Đặt vấn đề Bước sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề mang tính toàn cầu, đặc biệt là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển. Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia. Mỗi quốc gia muốn thực hiện được mục tiêu phát triển xã hội bền vững thì không thể không giải quyết vấn đề đói nghèo. Theo báo cáo năm 2014 được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố tại Tokyo ngày 24/7, số người nghèo và cận nghèo trên thế giới lên tới hơn 2,2 tỷ người và nếu dựa vào tiêu chuẩn của World Bank với mức thu nhập nghèo là 1.25 USD/người/ngày thì trong năm 2014 thế giới có 1,2 tỷ người nghèo (UNDP, 2014); các cuộc khủng hoảng tài chính, thiên tai, giá lương thực tăng và các cuộc xung đột có thể làm tình hình nghèo của các quốc gia ngày càng trở nên trầm trọng hơn.
Vì thế mục tiêu xóa đói giảm nghèo luôn được đặt ra hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Để đánh giá hiện trạng nghèo thì mỗi Quốc gia sẽ có cách đo lường nghèo riêng. Trong những năm trước đây nghèo thường được đo lường thông qua thu nhập hoặc chi tiêu. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền.
Người nghèo hay hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo. Cách thức đo lường này đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu bộc lộ những hạn chế do bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu trong thực tế (Bộ LĐTB&XH, 2015). Từ năm 2007, Alkire và Foster đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức đo lường mới về nghèo đói, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính đa chiều của nghèo đói. Cách thức đo lường này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số Nghèo đa chiều (MPI) lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo 2 Phát triển con người năm 2010 và được đề xuất áp dụng thống nhất trên thế giới sau năm 2015 để theo dõi, đánh giá đói nghèo.
Chỉ số tổng hợp này được tính toán dựa trên 3 chiều nghèo Y tế, Giáo dục và Điều kiện sống với 10 chỉ số về phúc lợi. Chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3 tổng số thiếu hụt và hiện nay đã có 32 nước trên thế giới (như Mexico, Colombia, Braxin, Costa Rica, Trung quốc.) đã nghiên cứu chuyển đổi và áp dụng phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang đo lường nghèo đa chiều trong đo lường và giám sát nghèo, xác định đối tượng nghèo, đánh giá và xây dựng các chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội (Bộ LĐTB&XH, 2015). Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về xóa đói giảm nghèo và được đánh giá là một trong những nước có công tác xoá đói giảm nghèo tốt nhất theo tiêu chuẩn và phương pháp xác định đường nghèo khổ của WB. Theo báo cáo đánh giá về nghèo của Việt Nam do Ngân hàng thế giới công bố năm 2012 thì có hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát nghèo trong hai thập kỷ qua.
Nghèo đói ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng từ 60% từ đầu năm 1990 xuống còn 20,7% vào năm 2010; Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 12,6% năm 2011 xuống 11,1% năm 2012; 9,8% năm 2013; 8,4% năm 2014 và 7,0% năm 2015, bình quân mỗi năm trong 5 năm 2011-2015 tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,44 điểm phần trăm (Tổng cục thống kê, 2016). Tuy nhiên, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo ở nước ta chủ yếu thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền. Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo.
Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định và chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới. Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2011). Do đó, việc đổi mới phương pháp tiếp cận, đo lường nghèo theo đa chiều để đánh giá một cách toàn diện hơn kết quả giảm nghèo của cả nước cũng như từng địa 3 phương, làm cơ sở để ban hành các chính sách giảm nghèo phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cũng như phân bổ ngân sách hợp lý, hiệu quả hơn đang được các cấp, các ngành quan tâm và chủ trương thực hiện trong thời gian tới. Không nằm ngoài thực trạng chung của cả nước, Duyên Hải là huyện có tỷ lệ hộ nghèo khá cao.
