La Cosmologie Mương - phân tích 12 đêm tang lễ và quan niệm vũ trụ quan ba tầng bốn thế giới; và tập hợp bài viết trong Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người); Bùi Tuyết Mai (Người Mường ở Việt Nam); Nguyễn Thị Thanh Nga và Nguyễn Ngọc Thanh (Người Mường ở Tân Lạc Hòa Bình); Hoàng Hữu Bình (Văn hóa người Mường ở huyện Kim Bôi Hòa Bình, 2009). Về Mo Mường và tang ma có Đinh Văn Ân (Mo – Đường lên trời), Bùi Thị Kim Phúc (Nghi lễ Mo trong đời sống tinh thần của người Mường), Bùi Huy Vọng (Tang lễ cổ truyền của người Mường, bộ 3 tập), Mai Văn Tâm (Nghi lễ tang ma cổ truyền của người Mường ở Mường Động tỉnh Hòa Bình), Hoàng Thị Thu Hằng (Tang lễ của người Mường ở Tân Lạc, Hòa Bình). Về chu kỳ đời người và hôn nhân có Nguyễn Ngọc Thanh (Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ và các bài báo chuyên ngành về cưới xin, tang ma, sinh nở), Nguyễn Thị Song Hà (Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình, 2011; và chuyên khảo đồng chủ biên Biến đổi hôn nhân của người Mường ở Hòa Bình và người Mường di cư ở Đắk Lắk, 2013). Về văn hóa dân gian và ẩm thực có Bùi Thiện (Văn hóa dân gian Mường), Bùi Chỉ (Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình).

Nhóm nghiên cứu về người Mường và nghi lễ gia đình người Mường ở Thanh Hóa: Hoàng Anh Nhân đã sưu tầm và biên soạn hệ thống tư liệu dân gian qua các tác phẩm Tư liệu tín ngưỡng dân gian Mường Thanh Hóa (Tập 1: Lễ ma, Tập 2: Tín ngưỡng vía) và Cõi người – qua tín ngưỡng mường Trong, giới thiệu các bài văn lễ, mo tang ma, nghi lễ làm vía T’rúa, Pồn Pôông. Cao Sơn Hải công bố các công trình sưu tầm: Tục ngữ Mường Thanh Hóa, Những bài ca đám cưới người Mường Thanh Hóa, Văn hóa dân gian Mường, một góc nhìn, và chuyên khảo Lễ tục vòng đời người Mường – điều tra, khảo sát, hồi cố ở vùng Mường Thanh Hóa (2013). Vương Anh xuất bản tập bài viết Tiếp cận với văn hóa bản Mường (2001). Một số công trình giới thiệu văn hóa dân gian địa phương gồm sách của Mai Thị Hồng Hải (Văn hóa dân gian làng Muốt), Minh Hiệu (Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa), cùng các bài viết tạp chí của Hà Diệu Thu (về biến đổi tín ngưỡng và hôn nhân ở Ngọc Lặc), Bùi Chí Hăng (nhà sàn Mường Thanh Hóa), Mai Thị Hồng Hải (hát xường trong đám cưới), Ngô Quang Hưng (cồng chiêng Mường).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình tại Thanh Hóa trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ sưu tầm tư liệu văn học dân gian, khảo tả dân tộc tộc học các bài mo, lời khấn, bài ca đám cưới hoặc ghi chép phong tục tản mạn. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về cấu trúc toàn bộ các nghi lễ gia đình của người Mường Thanh Hóa, cũng như chưa đi sâu lý giải các chiều cạnh biến đổi, nguyên nhân và xu hướng biến đổi của hệ thống nghi lễ này trong bối cảnh đổi mới kinh tế, giao lưu văn hóa và phát triển du lịch hiện nay. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này thông qua nghiên cứu trường hợp cụ thể tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và các khái niệm công cụ

Về phương pháp luận, luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nghi lễ gia đình được nhìn nhận trong sự liên hệ mật thiết với nhân sinh quan, thế giới quan, môi trường tự nhiên, tổ chức dòng họ và cộng đồng làng bản. Nghi lễ được tiếp cận như một thành tố văn hóa mang tính khả biến, luôn vận động và biến đổi theo sự chuyển biến của điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội.

Các khái niệm cơ bản được xác định trong văn bản gồm:

  • Nghi lễ: Được tổng hợp từ định nghĩa của Schultz và Lavenda (hoạt động xã hội có tính biểu tượng, lặp lại, theo mô hình văn hóa và tách biệt khỏi hoạt động thường nhật), Victor Turner (hành vi mang tính nghi thức gắn liền với niềm tin tôn giáo, siêu nhiên), Từ điển Nhân học và Nguyễn Thị Song Hà. Tác giả quan niệm nghi lễ là hệ thống các nghi thức được thực hành có trật tự trong không gian thiêng của cá nhân hoặc cộng đồng, phản ánh đời sống vật chất, tinh thần và mối quan hệ giữa con người với con người, với tự nhiên và lực lượng siêu linh.
  • Nghi lễ gia đình: Các nghi lễ được tổ chức và thực hành trong không gian gia đình, liên quan đến một cá nhân hoặc các thành viên cùng sinh sống (vòng đời, cầu an, thờ cúng tổ tiên, thần linh, lễ tiết trong năm).
  • Nghi lễ vòng đời người: Hệ thống nghi thức thể hiện tín ngưỡng gắn liền với sự chuyển dịch vị thế của con người từ khi sinh ra đến khi qua đời (sinh đẻ, hôn nhân, tang ma).
  • Sinh đẻ, Hôn nhân, Tang ma: Được định nghĩa gắn với các quy chuẩn văn hóa tộc người; trong đó tang ma được soi chiếu qua quan điểm của Emile Durkheim (sức mạnh tâm lý xã hội trước cái chết) và Robert Hertz (mối quan hệ giữa thể xác, linh hồn và người sống trong tiến trình tang lễ).
  • Kiêng kỵ; Phong tục, tập quán; Thờ cúng tổ tiên; Thần linh: Được định nghĩa theo các từ điển chuyên ngành và thao tác hóa cho phù hợp với địa bàn nghiên cứu.

Các khung lý thuyết tiếp cận

Luận án vận dụng ba lý thuyết nhân học để phân tích dữ liệu:

  1. Lý thuyết Nghi lễ chuyển tiếp (Rites of Passage): Do Arnold Van Gennep khởi xướng năm 1909, sau đó được Mary Douglas và Victor Turner phát triển vào thập niên 1960. Lý thuyết chia tiến trình nghi lễ thành ba giai đoạn: Cách ly (tách khỏi vị thế cũ), Chuyển tiếp (trạng thái trung gian, ngưỡng thiêng) và Tái hợp (tái hòa nhập xã hội với vị thế mới được xác lập). Luận án dùng khung lý thuyết này để phân tích chu kỳ vòng đời của cá nhân người Mường trong các nghi lễ sinh đẻ, cưới xin và tang lễ.
  2. Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation): Dựa trên tiếp cận của các nhà nhân học Bắc Mỹ và Dennis O’Neil về sự biến đổi văn hóa khi hai hay nhiều hệ thống văn hóa độc lập tiếp xúc trực tiếp. Quá trình này trải qua các mức độ tiếp xúc, lan tỏa, thích nghi và phản ứng. Lý thuyết được áp dụng để làm rõ cơ chế biến đổi của nghi lễ Mường dưới tác động của sự cộng cư lâu dài với người Kinh, người Thái và các yếu tố kinh tế - xã hội hiện đại.
  3. Lý thuyết Chức năng (Functionalism): Khởi xướng bởi Bronislaw Malinowski và Radcliffe-Brown. Luận án ứng dụng hướng tiếp cận cấu trúc - chức năng để xem xét các thiết chế văn hóa đáp ứng các nhu cầu tâm lý, sinh học và duy trì sự cân bằng, cố kết xã hội của người Mường như thế nào thông qua nghi lễ thờ cúng và nghi lễ gia đình.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính dân tộc học làm chủ đạo cùng khảo sát định lượng hỗ trợ:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Được triển khai qua 04 đợt thực địa: đợt 1 (tháng 7/2015), đợt 2 (tháng 8/2016), đợt 3 (tháng 5/2017) và đợt 4 (tháng 7/2020). Tác giả thiết lập mạng lưới cộng tác viên gồm cán bộ văn hóa xã, trưởng thôn, thầy cúng, thầy thuốc; thực hiện quan sát tham dự vào sinh hoạt đời sống và 04 sự kiện nghi lễ cụ thể: 02 lễ cưới (tại thôn Kim Mẫm năm 2016, thôn Lương Ngọc năm 2020), 01 lễ cầu an (tại thôn Lương Ngọc năm 2017), và 01 lễ cúng cho người chết (tại thôn Hòa Thuận năm 2020).
  • Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: Tiến hành phỏng vấn hồi cố và phỏng vấn sâu người cao tuổi am hiểu phong tục (năm 2015 phỏng vấn 5 người gồm 3 nữ, 2 nam; các năm sau mở rộng), phỏng vấn 03 nghệ nhân, 05 thầy cúng, cùng các nhóm phụ nữ và thanh niên. Tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm tại nhà sàn sinh hoạt chung thôn Lương Ngọc (nhóm người cao tuổi, nhóm phụ nữ, nhóm thanh niên).
  • Điều tra bảng hỏi: Thực hiện 100 phiếu hỏi đại diện hộ gia đình tại 4 thôn của xã Cẩm Lương trên các nhóm đối tượng (người cao tuổi, phụ nữ, thanh niên) nhằm thống kê tỷ lệ phần trăm về các khía cạnh: quan niệm sinh con trai/gái, tuổi kết hôn, đăng ký kết hôn, kết hôn nội/ngoại tộc và mức độ niềm tin đối với nghi lễ thờ cúng tổ tiên, thần linh.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Xử lý tài liệu thứ cấp (sách chuyên khảo, báo cáo hành chính, thống kê kinh tế - xã hội của địa phương) đối chiếu với tư liệu điền dã; thực hiện so sánh đối sánh giữa nghi lễ người Mường ở Cẩm Lương với người Mường tại Hòa Bình và Phú Thọ.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các chuyên gia nghiên cứu văn hóa Mường Thanh Hóa và các nhà nghiên cứu về gia đình học để hoàn thiện khung nội dung.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm 4 chương nội dung chính:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu

Chương này tập trung trình bày tổng quan tài liệu, các khái niệm, cơ sở lý thuyết và phác thảo diện mạo tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa của địa bàn khảo sát:

  • Điều kiện địa lý và tự nhiên: Xã Cẩm Lương nằm ở phía Bắc huyện Cẩm Thủy, cách trung tâm huyện 12 km, cách TP. Thanh Hóa 85 km theo Quốc lộ 217 và cách đường Hồ Chí Minh 8 km. Địa hình gồm núi đá vôi, đồi thấp và bãi bồi ven sông Mã; dải núi Trường Sinh có độ cao trung bình 200–400m (ngọn cao nhất hơn 500m), chứa nhiều hang động (lớn nhất là động Đăng). Sông Mã bao bọc ba mặt xã với chiều dài khoảng 6 km; suối Ngọc bắt nguồn từ khe núi Trường Sinh dài khoảng 200m có đàn cá hàng nghìn con (con lớn nhất nặng tới 30 kg), tạo thành danh thắng suối cá thần Cẩm Lương. Hạ tầng giao thông có các mốc thay đổi: tháng 9/2005 thông cầu treo bắc qua sông Mã; năm 2010 mở rộng đường qua núi Hang Bò nối đường Hồ Chí Minh; năm 2020 hoàn thành cầu bê tông song song cầu treo.
  • Dân số và cư dân: Theo Báo cáo của Công an xã Cẩm Lương tính đến tháng 7/2020, toàn xã có 802 hộ với 3.290 nhân khẩu thuộc 4 thôn, trong đó người Mường chiếm đa số với 603 hộ (2.415 nhân khẩu). Cơ cấu dân số chi tiết được tổng hợp tại bảng dưới đây:
TT Thôn Người Mường (Hộ) Người Mường (Khẩu) Người Việt/Kinh (Hộ) Người Việt/Kinh (Khẩu) Dân tộc khác (Hộ) Dân tộc khác (Khẩu)
1 Xủ Xuyên 27 105 108 390 01 08
2 Kim Mẫm 226 925 53 265 0 02
3 Lương Ngọc 148 595 22 110 0 02
4 Hòa Thuận 202 790 15 97 0 01
Tổng 4 thôn 603 2.415 198 862 01 13

Nguồn: Ban Công an xã Cẩm Lương, tháng 7/2020 (dẫn theo Bảng 1 của Luận án)

Người Mường tại địa bàn hình thành từ ba nguồn gốc: nhóm Mường Trong (Mường gốc bản địa, tập trung ở thôn Lương Ngọc); nhóm Mường Ngoài (di cư từ Mường Bi huyện Tân Lạc và huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình); nhóm người Kinh di cư đến sống xen cư lâu đời mang họ Phạm chuyển hóa thành người Mường. Hiện nay các nhóm không còn sự phân biệt ranh giới.

  • Hoạt động kinh tế: Nông nghiệp chuyển từ cấy lúa một vụ mùa sang hai vụ sau khi hoàn thiện thủy lợi vào năm 2009. Nương rẫy chuyển đổi thành rừng kinh tế (luồng, keo, lát, xoan). Từ năm 2010, cây mía được đưa vào trồng phổ biến tại thôn Hòa Thuận, năng suất đạt 60–80 tấn/ha (3–4 tấn/sào), giá bán khoảng 850.000 đồng/tấn, sau chi phí cho thu nhập bình quân 45–50 triệu đồng/ha (đất tốt đạt 60–65 triệu đồng/ha). Chăn nuôi chuyển dịch sang gia súc lớn và mô hình gia trại VACR. Nghề đan lát gia dụng và dệt thổ cẩm (được phục hồi qua đề án của Hội Phụ nữ năm 2019) phục vụ tiêu dùng và du lịch. Từ năm 2000 xuất hiện thêm nghề sản xuất gạch ngói. Dịch vụ du lịch tại suối cá thần phát triển mạnh (doanh thu năm 2019 đạt 15 tỷ đồng, tăng 5 tỷ đồng so với năm 2015).
  • Tổ chức xã hội: Trước năm 1945 theo thiết chế mường, không có tầng lớp lang đạo thống trị; người đứng đầu là trùm mường (lo cúng đình chung) và trùm làng; tổ chức làng có các "phe" hỗ trợ lẫn nhau trong việc dựng nhà, tang ma. Sau năm 1945 chuyển thành mô hình hành chính nhà nước. Năm 2018, sáp nhập thôn Kim Mẫm 1 và 2 thành thôn Kim Mẫm; sáp nhập thôn Lương Hòa và Lương Thuận thành thôn Hòa Thuận.
  • Đặc trưng văn hóa: Ẩm thực nổi bật với món xôi nếp đồ ba màu dùng cây ngom (xanh, đỏ, tím - khác với xôi ngũ sắc ở Phú Thọ), canh đắng, cá nướng, canh nhái măng chua, rượu cần, rượu nếp cẩm. Trang phục truyền thống gồm áo khóm, cạp váy dệt hoa văn tinh xảo (hiện chủ yếu mặc vào dịp lễ, hội). Về nhà ở, số lượng nhà sàn truyền thống suy giảm mạnh, phần lớn chuyển sang làm nhà trệt hoặc nhà cấp 4 kiểu người Kinh vì lý do tiện sinh hoạt và an toàn. Về văn hóa tinh thần, có diễn xướng mo tang ma, mo sử thi Đẻ đất Đẻ nước, nghệ thuật Pồn Poông, hát sắc bùa, cồng chiêng; các lễ tiết như khai hạ, cầu yên, xuống mùa, rửa cày bừa, cúng cơm mới, làm mát nhà cuối năm. Đáng chú ý, người Mường Cẩm Lương hiện nay không còn thực hiện tục mừng thọ, trọng lão như ở Hòa Bình, Phú Thọ; tại địa phương không còn chùa thờ Phật dù trước đây từng có chùa trong hang đá.

Chương 2: Các nghi lễ liên quan đến chu kỳ vòng đời

Chương này đi sâu miêu tả và phân tích diễn trình, cơ cấu nghi thức của ba nghi lễ vòng đời then chốt trong điều kiện bình thường:

  • Nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy con: Khảo cứu quan niệm mang thai, các kiêng kỵ khi sinh, nơi sinh nở, nghi thức cắt rốn, chôn nhau thai, lễ đặt tên, lễ công nhận thành viên mới của gia đình và dòng họ. Khảo sát sự dịch chuyển từ việc đẻ tại nhà sàn sang sinh đẻ tại trạm y tế xã và bệnh viện huyện (số liệu phụ nữ Mường sinh con tại cơ sở y tế từ 2017 đến tháng 8/2020), cùng sự suy giảm các kiêng cữ mang tính ma thuật.
  • Nghi lễ hôn nhân: Tái hiện các bước cưới xin cổ truyền (từ dạm ngõ, ăn hỏi, chuẩn bị lễ vật, đón dâu, cúng gia tiên, lễ lại mặt) và đối chiếu với biến đổi từ năm 2011 đến tháng 8/2020. Luận án phân tích sự rút gọn các khâu trung gian rườm rà, sự thay đổi tuổi kết hôn, hiện tượng kết hôn hỗn hợp tộc người (giữa người Mường và người Kinh), việc thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã theo quy định pháp luật.
  • Nghi lễ tang ma: Khảo tả các bước ứng xử với người qua đời, nghi thức khâm liệm, vai trò của người thầy cúng (thầy Mo), việc diễn xướng các bài mo đưa đường dẫn lối linh hồn người chết về với cõi mường ma. Phân tích sự chuyển đổi trong tang lễ (số liệu năm 2018–2019): thời gian quàn thi thể được rút ngắn, thủ tục giết mổ trâu bò tốn kém giảm thiểu, các bước mo được giản lược để đảm bảo vệ sinh môi trường và nếp sống mới nhưng vẫn lưu giữ giá trị tri ân công đức tổ tiên.

Chương 3: Các nghi lễ thờ cúng trong gia đình

Chương 3 trình bày các hình thức thờ cúng mang tính thường nhật và định kỳ trong không gian gia đình của người Mường Cẩm Lương:

  • Nghi lễ thờ cúng tổ tiên: Vị trí đặt bàn thờ tổ tiên (sự biến chuyển không gian thờ tự khi chuyển từ nhà sàn sang nhà xây trệt), quy cách cúng giỗ, lễ tết (rằm, mùng một, tết Nguyên đán, chiều 30 Tết). Niềm tin tâm linh về sự bảo trợ của linh hồn tổ tiên đối với sự bình an, mùa màng của con cháu.
  • Nghi lễ thờ cúng thần linh: Các nghi thức cúng Thổ công, thần bếp, ma nhà; mối quan hệ giữa tín ngưỡng gia đình với tín ngưỡng cộng đồng (thờ Thành hoàng, thần Rắn, thần Cá tại suối cá thần).
  • Nghi lễ vía kéo si: Nghi thức cúng giữ vía, chuộc vía cho các thành viên trong gia đình khi ốm đau, hoạn nạn hoặc bước vào giai đoạn chuyển biến quan trọng của cuộc đời nhằm lập lại trạng thái cân bằng tâm lý.
  • Nghi lễ cúng cơm mới: Nghi thức nông nghiệp mang tính chất gia đình khi thu hoạch vụ lúa mới, tạ ơn tổ tiên và trời đất đã ban phát mùa màng, phản ánh bản sắc nông nghiệp lúa nước truyền thống.

Chương 4: Xu hướng, nguyên nhân biến đổi nghi lễ gia đình và giá trị của nghi lễ gia đình trong đời sống văn hóa người Mường hiện nay

Chương 4 đúc kết các quy luật vận động của hệ thống nghi lễ:

  • Xu hướng biến đổi: Nghi lễ gia đình có xu hướng giản lược về quy trình và thời gian tổ chức; giảm bớt các lễ thức rườm rà, tốn kém; yếu tố văn hóa hiện đại và tập quán của người Kinh thâm nhập sâu vào trang phục, bài trí không gian cưới hỏi và tang ma; các kiêng kỵ mang màu sắc thần bí suy giảm; xuất hiện các nhu cầu tinh thần mới phù hợp với nhịp sống kinh tế thị trường. Tuy nhiên, các giá trị cốt lõi về đạo hiếu, tính gắn kết gia đình, dòng họ và bản mường vẫn được duy trì.
  • Nguyên nhân biến đổi:
    • Yếu tố ngoại sinh: Tác động của chính sách văn hóa và pháp luật của Nhà nước (xây dựng nếp sống văn minh, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa); sự hoàn thiện của hạ tầng giao thông (cầu treo 2005, đường Hang Bò 2010, cầu bê tông 2020) mở rộng giao lưu kinh tế; tác động từ dự án thủy điện Cẩm Thủy 1, Cẩm Thủy 2; sự phát triển của kinh tế du lịch suối cá thần Cẩm Lương đưa địa phương tiếp xúc liên tục với văn hóa du khách; sự giao thoa văn hóa do quá trình cộng cư với người Kinh.
    • Yếu tố nội sinh: Trình độ nhận thức của người dân nâng lên nhờ giáo dục và y tế; sự thay đổi quan niệm sống của thế hệ trẻ; chuyển dịch sinh kế từ tự cung tự cấp sang trồng mía thương phẩm, kinh doanh dịch vụ du lịch, làm nghề phụ.
  • Giá trị của nghi lễ gia đình: Giá trị cố kết cộng đồng và gia tộc; giá trị giáo dục đạo đức, trao truyền truyền thống văn hóa tộc người; giá trị điều hòa tâm lý xã hội. Luận án đưa ra các nhóm khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm vừa bảo tồn các giá trị di sản văn hóa, vừa loại bỏ hủ tục, xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ tại địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  1. Bổ sung một hệ thống tư liệu dân tộc học/nhân học mới, toàn diện và có hệ thống về thực trạng các nghi lễ gia đình (vòng đời, thờ cúng tổ tiên, thần linh, vía kéo si, cúng cơm mới) của người Mường tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa – một địa bàn trung du miền núi chưa được nghiên cứu sâu sắc trong các công trình trước đây.
  2. Làm sáng tỏ những nét đặc trưng riêng biệt về văn hóa và nghi lễ của người Mường ở Cẩm Lương (Mường Trong) so với các nhóm Mường ở Hòa Bình và Phú Thọ (như việc sử dụng xôi nếp ba màu bằng cây ngom thay vì năm màu, sự vắng bóng của tục mừng thọ/trọng lão, cấu trúc tổ chức làng không có tầng lớp lang đạo mà dựa trên trùm mường, trùm làng và tổ chức phe).
  3. Vận dụng có hiệu quả các khung lý thuyết nhân học hiện đại (Lý thuyết Nghi lễ chuyển tiếp, Lý thuyết Tiếp biến văn hóa, Lý thuyết Chức năng) để phân tích cơ chế, xu hướng và nguyên nhân biến đổi của nghi lễ gia đình dưới tác động phức hợp của hiện đại hóa, cơ sở hạ tầng, kinh tế du lịch và giao lưu tộc người.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và khuyến nghị chính sách

  1. Cung cấp luận cứ khoa học thực tế cho chính quyền địa phương huyện Cẩm Thủy và tỉnh Thanh Hóa trong việc đánh giá hiệu quả thực hiện các chính sách văn hóa cơ sở, cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
  2. Đề xuất các khuyến nghị giúp các cơ quan quản lý văn hóa và hoạch định chính sách xây dựng giải pháp bảo tồn có chọn lọc các nghi lễ truyền thống lành mạnh (nghi lễ Mo, hát xường, diễn xướng Pồn Poông, phong tục cưới hỏi chuẩn mực), loại bỏ các hủ tục kéo dài gây tốn kém kinh tế; đồng thời gắn kết việc bảo tồn giá trị văn hóa gia đình với phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại khu danh thắng suối cá thần Cẩm Lương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào các nghi lễ vòng đời (sinh đẻ, hôn nhân, tang ma) diễn ra trong các trường hợp thông thường. Những trường hợp nghi lễ đặc biệt (như sinh khó, chết bất đắc kỳ tử, chết dữ hoặc các tình huống hôn nhân dị biệt) chưa được giải quyết trong phạm vi nghiên cứu này. Đồng thời, dung lượng mẫu điều tra bằng bảng hỏi định lượng dừng lại ở mức 100 phiếu, chủ yếu sử dụng để tính toán tỷ lệ phần trăm mô tả bổ trợ cho các phát hiện định tính.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả định hướng mở rộng nghiên cứu sang các nghi lễ gia đình trong những hoàn cảnh đặc biệt; đồng thời mở rộng phạm vi so sánh đối chiếu giữa cộng đồng người Mường Cẩm Thủy với các cộng đồng người Mường khác dọc dải miền núi phía Tây Thanh Hóa (như Ngọc Lặc, Bá Thước, Thạch Thành) nhằm làm sáng tỏ đầy đủ hơn bức tranh văn hóa Mường xứ Thanh trong quá trình hội nhập.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội học gia đình, cung cấp nguồn tư liệu thực địa chi tiết về văn hóa Mường Thanh Hóa và phương pháp tiếp cận nghiên cứu biến đổi văn hóa tộc người.
  • Cán bộ làm công tác quản lý văn hóa và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực chứng giúp cán bộ ngành văn hóa huyện Cẩm Thủy, Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa và chính quyền xã Cẩm Lương tham khảo khi xây dựng quy ước thôn bản, triển khai nếp sống văn minh và các đề án phát triển văn hóa - du lịch.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo: Hệ thống dữ liệu điền dã dân tộc học được thực hiện qua 4 đợt khảo sát; các phân tích so sánh giữa người Mường Thanh Hóa với người Mường Hòa Bình, Phú Thọ; cùng mô hình phân tích tác động của chuyển dịch kinh tế (từ nông nghiệp sang trồng mía và kinh doanh du lịch) đến sự biến đổi của các thiết chế nghi lễ gia đình.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án thuộc chuyên ngành nào và sử dụng các khung lý thuyết nào để phân tích dữ liệu?

Luận án thuộc chuyên ngành Nhân học (Dân tộc học/Nhân học). Tác giả sử dụng nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với ba khung lý thuyết nhân học: (1) Lý thuyết Nghi lễ chuyển tiếp (Arnold Van Gennep, Mary Douglas, Victor Turner) với 3 giai đoạn Cách ly - Chuyển tiếp - Tái hợp; (2) Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Dennis O’Neil, Nhân học Bắc Mỹ); (3) Lý thuyết Chức năng (Bronislaw Malinowski, Radcliffe-Brown) tiếp cận theo nhánh cấu trúc - chức năng để xem xét sự thích ứng của nghi lễ đối với nhu cầu con người và sự cố kết cộng đồng.

2. Người Mường ở xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy có những nguồn gốc cư trú nào?

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả, người Mường tại xã Cẩm Lương hình thành từ 3 nhóm chính:

  • Nhóm người Mường Trong (Mường gốc bản địa), có mặt tại địa bàn từ lâu đời, cư trú tập trung chủ yếu ở thôn Lương Ngọc.
  • Nhóm người Mường Ngoài, di cư từ Mường Bi (huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình) và huyện Yên Thủy (Hòa Bình) vào, tiêu biểu như nhánh họ Bùi tại thôn Lương Ngọc.
  • Nhóm người Việt (Kinh) chuyển cư đến sinh sống xen kẽ qua nhiều thời kỳ, lâu dần hòa huyết và đồng hóa văn hóa trở thành người Mường, gồm những người mang họ Phạm.

