Chương 1 đã trình bày các nội dung: lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài và thực trạng của đề tài nghiên cứu. Tiếp theo chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết về mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế. 10 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này trình bày các lý thuyết về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế, gồm: Định nghĩa, cách đo lường và các nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng thu nhập; định nghĩa, cách đo lường và các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế; các lý thuyết về mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế; các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài. Bên cạnh đó, đề tài cũng nêu rõ về thực trạng mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế tại các địa phương Việt Nam.
Bất bình đẳng thu nhập 2. Một số khái niệm Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Thế giới (OECD), bất bình đẳng thu nhập là sự khác biệt trong cách phân phối tài sản, sự giàu có, hoặc thu nhập giữa các cá nhân hoặc nhóm người. Nó cũng được mô tả như là khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, sự chênh lệch, sự giàu có và khác biệt thu nhập, hay còn gọi là khoảng cách giàu nghèo. Thu nhập được xác định là thu nhập hộ gia đình trong một năm cụ thể.
Nó bao gồm các khoản thu nhập và các khoản đóng góp Bảo hiểm xã hội chi trả của hộ gia đình được khấu trừ. Thu nhập của hộ gia đình được gán cho mỗi thành viên của mình, với một điều chỉnh để phản ánh sự khác biệt trong nhu cầu cho hộ gia đình với các kích cỡ khác nhau. Việc quá công bằng trong việc phân phối thu nhập cũng không phải là điều tốt đối với hiệu quả kinh tế, điển hình là các quốc gia xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam thời kỳ trước đổi mới với quan điểm “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, điều này khiến cho con người mất đi động lực phấn đấu khi tham gia vào các hoạt động kinh tế- xã hội. Biểu hiện là: sự thiếu kỷ luật trong công tác, năng suất lao động thấp, con người mất đi tính sáng tạo…những điều này làm tăng trưởng kinh tế chậm, một trong những nguyên 11 nhân làm cho nghèo đói gia tăng.
Tuy nhiên, quá bất bình đẳng trong thu nhập sẽ gây mất ổn định xã hội, cản trở tiến bộ của khoa học công nghệ và kiềm hãm sự phát triển. Các nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng thu nhập Bất bình đẳng thu nhập là vấn đề tồn tại do lịch sử để lại đồng thời hiện hữu cùng với sự phát triển của các quốc gia. Việc giảm thiếu tỷ lệ bất bình đẳng trong thu nhập trở thành mục tiêu hàng đầu của các Chính phủ. Ở mỗi quốc gia, tình trạng bất bình đẳng thu nhập biểu hiện ở mỗi mức độ khác nhau do phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Theo Mankiw (2008), bất bình đẳng thu nhập bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân và các nguyên nhân có thể riêng biệt hoặc đan xen lẫn nhau, tuy nhiên về cơ bản có thể quy tụ thành 2 nhóm nguyên nhân chính là tài sản và lao động: Một là, bất bình đẳng thu nhập từ tài sản: trong nền kinh tế thị trường, mỗi cá nhân được phân phối quyền sở hữu các yếu tố sản xuất. Tùy theo giá trị mà các yếu tố này được định giá trên thị trường mà chúng có những ảnh hưởng khác nhau đến mức thu nhập của mỗi cá nhân. Đây là cách phân phối theo sở hữu nguồn lực hay phân phối theo tài sản mà tài sản này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, như: thừa kế tài sản, sự tích lũy của cá nhân thông qua hành vi tiêu dùng và tiết kiệm, kết quả sản xuất kinh doanh. Trong đó, kết quả từ sản xuất kinh doanh là cách quan trọng nhất để gia tăng thu nhập và tăng tài sản của mỗi cá nhân.
Hai là, bất bình đẳng thu nhập từ lao động: Kết quả điều tra của WB và ILSSA cho thấy: “bất bình đẳng giữa giàu và nghèo phần nào do tài năng và sự chăm chỉ” (World Bank, 2014), nguồn lực cơ bản để tạo ra thặng dư xã hội chính là lao động. Tuy nhiên kỹ năng, điều kiện và tính chất nghề nghiệp của mỗi lao động là khác nhau nên sẽ dẫn đến những khác nhau trong thu nhập. Những khác biệt về thu nhập từ lao động bắt nguồn từ sự khác nhau của: khả năng và kỹ năng lao động; cường độ làm việc; tính chất nghề nghiệp; sự phân biệt đối xử trong xã hội do tính chất không hoàn hảo của thị trường…. Đo lường bất bình đẳng Các thước đo bất bình đẳng phụ thuộc vào mức thu nhập/tiêu dùng trung bình trong một nước và sự phân phối thu nhập/tiêu dùng trung bình đó.
Có nhiều thước đo bất bình đẳng khác nhau, thông thường các quốc gia thường sử dụng các thước đo đường cong Loren, hệ số Gini, tiêu chuẩn “40” của World Bank, và hệ số giãn cách thu nhập. Cụ thể như sau: a. Đường cong Lorenz: Theo Perkin và ctg (2005), thước đo này được giới thiệu trên một bài báo đăng vào năm 1905 bởi chính tác giả- nhà thống kê học đầu tiên Max Lorenz. Theo đó người có thu nhập được sắp xếp theo trình tự từ mức thu nhập thấp nhất đến mức thu nhập cao nhất và biểu thị trên trục hoành.
Bản thân đường cong này cho biết tỷ lệ phần trăm tổng thu nhập được nhận bởi một phần trăm cộng dồn nhất dịnh những người có thu nhập. Hình dạng đường cong cho biết mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Theo định nghĩa đường cong phải cắt với đường thẳng 450 ở cả góc thấp nhất bên trái (0% dân số phải nhận 0% thu nhập) và góc trên cùng bên phải (100% dân số phải nhận được 100% thu nhập). Có hai thái cực xảy ra: sẽ là bình đẳng tuyệt đối nếu mọi người đều có thu nhập như nhau, đường Lorenz trùng với đường thẳng 450.
Sẽ là bất bình đẳng tuyệt đối nếu chỉ một gia đình có thu nhập và tất cả các hộ gia đình khác đều không thì đường cong trùng với đường viền đáy và bên phải đồ thị. Tuy nhiên, trong thực tế đường Lorenz bao giờ cũng nằm giữa đường bình đẳng tuyệt đối và đường bất bình đẳng tuyệt đối, đường Lorenz càng xa đường bình đẳng tuyệt đối khi bất bình đẳng càng lớn 13 Hình 2. Đường cong Lorenz % Thunhập O’ 100 Đường Đường bình đẳng cong Lorenz 50 30 10 O % Dân số Đường cong Lorenz là công cụ tiện lợi, giúp xem xét mức độ bất bình đẳng thu nhập một cách trực quan thông qua hình dạng của đường cong, tuy nhiên vì trực quan nên công cụ này còn quá đơn giản không thể đưa ra các kết luận chính xác trong những trường hợp phức tạp do chưa lượng hóa được mức độ bất bình đẳng (Hoàng Thủy Yến, 2015). Hệ số Gini (G) Thước đo này mang tên nhà thống kê học người Ý- Corrado Gini có thể suy ra từ đường Lorenz.
Hệ số này được hiểu một cách đơn giản nhất là giá trị phần diện tích giữa đường thẳng 450 và đường Lorenz, phần diện tích này càng lớn thì giá trị của hệ số Gini càng cao. Về mặt lý thuyết, hệ số Gini nhận các giá trị từ 0 (bình đẳng tuyệt đối) đến 1 (bất bình đẳng tuyệt đối). Trên thực tế, giá trị đo được trong phân phối thu nhập quốc dân đều có miền giá trị hẹp hơn nhiều, thường từ khoảng 0,25 đến 0,6 (Perkin và ctg, 2005). Còn về mặt số học, theo Tổng cục thống kê Việt Nam hệ số Gini được tính như sau: 14 ∑( )( ) trong đó: Fi là phần trăm cộng dồn dân số đến người thứ i Yi là phần trăm cộng dồn thu nhập (chi tiêu) đến người thứ i Những quốc gia có mức chênh lệch thu nhập lớn, hệ số Gini nằm từ khoảng 0,5 đến 0,7; còn ở những quốc gia có phân phối thu nhập tương đối công bằng thì hệ số Gini dao động từ 0,2 đến 0,5.
Do có thể đo lường được mức độ bất bình đẳng thu nhập giúp cho việc so sánh mức độ bất bình đẳng thu nhập theo thời gian hay theo không gian dễ dàng hơn nên hệ số Gini đã khắc phục được các nhược điểm của đường Lorenz. Tuy nhiên, cũng có lúc không thể so sánh được sự khác nhau khi diện tích giữa đường thẳng 450 và đường Lorenz nhưng sự phân bố các nhóm dân cư có thu nhập khác. Tiêu chuẩn “40” của World Bank Năm 2002, World Bank đề xuất chỉ tiêu đánh giá tình trạng bất bình đẳng: tỷ lệ thu nhập chiếm trong tổng thu nhập dân cư của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội. Theo chỉ tiêu này có 3 mức độ bất bình đẳng; cụ thể: - Tình trạng bất bình đẳng cao: khi hơn 17% tổng thu nhập được tạo nên bởi thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội.
- Tình trạng bất bình đẳng tương đối: khi từ 12%-17% tổng thu nhập được tạo nên bởi thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội. - Tình trạng bất bình đẳng thấp: thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 12% tổng thu nhập. Hệ số giãn cách thu nhập: 15 Hệ số giãn cách thu nhập được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu để đánh giá tình trạng bất bình đẳng thu nhập. Chỉ tiêu này được xác định bởi mức chênh lệch thu nhập của 20% dân số có thu nhập cao nhất và 20% dân số có thu nhập thấp nhất.
Tình trạng bất bình đẳng càng cao khi hệ số giãn cách thu nhập càng lớn (Perkin và ctg, 2005). Bên cạnh các thước đo trên, tỷ lệ nghèo đói cũng được sử dụng khá rộng rãi để đánh giá phân phối thu nhập. Ngưỡng nghèo đói là tỷ lệ phần trăm dân số có thu nhập thấp hơn một giá trị tuyệt đối nào đó- mức thu nhập tối thiểu cần thiết đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản như lương thực, quần áo, nhà ở…và những điều kiện đảm bảo cho con người có thể tiếp tục tồn tại. Trong khuôn khổ đề tài này, chỉ tiêu được sử dụng để đo lường bất bình đẳng thu nhập là hệ số Gini.
Tăng trưởng kinh tế 2.