Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế "Nghèo đa chiều ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc: trường hợp tỉnh Lào Cai" do nghiên cứu sinh Ngô Xuân Quyết thực hiện tại Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2021, chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số 9 31 01 05), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Ngô Thắng Lợi và TS. Nguyễn Thị Hoa.
Về tính cấp thiết, công cuộc giảm nghèo tại Việt Nam đã đạt những kết quả cụ thể khi tỷ lệ nghèo trên đầu người tính theo chi tiêu tiền tệ giảm mạnh từ 57% năm 1990 xuống mức thấp vào các năm sau đó. Đến năm 2015, Chính phủ Việt Nam ban hành chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020, chuyển đổi phương pháp tiếp cận từ đo lường nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang đo lường đa chiều. Trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020, mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều bình quân cả nước được đặt ra từ 1% đến 1,5%/năm, riêng các huyện nghèo và xã đặc biệt khó khăn giảm bình quân 4%/năm.
Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo cao và sự chênh lệch giữa các vùng miền vẫn tồn tại. Theo kết quả rà soát hộ nghèo năm 2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, người dân tộc thiểu số chiếm 15% tổng dân số nhưng chiếm tới 47% tổng số hộ nghèo cả nước. Đến năm 2020, số liệu rà soát cho thấy vùng Trung du và miền núi phía Bắc chiếm 42,3% tổng số hộ nghèo toàn quốc; trong đó hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm 88,33% tổng số hộ nghèo dân tộc thiểu số của vùng và chiếm 60,96% tổng số hộ nghèo dân tộc thiểu số cả nước. Tỷ lệ thiếu hụt các chỉ số tại vùng này còn cao: hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh thiếu hụt 62,21%; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin thiếu hụt 30,24%; diện tích nhà ở thiếu hụt 30,08%; trình độ giáo dục người lớn thiếu hụt 13,95%.
Lào Cai được chọn làm địa bàn nghiên cứu điển hình vì vừa phản ánh đặc trưng nghèo chung của vùng Trung du và miền núi phía Bắc (tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo vật chất cao), vừa có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn một số địa phương lân cận, xuất hiện bộ phận dân cư thoát nghèo thu nhập nhưng vẫn thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra gồm:
- Đa số nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận theo tiêu chí nghèo đơn chiều hoặc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều chung của quốc gia, chưa xây dựng chuẩn nghèo đa chiều riêng biệt phù hợp với đặc thù vùng miền núi.
- Các nghiên cứu thường sử dụng số liệu báo cáo tổng hợp sẵn có của các bộ, ngành, ít công trình khai thác trực tiếp nguồn dữ liệu vi mô từ các cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) do Tổng cục Thống kê tiến hành.
- Thiếu vắng các công trình đánh giá toàn diện, hệ thống về nghèo đa chiều tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc với trường hợp cụ thể là tỉnh Lào Cai.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích lý luận và đánh giá thực trạng nghèo đa chiều ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (trọng tâm là tỉnh Lào Cai) nhằm đề xuất giải pháp thúc đẩy giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2030, cung cấp căn cứ khoa học cho việc hoàn thiện chính sách giảm nghèo.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về nghèo đa chiều.
- Phân tích thực trạng nghèo đa chiều ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc thông qua nghiên cứu điển hình tại tỉnh Lào Cai.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc qua trường hợp tỉnh Lào Cai.
- Đề xuất giải pháp thực hiện giảm nghèo đa chiều ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, trọng tâm cho tỉnh Lào Cai giai đoạn 2021 - 2030.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Một là: Làm thế nào để đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam? Làm thế nào để nhận diện và đo lường nghèo đa chiều ở các vùng khác nhau? Những yếu tố nào tác động đến nghèo đa chiều ở Việt Nam?
- Hai là: Thực trạng nghèo đa chiều ở Việt Nam và vùng Trung du và miền núi phía Bắc như thế nào?
- Ba là: Kết quả nghiên cứu nghèo đa chiều tại tỉnh Lào Cai giúp ích gì cho các nhà hoạch định chính sách trong xây dựng chiến lược giảm nghèo sau năm 2020, và có cần những chính sách đặc thù cho vùng hay không?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghèo đa chiều và các vấn đề liên quan đến nghèo đa chiều.
- Phạm vi nội dung: Xây dựng bộ tiêu chí đo lường nghèo đa chiều và sử dụng bộ tiêu chí này để đo lường, đánh giá thực trạng; dữ liệu sử dụng là bộ số liệu VHLSS năm 2016 và 2018.
- Phạm vi không gian: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc, nghiên cứu điển hình tại tỉnh Lào Cai.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2011 - 2018; đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2021 - 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình nghiên cứu ngoài nước được tác giả tổng quan theo hai nhóm nội dung chính:
- Nghiên cứu về khái niệm và bản chất nghèo đa chiều: Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (1995, 2000) xác định nghèo đói là sự khốn cùng về vật chất, thiếu thốn về y tế, giáo dục, dễ bị tổn thương trước rủi ro và thiếu tiếng nói, quyền lực; từ đó khuyến nghị chiến lược ba trụ cột gồm tạo cơ hội, trao quyền và thiết lập mạng lưới an sinh xã hội. Louis-Marie Asselin và Anyck Dauphin (1999) hệ thống hóa ba trường phái lý thuyết về nghèo (trường phái Phúc lợi, Nhu cầu cơ bản, và Năng lực). Báo cáo Phát triển Con người của UNDP (1997) đưa ra khái niệm nghèo khổ tổng hợp/nghèo khổ con người. Báo cáo của Liên hiệp quốc (2003) gắn giảm nghèo với việc tiếp cận quyền con người. Nghiên cứu của Sabina Alkire, Jakob Dirksen, Ricardo Nogales và Christian Oldiges (2020) phân tích nghèo đa chiều trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, nhấn mạnh vai trò của các chỉ số nước sinh hoạt, dinh dưỡng và chất đốt.
- Nghiên cứu về phương pháp đo lường nghèo đa chiều: UNDP (1997) công bố Chỉ số Nghèo khổ Con người (HPI) phản ánh ba khía cạnh sức khỏe, giáo dục, mức sống nhưng chưa có chỉ báo kinh tế. Sabina Alkire và James Foster (2011) xây dựng phương pháp đo lường nghèo đa chiều (phương pháp AF). Thước đo này được áp dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm của Maria Emma Santos và Karma Ura (2008) tại Bhutan, Sabina Alkire và Suman Seth (2008) tại Ấn Độ, Yele Batana (2008) tại khu vực châu Phi cận Sahara. Đến năm 2010, UNDP phối hợp với OPHI đưa ra Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) trong Báo cáo Phát triển Con người 2010 nhằm thay thế HPI. Các công trình của Sabina Alkire và Maria Emma Santos (2011), Virginia Robano và Stephan C. Smith (2014) tại Bangladesh, cùng phân tích của Jakob Dirksen (2020) đã tổng kết các chiều cạnh và chỉ số phổ biến nhất được các quốc gia sử dụng để đo lường MPI.
Các công trình nghiên cứu trong nước được luận án rà soát:
- Nghiên cứu về nội dung nghèo: Các báo cáo đánh giá nghèo của Ngân hàng Thế giới (1995, 2000, 2003, 2012) và UNDP (1995); nghiên cứu tổng kết của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2011); nghiên cứu rà soát chính sách dân tộc của Đặng Kim Sơn và cộng sự (2012); các khảo sát mô hình cộng đồng của Oxfam và ActionAid (2013). Ở quy mô địa phương có nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung (2012) tại vùng Tây Bắc; báo cáo đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng do Cục Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) thực hiện tại Lào Cai (2003); luận văn của Đỗ Thùy Linh (2007) và nghiên cứu của Giàng Thị Dung (2014) về khu kinh tế cửa khẩu gắn với giảm nghèo tại Lào Cai.
- Nghiên cứu về đo lường nghèo đa chiều: Nghiên cứu nghèo trẻ em của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với UNICEF (2008); báo cáo của Rebeca Rios Kohn và cộng sự (2010); nghiên cứu nghèo trẻ em tại Điện Biên của UBND tỉnh Điện Biên và UNICEF (2017); báo cáo nghèo đa chiều của Tổng cục Thống kê và UNICEF (2011); nghiên cứu nghèo đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh của UNDP (2010). Nghiên cứu của Lê Hà, Nguyễn Cường và Phùng Tùng (2013) sử dụng dữ liệu KSMS 2010 và 2012 theo phương pháp AF với 5 chiều (y tế, giáo dục, bảo hiểm và hỗ trợ xã hội, điều kiện sống, tham gia xã hội). Báo cáo nghèo đa chiều năm 2017 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, CAF, Tổng cục Thống kê, Mekong Economics và UNDP công bố đã phân tích sâu sắc thực trạng các chiều thiếu hụt của người dân tộc thiểu số và người khuyết tật. Đánh giá của Lo Thi Duc (2019) khẳng định sự cần thiết phải bổ sung các chiều đo lường mới như dinh dưỡng, việc làm và bảo hiểm xã hội cho giai đoạn sau năm 2020.
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa phương pháp đo lường của Alkire - Foster và cấu trúc chỉ số MPI toàn cầu, đồng thời giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng cách đề xuất bộ chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều gồm 5 chiều và 12 chỉ tiêu thành phần có tính đến đặc thù vùng núi; trực tiếp bóc tách, phân tích bộ số liệu vi mô VHLSS 2016 và 2018 trên địa bàn tỉnh Lào Cai và vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm
Luận án dựa trên ba trường phái lý thuyết chính:
- Trường phái Phúc lợi (Welfare approach): Coi nghèo là tình trạng cá nhân không đạt được mức phúc lợi kinh tế (mức sống) tối thiểu cần thiết; đo lường chủ yếu qua thu nhập và chi tiêu.
- Trường phái Nhu cầu cơ bản (Basic needs approach): Coi nghèo là sự thiếu hụt các hàng hóa, dịch vụ cơ bản thiết yếu gồm lương thực, nước sinh hoạt, điều kiện vệ sinh, nhà ở, y tế, giáo dục và giao thông công cộng.
- Trường phái Năng lực (Capability approach): Khởi xướng từ các nghiên cứu kinh tế học phát triển thập niên 1980, quan niệm nghèo là sự thiếu thốn các năng lực cơ bản để một cá nhân có được quyền tự do lựa chọn và theo đuổi cuộc sống mà họ mong muốn; tập trung vào việc trao cơ hội, tăng cường khả năng tự chủ và quyền tham gia xã hội.
Trên cơ sở tổng hợp lý luận, tác giả định nghĩa nghèo đa chiều là sự thiếu hụt của con người ở nhiều khía cạnh cơ bản và nâng cao của cuộc sống, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ, bao gồm mức thu nhập tối thiểu, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, thông tin) và các nhu cầu phát triển năng lực (được tham gia, có tiếng nói, được tôn trọng, có mạng lưới an sinh chống đỡ rủi ro).
Khung phân tích và cách tiếp cận
Luận án kết hợp bốn cách tiếp cận: tiếp cận từ khái quát đến thực tiễn, tiếp cận hệ thống, tiếp cận phát triển bền vững và tiếp cận từ nhu cầu (dựa trên tháp nhu cầu Maslow để xem xét mức độ thiếu hụt từ sinh học, an toàn đến tham gia xã hội).
Khung phân tích của luận án kết nối các công trình nghiên cứu và bài học kinh nghiệm quốc tế (Trung Quốc, Hàn Quốc, các nước ASEAN) để xác định khoảng trống; từ đó tiến hành đánh giá thực trạng nghèo đa chiều qua 5 chiều chỉ tiêu tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc (nghiên cứu điển hình tỉnh Lào Cai), phân tích 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng, làm cơ sở đề xuất 6 nhóm giải pháp giai đoạn 2021 - 2030.
Dữ liệu và phương pháp thu thập
- Dữ liệu thứ cấp:
- Dữ liệu vi mô từ Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2016 và 2018 do Tổng cục Thống kê thực hiện. Cỡ mẫu VHLSS toàn quốc gồm 46.995 hộ dân cư. Mẫu khảo sát riêng cho tỉnh Lào Cai là 510 hộ/năm, phân bổ trên 34 địa bàn, bảo đảm tính đại diện cấp tỉnh cho các chỉ tiêu thu nhập, y tế, giáo dục, nhà ở và tiếp cận thông tin.
- Các báo cáo chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình 135, báo cáo định kỳ giai đoạn 2011 - 2015 và 2016 - 2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và UBND tỉnh Lào Cai.
- Dữ liệu sơ cấp:
Tác giả tiến hành điều tra bằng bảng hỏi bắt đầu từ năm 2018 đối với 60 đối tượng chuyên gia và cán bộ thực tiễn nhằm thu thập ý kiến đánh giá về hệ thống chỉ tiêu đo lường, tính hiệu quả của chính sách và các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều.
| TT |
Nhóm đối tượng điều tra |
Số lượng (người) |
Cơ quan, đơn vị công tác |
| 1 |
Công chức, viên chức cấp Trung ương |
15 |
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội |
| 2 |
Công chức, viên chức tỉnh Lào Cai |
35 |
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn |
| 3 |
Các nhà khoa học, chuyên gia |
10 |
Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Trường Đại học Lao động - Xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Chính sách và Phát triển, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính |
| Tổng |
|
60 |
|
Bộ chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều đề xuất
Luận án đề xuất bộ chỉ tiêu mới gồm 5 chiều và 12 chỉ tiêu thành phần, có bổ sung 2 chiều quan trọng là chiều Thu nhập và chiều Tiếp cận an sinh xã hội:
| TT |
Chiều nghèo |
Các chỉ tiêu thành phần |
| 1 |
Y tế |
- Tiếp cận các dịch vụ y tế - Bảo hiểm y tế |
| 2 |
Giáo dục |
- Trình độ giáo dục của người lớn - Tình trạng đi học của trẻ em |
| 3 |
Điều kiện sống |
- Chất lượng nhà ở - Diện tích nhà ở bình quân đầu người - Nguồn nước sinh hoạt - Hố xí/Nhà tiêu hợp vệ sinh - Sử dụng dịch vụ viễn thông - Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin |
| 4 |
Thu nhập (bổ sung mới) |
- Thu nhập bình quân đầu người/tháng |
| 5 |
Tiếp cận bảo hiểm xã hội (bổ sung mới) |
- Bảo hiểm xã hội |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình và hướng nghiên cứu của luận án
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước về bản chất nghèo đói và các phương pháp đo lường nghèo đa chiều. Tác giả phân tích tiến trình dịch chuyển học thuật từ nghèo đơn chiều (đo bằng tiền tệ, chi tiêu) sang nghèo đa chiều (dựa trên nhu cầu cơ bản và năng lực cá nhân). Qua rà soát, chương này chỉ rõ các nghiên cứu trước đây chưa lượng hóa đầy đủ đặc thù vùng miền núi và chưa khai thác sâu bộ dữ liệu vi mô hộ gia đình của VHLSS. Trên cơ sở đó, chương 1 xác lập mục tiêu nghiên cứu, hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu, 4 cách tiếp cận, sơ đồ khung phân tích, thiết kế phương pháp thu thập số liệu thứ cấp (VHLSS 2016, 2018) và khảo sát sơ cấp đối với 60 cán bộ, chuyên gia từ năm 2018.
Chương 2: Cơ sở lý luận, chỉ tiêu đo lường và kinh nghiệm quốc tế về nghèo đa chiều
Chương 2 luận giải cơ sở lý luận về nghèo đa chiều thông qua ba trường phái: Phúc lợi, Nhu cầu cơ bản và Năng lực; phân tích vai trò của việc đo lường đa chiều trong việc nhận diện bản chất nghèo đói và định hướng chính sách. Chương làm rõ 4 đặc điểm của công tác giảm nghèo đa chiều: tính bao trùm lớn, đòi hỏi thực hiện đồng bộ, cần nhiều nguồn lực đầu tư và mang lại hiệu quả bền vững; xác định 3 nội dung phản ánh gồm thu nhập, phúc lợi dịch vụ và năng lực tự chủ. Về yếu tố ảnh hưởng, chương phân tích nhóm vị trí địa lý (khu vực hành chính, phát triển công nghiệp, quy hoạch dân cư, khoảng cách tiếp cận y tế - giáo dục) và nhóm điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, sinh vật, khoáng sản).
Chương 2 tổng kết kinh nghiệm thực tiễn giảm nghèo từ Trung Quốc (xóa nghèo chính xác, gắn phát triển kinh tế hạ tầng với chuyển dịch việc làm), Hàn Quốc (phong trào Saemaul Undong phát huy nội lực cộng đồng) và các quốc gia ASEAN (phát triển an sinh xã hội dựa vào cộng đồng). Từ đó, tác giả xây dựng bộ chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho vùng Trung du và miền núi phía Bắc và tỉnh Lào Cai gồm 5 chiều và 12 chỉ tiêu thành phần, đưa thêm chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người/tháng và bảo hiểm xã hội vào hệ thống đo lường.
Chương 3: Thực trạng nghèo đa chiều ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc: trường hợp tỉnh Lào Cai
Chương 3 trình bày các đặc điểm tự nhiên, địa hình chia cắt, thời tiết khắc nghiệt cùng thực trạng kinh tế - xã hội, dân số và cơ cấu lao động tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng. Khai thác dữ liệu VHLSS 2016 và 2018, chương phân tích chi tiết biến động của chỉ số nghèo đa chiều tổng hợp (MPI) và tỷ lệ thiếu hụt tại từng chiều, từng chỉ tiêu thành phần:
- Tình trạng thiếu hụt dịch vụ y tế và bảo hiểm y tế.
- Tình trạng đi học đúng tuổi của trẻ em và trình độ học vấn của người lớn (tỷ lệ thiếu hụt học vấn người lớn của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở mức cao).
- Thiếu hụt các điều kiện sống: chất lượng kết cấu nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, nhà tiêu hợp vệ sinh (chỉ số có tỷ lệ thiếu hụt cao nhất), việc sử dụng dịch vụ viễn thông và tài sản tiếp cận thông tin.
- Mức độ thiếu hụt về thu nhập bình quân đầu người và sự thiếu hụt nghiêm trọng trong tiếp cận hệ thống bảo hiểm xã hội của lao động nông thôn, vùng cao.
Chương 3 phân tích 5 nhóm yếu tố tác động đến nghèo đa chiều tại Lào Cai: vị trí địa lý xa xôi cách trở; thiên tai và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt; tiềm năng kinh tế phân tán; đặc điểm hộ gia đình (quy mô hộ đông con, tỷ lệ người phụ thuộc cao, trình độ chủ hộ thấp); cùng những vướng mắc trong cơ chế, chính sách hỗ trợ. Chương kết luận bằng việc đánh giá những thành tựu đạt được, chỉ ra các mặt tồn tại, hạn chế (lõi nghèo dân tộc thiểu số, nguy cơ tái nghèo do thiên tai, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ) và phân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan.
Chương 4: Giải pháp giảm nghèo đa chiều vùng Trung du và miền núi phía Bắc: trường hợp tỉnh Lào Cai
Chương 4 nhận định bối cảnh quốc tế và trong nước giai đoạn 2021 - 2030, tác động của hội nhập kinh tế và dịch bệnh. Tác giả xác lập 3 quan điểm chỉ đạo:
- Giảm nghèo của vùng phải đặt trong tổng thể chiến lược giảm nghèo quốc gia nhưng có cơ chế tính đến đặc thù vùng miền núi.
- Giảm nghèo bền vững trên mọi khía cạnh xã hội, bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng cho các nhóm yếu thế, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.
- Hoàn thiện công tác giám sát, đánh giá đáp ứng yêu cầu quản lý tiến bộ.
Chương định hướng lộ trình đo lường nghèo đa chiều cho giai đoạn 2021 - 2025 và 2026 - 2030, đồng thời đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện:
- Nhóm 1: Hoàn thiện thước đo nghèo đa chiều phù hợp thực tiễn vùng miền núi.
- Nhóm 2: Hoàn thiện hệ thống chính sách giảm nghèo đa chiều, tích hợp các chính sách phân tán, tránh chồng chéo đối tượng và nội dung hỗ trợ.
- Nhóm 3: Hoàn thiện hệ thống dữ liệu phục vụ giám sát và đánh giá chương trình, chính sách giảm nghèo (xây dựng hệ thống thông tin quản lý trợ giúp xã hội - MIS).
- Nhóm 4: Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo đa chiều, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở.
- Nhóm 5: Cải thiện môi trường kinh tế, hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và kết nối thị trường tiêu thụ nông sản cho vùng nghèo, hộ nghèo.
- Nhóm 6: Tăng cường tuyên truyền, đổi mới nhận thức nhằm khơi dậy ý chí chủ động vươn lên thoát nghèo của người dân, xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
Luận án đề xuất một bộ chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều mới gồm 5 chiều với 12 chỉ tiêu thành phần áp dụng cho vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Điểm mới về lý luận là việc bổ sung đồng thời chiều Thu nhập (chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người/tháng) và chiều Tiếp cận an sinh xã hội (chỉ tiêu bảo hiểm xã hội) bên cạnh ba chiều truyền thống là y tế, giáo dục và điều kiện sống. Đóng góp này phản ánh toàn diện các nấc thang nhu cầu phát triển của người nghèo vùng miền núi, khắc phục sự tách rời trước đây giữa tiêu chí thu nhập và các tiêu chí thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đây là công trình khai thác trực tiếp nguồn dữ liệu vi mô từ các cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS năm 2016 và 2018) để lượng hóa các chiều thiếu hụt, mang lại bức tranh thực chứng cập nhật về nghèo đa chiều tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc và tỉnh Lào Cai.
- Luận án phân tích mức độ tác động của các yếu tố địa lý, nhân khẩu học và chính sách đến tình trạng nghèo đa chiều của đồng bào dân tộc thiểu số.
- Các nhóm giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2021 - 2030 được thiết kế dựa trên sự kết hợp giữa định hướng giảm nghèo quốc gia với điều kiện đặc thù vùng miền núi, đóng góp căn cứ tham khảo trực tiếp cho các nhà quản lý trong việc thiết kế chính sách giảm nghèo giai đoạn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Nguồn số liệu vi mô hộ gia đình phục vụ phân tích thực trạng trong luận án dừng lại ở các cuộc điều tra VHLSS năm 2016 và 2018; chưa bao quát được các biến động kinh tế - xã hội phát sinh trong các năm tiếp theo.
- Địa bàn khảo sát sâu tập trung vào điển hình tỉnh Lào Cai; do đó một số đặc thù tiểu vùng khác tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc chưa được khảo sát chi tiết tương đương.
- Quy mô mẫu điều tra sơ cấp đối với cán bộ và chuyên gia là 60 người, phản ánh ý kiến chuyên gia ở phạm vi nhất định.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục cập nhật và kiểm chứng bộ chỉ tiêu 5 chiều 12 chỉ số với các bộ số liệu VHLSS các chu kỳ tiếp theo sau năm 2020.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực nghiệm, so sánh đối chứng giữa các tỉnh trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc (như các tỉnh Tây Bắc và Đông Bắc).
- Đánh giá hiệu quả thực tế của việc lồng ghép chỉ tiêu bảo hiểm xã hội và dịch vụ việc làm vào các chính sách giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 và 2026 - 2030.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng chính quyền các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc có thể tham khảo cơ sở khoa học để thiết kế các chính sách giảm nghèo đặc thù, tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu giám sát đánh giá chính sách.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý công, Chính sách công: Luận án cung cấp khung phân tích đa chiều hoàn chỉnh, phương pháp xử lý dữ liệu vi mô hộ gia đình từ điều tra VHLSS và quy trình vận dụng phương pháp Alkire - Foster vào phân tích thực tế cấp địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Bộ chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều do tác giả đề xuất có cấu trúc như thế nào?
Bộ chỉ tiêu gồm 5 chiều và 12 chỉ tiêu thành phần: chiều Y tế (tiếp cận dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế); chiều Giáo dục (trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em); chiều Điều kiện sống (chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, dịch vụ viễn thông, tài sản tiếp cận thông tin); chiều Thu nhập (thu nhập bình quân đầu người/tháng); và chiều Tiếp cận bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội).
2. Vì sao tác giả lựa chọn tỉnh Lào Cai làm địa bàn nghiên cứu điển hình cho vùng Trung du và miền núi phía Bắc?
Tỉnh Lào Cai hội tụ hai đặc trưng cơ bản: vừa có tỷ lệ lớn đồng bào dân tộc thiểu số gặp khó khăn về kinh tế mang tính đại diện cho tình trạng nghèo của vùng, vừa có sự phát triển kinh tế nhanh hơn một số tỉnh lân cận. Nhiều hộ gia đình tại Lào Cai đã vượt qua ngưỡng nghèo thu nhập nhưng vẫn thiếu hụt các chiều dịch vụ xã hội cơ bản, phù hợp để đánh giá bản chất nghèo đa chiều và dự báo xu hướng giảm nghèo của vùng trong tương lai.
3. Cơ cấu mẫu dữ liệu được sử dụng trong luận án gồm những nguồn nào?
Dữ liệu thứ cấp gồm mẫu vi mô VHLSS năm 2016 và 2018 (mẫu toàn quốc 46.995 hộ tại các địa bàn; mẫu Lào Cai gồm 510 hộ/năm trên 34 địa bàn). Dữ liệu sơ cấp gồm 60 người được phỏng vấn bằng bảng hỏi từ năm 2018, chia thành 3 nhóm: 15 cán bộ cấp Trung ương, 35 cán bộ cấp tỉnh Lào Cai và 10 chuyên gia, nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu, trường đại học.
4. Dữ liệu rà soát năm 2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phản ánh những thiếu hụt cơ bản nào tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc?
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc chiếm 42,3% tổng số hộ nghèo cả nước. Các tỷ lệ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo trong vùng gồm: hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh thiếu hụt 62,21%; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin thiếu hụt 30,24%; diện tích nhà ở thiếu hụt 30,08%; và trình độ giáo dục của người lớn thiếu hụt 13,95%.
5. Luận án đề xuất những quan điểm chỉ đạo nào cho công tác giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2030?
Luận án xác lập 3 quan điểm: (1) Giảm nghèo của vùng đặt trong bối cảnh quốc gia nhưng tính đến đặc thù vùng miền núi; (2) Giảm nghèo bền vững trên mọi khía cạnh và bảo đảm tiếp cận cho nhóm yếu thế; (3) Hoàn thiện công tác giám sát, đánh giá đáp ứng yêu cầu quản lý tiến bộ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Xuân Quyết đã hệ thống hóa các trường phái lý thuyết về nghèo đói và kinh nghiệm quốc tế để xây dựng bộ chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều gồm 5 chiều và 12 chỉ tiêu thành phần áp dụng cho vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Thông qua việc phân tích dữ liệu vi mô VHLSS 2016, 2018 và khảo sát chuyên gia tại tỉnh Lào Cai, công trình đã làm rõ thực trạng thiếu hụt dịch vụ xã hội, thu nhập và bảo hiểm xã hội, đồng thời xác định các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến nghèo đa chiều. Hệ thống 6 nhóm giải pháp do luận án đề xuất là nguồn tư liệu khoa học có giá trị phục vụ công tác hoạch định chính sách giảm nghèo bền vững cho giai đoạn 2021 - 2030.