3. Những yếu tố kinh tế và hạ tầng nào sau năm 2000 đã tác động mạnh mẽ đến đời sống người Mường ở Cẩm Lương?

Luận án ghi nhận các yếu tố hạ tầng và kinh tế then chốt gồm:

  • Giao thông: Cầu treo bắc qua sông Mã thông xe tháng 9/2005 nối với Quốc lộ 217; đường Hang Bò thông ra đường Hồ Chí Minh năm 2010; cầu bê tông hoàn thành năm 2020.
  • Kinh tế nông nghiệp: Hệ thống thủy lợi hoàn thiện năm 2009 cho phép làm 2 vụ lúa; đưa cây mía vào trồng từ năm 2010 mang lại thu nhập bình quân 45–50 triệu đồng/ha (cao nhất 60–65 triệu đồng/ha).
  • Du lịch: Quy hoạch phát triển khu du lịch suối cá thần Cẩm Lương từ năm 2004; doanh thu dịch vụ du lịch năm 2019 đạt 15 tỷ đồng (tăng 5 tỷ đồng so với 2015).
  • Các dự án thủy điện Cẩm Thủy 1 và Cẩm Thủy 2 trên dòng sông Mã.

4. Về văn hóa vật chất và tập tục, người Mường Cẩm Lương có những điểm khác biệt nào so với người Mường ở Hòa Bình hay Phú Thọ?

Văn bản luận án chỉ ra các nét khác biệt:

  • Về ẩm thực: Người Mường Cẩm Lương đồ xôi ba màu bằng cây ngom (đỏ, xanh, tím), khác với tập quán làm xôi ngũ sắc (năm màu: đỏ, tím, xanh, vàng, trắng) của người Mường ở Phú Thọ.
  • Về cấu trúc xã hội truyền thống: Xã hội Mường Cẩm Lương không có tầng lớp quý tộc lang đạo cai trị như ở Hòa Bình, mà do trùm mường, trùm làng quản lý việc tế tự, tổ chức làng liên kết theo các "phe".
  • Về phong tục vòng đời: Người Mường ở Cẩm Lương hiện nay không còn thực hiện tục trọng lão, mừng thọ như người Mường ở Hòa Bình và Phú Thọ.

5. Phương pháp điền dã dân tộc học của luận án đã được triển khai cụ thể như thế nào?

Tác giả đã thực hiện 04 chuyến điền dã vào tháng 7/2015, tháng 8/2016, tháng 5/2017 và tháng 7/2020. Các hoạt động cụ thể bao gồm:

  • Phỏng vấn sâu và hồi cố: Năm 2015 phỏng vấn 5 người cao tuổi (3 nữ, 2 nam); các năm sau phỏng vấn cán bộ văn hóa, trưởng thôn, thầy thuốc, 03 nghệ nhân và 05 thầy cúng.
  • Thảo luận nhóm: Tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm tại nhà sàn sinh hoạt thôn Lương Ngọc (nhóm người cao tuổi, nhóm phụ nữ, nhóm thanh niên).
  • Quan sát tham dự: Tham dự 2 đám cưới (thôn Kim Mẫm năm 2016, thôn Lương Ngọc năm 2020), 1 lễ cầu an (thôn Lương Ngọc năm 2017) và 1 lễ cúng cho người chết (thôn Hòa Thuận năm 2020).
  • Điều tra bảng hỏi: Thu thập 100 phiếu hỏi đại diện hộ gia đình tại 4 thôn của xã Cẩm Lương.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Nhân học của tác giả là công trình khảo cứu chuyên sâu, có hệ thống về nghi lễ gia đình của người Mường tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Thông qua phương pháp điền dã dân tộc học kết hợp với các khung lý thuyết về chuyển tiếp, tiếp biến văn hóa và chức năng luận, tác giả đã tái hiện diện mạo các nghi lễ chu kỳ đời người và nghi lễ thờ cúng gia đình trong tiến trình từ truyền thống (trước năm 1986) đến biến đổi đương đại. Kết quả nghiên cứu chỉ rõ các chiều cạnh giản lược, tiếp nhận mới và bảo lưu văn hóa dưới tác động của hạ tầng giao thông, kinh tế mía đường, hoạt động du lịch suối cá thần và quá trình cộng cư. Công trình đóng góp nguồn tư liệu dân tộc học mới về người Mường xứ Thanh, đồng thời cung cấp các luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quản lý văn hóa cơ sở và xây dựng nếp sống văn minh tại địa phương.