Người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, trình độ dân trí thấp, thiếu đất sản xuất; đất đai phần lớn nhiễm phèn, nhiễm mặn, kém màu mở, tập quán sản xuất còn lạc hậu nên năng suất thấp; đời sống vật chất – tinh thần còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống chưa thể ngang bằng được so với các vùng miền trong cả nước. Công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Duyên Hải thời gian qua chỉ mới tập trung vào mục tiêu nâng cao thu nhập cho người nghèo, hộ nghèo mà chưa tiếp cận theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều để đánh giá hiện trạng nghèo và thực hiện công tác giảm nghèo cho người nghèo trên địa bàn huyện. Với tỷ lệ hộ nghèo đầu năm 2016 là 25,01% (với 5.079 hộ nghèo), hộ cận nghèo chiếm 10,7% dân số (với 2.168 hộ) huyện Duyên Hải đã là huyện nghèo, huyện khó khăn của tỉnh Trà Vinh và nếu áp dụng theo phương pháp đo lường nghèo đa chiều thì khả năng hộ nghèo trên địa bàn huyện Duyên Hải sẽ thay đổi so với con số hiện tại, điều này sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho Duyên Hải trên đường phát triển nếu không giải quyết được con số nghèo theo dự kiến. Do đó, việc áp dụng chỉ số đo lường nghèo đa chiều để đánh giá hiện trạng nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Duyên Hải, con số này thay đổi ra sao so với hiện tại và những giải pháp gì để giảm nghèo đang là vấn đề mang tính cấp thiết nhất hiện nay đối với chính quyền các cấp của huyện Duyên Hải trong việc giải quyết bài toán giảm nghèo, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển trong thời gian tới.
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài Nghiên cứu nghèo theo cách tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Duyên Hải – tỉnh Trà Vinh để làm vấn đề nghiên cứu của mình. Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung 4 Xác định các thước đo đánh giá nghèo đa chiều và hàm ý chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Duyên Hải – tỉnh Trà Vinh.2 Mục tiêu cụ thể (i) Xác định các thước đo đánh giá nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Duyên Hải – tỉnh Trà Vinh. (ii) Nhận diện các yếu tố tương quan đến nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Duyên Hải. (iii) Hàm ý chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Duyên Hải.
Câu hỏi nghiên cứu (i) Có phải đánh giá theo cách tiếp cận Nghèo đa chiều thì tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện sẽ tăng lên? (ii) Yếu tố nào tương quan đến nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Duyên Hải? (iii) Hàm ý chính sách nào để giảm nghèo trên địa bàn huyện Duyên Hải? 1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là Thước đo đánh giá nghèo đa chiều và hàm ý chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Duyên Hải – tỉnh Trà Vinh. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: nghiên cứu các hộ gia đình trên địa bàn huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Phạm vi thời gian: Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo và các số liệu thống kê giai đoạn 2010-2016 và các số liệu thu thập thực tế từ kết quả phỏng vấn mẫu các hộ trên địa bàn huyện Duyên Hải trong năm 2016. Phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở dữ liệu: Đề tài sử dụng 2 nguồn dữ liệu đó là (i) dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo của địa phương có liên quan đến đề tài và (ii) nguồn dữ liệu sơ cấp bao gồm thông tin, số liệu tác giả thu thập được thông qua khảo sát thực tế tại huyện Duyên Hải. 5 Phƣơng pháp phân tích: đề tài sử dụng phương pháp chính là thống kê mô tả và các kiểm định thống kê để xác định tỷ lệ nghèo đa chiều và các yếu tố tương quan với nghèo đa chiều. Cấu trúc đề tài Nhằm giúp cho người đọc nắm rõ các vấn đề và kết quả của quá trình nghiên cứu, nội dung đề tài được trình bày bao gồm 5 chương như sau: Chƣơng 1: Giới thiệu.
Giới thiệu các nội dung tổng quát của đề tài, tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, bối cảnh, mục tiêu, câu hỏi, cũng như sơ lược về phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan. Ở chương này, tác giả đưa ra các khái niệm về nghèo, các lý thuyết đo lường nghèo, các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan để làm cơ sở rút ra khung phân tích của đề tài. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu.
Nội dung chương này nêu ra các mô hình nghiên cứu, số lượng mẫu, phương pháp thu thập, xử lý số liệu và tính toán các chỉ số đo lường nghèo đa chiều theo các nhóm chỉ tiêu. Đồng thời, đưa ra quy trình phân tích của đề tài. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này sẽ tập trung vào việc mô tả tổng quát thực trạng nghèo của hộ gia đình ở Duyên Hải.
Phân tích các chiều thiếu hụt, các tiếp cận về các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình trên địa bàn huyện theo các nhóm chỉ tiêu trong phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều, nhận diện các yếu tố tương quan đến nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Duyên Hải. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị. Nội dung chương sẽ tóm lược lại một cách khái quát những kết quả quan trọng của đề tài và vận dụng kết quả này vào tình hình thực tế để đề xuất một số khuyến nghị về các hàm ý chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện.